- Tranh chấp gì? Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu — án lao động — "Ông Thạch C yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu"
- Tòa quyết gì? 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 33/2025/QĐST-LĐ | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 8 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG
V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Kiều Thị Uyên
Thư ký phiên họp: Ông Hoàng Ngọc Linh - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên họp: Bà Bùi Thanh Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân khu vực 16 - Thành phố Hồ
Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 116/2025/TLST-VLĐ ngày 30 tháng 7 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 37/2025/QĐST-LĐ ngày 08 tháng 8 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Ông Thạch C, sinh năm 1987; địa chỉ: Ấp S, xã T, huyện T, tỉnh
Trà Vinh, có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi,nghĩa vụ liên quan:
1. Công ty TNHH Q; địa chỉ: Đường số D, KCN Đ, khu P, phường B, Thành phố
Hồ Chí Minh, vắng mặt;
2. Ông Thạch T; sinh năm 1984; địa chỉ: Ấp S, xã T, tỉnh Vĩnh Long là người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, có đơn xin giải quyết vắng mặt.
3. Bảo hiểm xã hội cơ sở L thuộc Bảo hiểm xã hội Thành phố H, địa chỉ: đường N,
khu phố B, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:
- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải
quyết ông Thạch C trình bày:
Từ tháng 11 năm 2015 đến tháng 02 năm 2019 ông Thạch C có làm việc tại
Công ty cổ phần S, địa chỉ: A, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tinh B (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh) và từ tháng 8/2019 tháng 2/2024, ông Thạch C làm việc tại Công ty Cổ phần H có địa chỉ phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh), tôi có đóng bảo hiểm xã hội mã số: 8421475902. Sau khi nghỉ việc tôi tiến hành điều chỉnh thông tin bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế thì bên Bảo hiểm xã hội rà soát và phát hiện hồ sơ bảo hiểm của tôi có một số sổ bảo hiểm đã tham bảo hiểm xã hội từ tháng 8/2009 đến tháng 11/2010 với mã số bảo hiểm là 7409234737, tại Công ty TNHH Q; địa chỉ: Đường số D, KCN Đ, khu phố Đ, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Lý do ông Thạch C có 02 số sổ bảo hiểm vì thời điểm năm 2009 anh trai ông C
là Thạch T bị mất căn cước công dân nên mượn và sử dụng thông của ông Thạch C để giao kết Hợp đồng lao động với Công ty TNHH Q; địa chỉ: Đường số D, KCN Đ, khu phố Đ, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh với mã số bảo hiểm là 7409234737 từ tháng 8 năm 2009 đến tháng 11/2010.
Vì vậy, nay ông Thạch C yêu cầu Tòa án nhân dân Khu vực 16 - Thành phố Hồ
Chí Minh giải quyết: Tuyên Hợp đồng lao động giữa Thạch C (do ông Thạch T ký kết) với mã số Bảo hiểm xã hội: 7409234737 và Công ty TNHH Q; địa chỉ: Đường số D, KCN Đ, khu phố Đ, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh vô hiệu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Thạch T trình bày:
Ông là anh trai của Thạch C, vào thời điểm năm 2009, ông Thạch T bị mất chứng
minh nhân dân nên không đủ điều kiện để ứng tuyển lao động, do không hiểu biết về mặt pháp luật nên ông Thạch T1 đã đã mượn hồ sơ và thông tin cá nhân của em trai là Thạch C, sinh năm 1987 để làm hồ sơ lao động.
Tôi đã mượn thông tin cá nhân của Thạch C, sinh năm 1987 và đã làm việc tại
Công ty TNHH Q; địa chỉ: Đường số D, KCN Đ, khu phố Đ, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh khoảng từ tháng 9 năm 2009 đến tháng 11 năm 2010, đóng BHXH mã số: 7409234737, sau đó tôi nghỉ việc tại Công ty này. Vì vậy, ông Thạch C có 02 mã số bảo hiểm xã hội mã số 8421475902 và mã số 7409234737.
Nay, đối với yêu cầu của ông Thạch C về việc Tuyên Hợp đồng lao động giữa
Thạch C (do ông Thạch T ký kết) với mã số Bảo hiểm xã hội: 7409234737 và Công ty TNHH Q; địa chỉ: Đường số D, KCN Đ, khu phố Đ, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh vô hiệu thì tôi đồng ý.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH Q trình bày:
Công ty TNHH Q được tòa án thông báo nội dung khởi kiện và tống đạt Quyết
định mở phiên họp, nhưng không có ý kiến đối với yêu cầu của ông Thạch C, không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết việc lao động.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu (viết
tắt là BHXH) trình bày:
Bảo hiểm xã hội (BHXH) cơ sở Lái Thiêu nhận được thông báo số TB-TLVA
ngày 01/08/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh về việc tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cung cấp thông tin tham gia BHXH của ông Thạch C trong vụ án "Tranh chấp về hợp đồng lao động vô hiệu" giữa ông Thạch C với C1. BHXH cơ sở Lái Thiêu có ý kiến như sau:
Qua kiểm tra dữ liệu lưu trữ hiện có trên hệ thống của ngành BHXH, đối với
thông tin họ tên Ông Thạch C, sinh năm 09/01/1987, số chứng minh nhân dân xxxxxxxxx, số căn cước công dân xxxxxxxxxxxx có quá trình tham gia BHXH, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), ở các mã số BHXH như sau:
Mã số : 7409234737 được Công ty TNHH Q kê khai đóng BHXH, BHTN,
BHYT, BHTNLĐ-BNN tại BHXH tỉnh B từ tháng 08/2009 đến tháng 11/2010.
Mã số 8421475902 có quá trình tham gia từ tháng 11/2015 đến tháng 02/2019 tại
Tổng công Ty S1, từ tháng 08/2019 đến tháng 02/2024 tại Công ty cổ phần H.
- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí
Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị:
Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo
đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của ông Thạch C là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu ông Thạch C; người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Thạch T và người đại diện theo ủy quyền của Bảo hiểm xã hội cơ sở L có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Công ty TNHH Q vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.
Xem xét yêu cầu của đương sự:
Trong thời gian từ tháng 09/2009 đến tháng 11/2010, người lao động tên
Thạch C giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH Q và được Công ty TNHH Q tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7409234737. Tuy nhiên, ông C và ông T đều thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH Q và thực tế làm việc tại công ty T2 khoảng thời gian từ tháng 09/2009 đến tháng 11/2010 là ông Thạch T (do ông C cho ông T mượn chứng minh nhân dân).
Xét thấy, lời khai của ông C, ông T phù hợp với xác nhận của Bảo hiểm xã
hội cơ sở Lái Thiêu. Như vậy, chủ thể ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH Q trong khoảng thời gian tháng tháng 09/2009 đến tháng 11/2010 là ông Thạch T, không phải là ông Thạch C.
Theo khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 15 của Bộ
luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền” và điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L1 thì: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc ông T mượn hồ sơ cá nhân của ông C để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH số 7409234737 từ tháng 09/2009 đến tháng 11/2010 tại Công ty TNHH Q là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.
Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông Thạch C về
việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Thạch C với Công ty TNHH Q theo sổ bảo hiểm xã hội số 7409234737 bị vô hiệu.
Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem xét yêu
cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu:“... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của ông C và ý kiến của ông về việc xác định người lao động tại Công ty TNHH Q trong giai đoạn từ tháng 09/2009 đến tháng 11/2010 là ông Thạch T, không phải là ông Thạch C. Ông C có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại Sổ bảo hiểm xã hội mã số 7409234737.
kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố
tụng, quá trình tiến hành tố tụng c ng như di n biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về lệ phí: Ông Thạch C phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều 39;Điều
146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 17; khoản 2 Điều 19; Điều 50; Điều 51 và Điều 52 của Bộ
luật Lao động năm 2012;
- Căn cứ khoản 1 Điều 15; khoản 2 Điều 16; Điều 49; Điều 50 và Điều 51 của Bộ
luật Lao động năm 2019;
- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của ông Thạch C.
- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Thạch C với Công ty TNHH Q (theo sổ
bảo hiểm xã hội số 7409234737) bị vô hiệu.
- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7409234737 không phải là
ông Thạch C, sinh năm 1987, giới tính: Nam, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx. Ông Thạch C và ông Thạch T được quyền liên hệ với C2 có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7409234737.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Ông Thạch C phải chịu 300.000đ (ba
trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0003913 ngày 17/7/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo
trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND thành phố Dĩ An khu vực 16, TP. Hồ Chí Minh; - THA DS TP.Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu: HS. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Kiều Thị Uyên |