vanban.org

Bản án 33/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 2 - Huế, TP. Huế Tuyên án 29/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN PHÚ XUÂN
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HS-ST
Ngày: 09/5/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ XUÂN, THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thanh Ly.

Các Hội thẩm Nhân dân:

1. Ông Hoàng Trọng Minh Thông.

2. Ông Hồ Lâm Phúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án Nhân dân quận Phú Xuân, thành phố H.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân quận Phú Xuân, thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Kiều Anh Mỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2025, tại phòng xử án Tòa án Nhân dân quận Phú Xuân xét xử sơ thẩm công khai, trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số: 33/2025/HSST ngày 03/4/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 31/2025/QĐXXST-HS ngày 21/4/2025 đối với:

- Các bị cáo:

1. Nguyễn Quốc H, sinh ngày 20/12/1997 tại thành phố H.

Nơi thường trú: Số 1A/19 đường Văn Cao, phường Xuân Phú, quận Thuận Hóa, thành phố H; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ văn hóa: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo. Căn cước công dân số: 046097007305. Con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1959 và bà Tôn Nữ Thị L, sinh năm 1969; có vợ tên Nguyễn Thị Th, sinh năm 1998 và 01 người con. Tiền án: Bị cáo Nguyễn Quốc H có 3 tiền án, bao gồm:

- Ngày 23/11/2017 bị Tòa án Nhân dân thành phố H, tỉnh TTH xử phạt 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 265/2017/HSST.

- Ngày 11/10/2018 bị Tòa án Nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh TTH xử phạt 01 năm tù về tội “Hủy hoại tài sản” và tổng hợp hình phạt 06 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 265/2027/HSST ngày 23/11/2017 của Tòa án Nhân dân thành phố H, tỉnh TTH; buộc bị cáo Nguyễn Quốc H phải chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án là 01 năm 06 tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 42/2018/HSST của Toà án Nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh TTH (Bản án xác định tái phạm).

- Ngày 20/11/2018 bị Tòa án Nhân dân dân thành phố H, tỉnh TTH xử phạt 03 năm tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Tổng hợp hình phạt 01 năm 06 tháng tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 42/2018/HSST ngày 11/10/2018 của Tòa án Nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh TTH; buộc bị cáo Nguyễn Quốc H phải chấp hành hình phạt chung của 2 Bản án là 04 năm 06 tháng tù theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 224/2018/HS-ST và Thông báo sửa chữa, bổ sung Bản án số: 17/2019/TB-TA ngày 17/01/2019 của Toà án Nhân dân thành phố H, tỉnh TTH (Bản án xác định tái phạm), chấp hành xong án phạt tù ngày 06/8/2022. Tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 02/8/2024, tạm giam từ ngày 08/8/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an thành phố H. Có mặt.

2. Lê Đắc Ph, sinh ngày 14/02/2003 tại thành phố H.

Nơi thường trú: Số 03 đường Nhất Đông, phường An Đông, quận Thuận Hóa, thành phố H. Chỗ ở trước khi bị bắt: Số 02 kiệt 29 đường Trần Thanh Mại, phường An Đông, quận Thuận Hóa, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo. Căn cước công dân số: 046203004670, cấp ngày 31/5/2023 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an. Con ông Lê Đắc Dg (Chết) và bà Đỗ Thị H, sinh năm 1968; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không (Bị cáo Lê Đắc Ph đã bị kết án ngày 18/12/2020, nhưng là người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, chấp hành xong hình phạt chính ngày 27/5/2023; tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội ngày 02/8/2024 đã quá 01 năm nên đương nhiên xoá án tích theo điểm b khoản 2 Điều 107 Bộ luật Hình sự); tiền sự: Bị cáo Lê Đắc Ph có 01 tiền sự, ngày 24/4/2024 bị Trưởng Công an thị xã Hương Thủy, tỉnh TTH xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 6.500.000đ về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 000846/QĐ-XPHC; nhân thân: Ngày 18/12/2020 bị Tòa án Nhân dân thành phố H, tỉnh TTH xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 265/2020/HS-ST, chấp hành xong án phạt tù ngày 27/5/2023; chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 17/9/2024.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 02/8/2024, tạm giam từ ngày 08/8/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an thành phố H. Có mặt.

3. Nguyễn Văn H, sinh ngày 11/4/2000 tại thành phố H.

Nơi thường trú: Số 83 đường Lương Ngọc Quyến, phường Thuận Lộc, quận Thuận Hóa, thành phố H. Chỗ ở trước khi bị bắt: Số 41 đường Trần Nhật Duật, phường Tây Lộc, quận Phú Xuân, thành phố H; nghề nghiệp: Nhân viên quán Karaoke; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo. Căn cước công dân số: 046200009216, cấp ngày 09/8/2021 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an. Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965 và bà Trần Thị B, sinh năm 1966; chung sống như vợ chồng với chị Dương Thị Mỹ D, sinh năm 2005 và có 01 người con. Tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 02/8/2024, tạm giam từ ngày 08/8/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an thành phố H. Có mặt.

4. Đặng Văn H, sinh ngày 30/10/2003 tại thành phố H.

Nơi cư trú: Thôn Vinh Vệ, xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, thành phố H; nghề nghiệp: Nhân viên quán Karaoke; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo. Căn cước công dân số: 046203005623, cấp ngày 10/8/2021 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an. Con ông Đặng Thái S, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1964; Vợ, con: chưa có. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 02/8/2024, tạm giam từ ngày 08/8/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an thành phố H. Có mặt.

5. Dương Thị Mỹ Q, sinh ngày 17/11/1999 tại thành phố H.

Nơi cư trú: Thôn Tân Thọ, xã Bình Thành, thị xã Hương Trà, thành phố H; nghề nghiệp: Nhân viên quán Nail; trình độ văn hoá: Lớp 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Phật giáo. Căn cước công dân số: 046199004594, cấp ngày 15/8/2021 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an. Con ông Dương Văn S (Chết) và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1984. Có chồng tên Phạm Hữu Nhật T, sinh năm 1994 và 01 người con. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ từ ngày 02/8/2024, tạm giam từ ngày 08/8/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an thành phố H. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Quang H, sinh năm 1979.

Nơi cư trú: Số 12/24 đường Lê Thánh Tôn, phường Đông Ba, quận Phú Xuân, thành phố H. Vắng mặt.

2. Chị Trần Thị Tuyết Nh, sinh năm 2001.

Nơi cư trú: Số 58/131 đường Trần Phú, phường Phước Vĩnh, quận Thuận Hóa, thành phố H. Có mặt.

3. Chị Dương Thị Mỹ D, sinh năm 2005.

Địa chỉ: Số 338 đường Nguyễn Sinh Cung, phường Vỹ Dạ, quận Thuận Hoá, thành phố H. Có mặt.

4. Chị Trần Thị Thảo H, sinh năm 2006.

Nơi cư trú: Thôn Đại Độ, xã Hướng Phùng, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.

5. Cháu Trần Thị Bảo Ngọc, sinh năm 2008.

Nơi cư trú: Số 8/11 ngõ 1 kiệt 228 đường Bạch Đằng, phường Gia Hội, quận Phú Xuân, thành phố H. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp của cháu Trần Thị Bảo Ngọc: Bà Tôn Nữ Thị L. Nơi cư trú: Số 19 đường Văn Cao, phường Xuân Phú, quận Thuận Hóa, thành phố H là dì ruột của cháu Trần Thị Bảo Ng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 02 giờ ngày 02/8/2024, bị cáo Nguyễn Quốc H gọi điện thoại mời nhóm bạn về phòng trọ mình tại số: 08/11 ngõ 01 kiệt 228 đường Bạch Đằng, phường Gia Hội, thành phố H, tỉnh TTH (Hiện nay là phường Gia Hội, quận Phú Xuân, thành phố H) để nhậu gồm có: Các bị cáo Lê Đắc Ph, Nguyễn Văn H, Đặng Văn H và Dương Thị Mỹ Q; các chị Trần Thị Thảo H, Trần Thị Tuyết Nh, Dương Thị Mỹ D và cháu Trần Thị Bảo Ngọc. Đến khoảng 05 giờ sáng cùng ngày, cả nhóm thống nhất tiếp tục đi hát Karaoke; bị cáo Nguyễn Quốc H gọi điện thoại cho ông Nguyễn Quang H là chủ quán Karaoke “Kaly” tại địa chỉ số: 12/24 đường Lê Thánh Tôn, phường Đông Ba, thành phố H, tỉnh TTH (Hiện nay là phường Đông Ba, quận Phú Xuân, thành phố H) để đặt phòng. Ông Nguyễn Quang H đồng ý nên cả nhóm đi xe taxi qua quán và được ông Nguyễn Quang H đưa vào phòng số 04, tầng 2 quán Karaoke "Kaly". Tại đây, bị cáo Nguyễn Quốc H khởi xướng việc sử dụng chất ma túy nên cùng với các bị cáo Lê Đắc Ph, Nguyễn Văn H và Đặng Văn H bàn bạc, thống nhất một người góp 500.000đ để mua chất ma túy và giao cho bị cáo Lê Đắc Ph là người bỏ tiền mua chất ma túy trước; sau đó cùng nhau góp tiền chuyển khoản cho bị cáo Nguyễn Quốc H để bị cáo Nguyễn Quốc H trả lại cho bị cáo Lê Đắc Ph; 04 bị cáo Nguyễn Quốc H, Lê Đắc Ph, Nguyễn Văn H và Đặng Văn H thống nhất góp tiền hát Karaoke; còn 05 bạn nữ không góp tiền. Sau khi thống nhất thì bị cáo Lê Đắc Ph đón xe thồ đi đến đường Nguyễn Lộ Trạch, phường Xuân Phú, quận Thuận Hóa gặp một người nam thanh niên không rõ nhân thân, lý lịch đang đi xe máy không lắp biển số là người bán ma túy; bị cáo Lê Đắc Ph thỏa thuận mua nữa hộp năm ma túy dạng khay và 04 viên ma túy dạng kẹo với số tiền 2.000.000đ, rồi đón xe thồ về lại phòng Karaoke.

Khi bị cáo Lê Đắc Ph về đến phòng hát Karaoke thì bị cáo Nguyễn Quốc H đi xuống dưới quầy lễ tân nhìn thấy không có ai nên lấy 01 chiếc đĩa sứ màu trắng để xào, chẻ chất ma túy. Khi bị cáo Nguyễn Quốc H đi lấy chiếc đĩa sứ thì các bị cáo Nguyễn Văn H, Lê Đắc Ph, Đặng Văn H và Dương Thị Mỹ Q; các chị Dương Thị Mỹ D, Trần Thị Tuyết Nh, Trần Thị Thảo H và cháu Trần Thị Bảo Ngọc tự bẻ một phần tư (¼ ) viên ma túy dạng kẹo bỏ lon Cocacola để uống. Sau khi đi lấy chiếc đĩa sứ lên thì bị cáo Nguyễn Quốc H lấy bật lửa hơ nóng chiếc đĩa sứ rồi lấy trong túi 01 chiếc thẻ nhựa màu vàng và 01 tờ tiền được quấn tròn để trên bàn, khi chiếc đĩa sứ đã nóng thì bị cáo Nguyễn Quốc H đưa cho bị cáo Dương Thị Mỹ Q ngồi bên cạnh để bị cáo Dương Thị Mỹ Q lấy chất ma túy dạng khay, rồi tự tay đổ vào chiếc đĩa sứ, dùng chiếc thẻ nhựa màu vàng để xào, chẻ chất ma túy dạng khay ra từng đường cho cả nhóm thay nhau sử dụng; bị cáo Dương Thị Mỹ Q hít chất ma túy dạng khay 2 lần rồi để chất ma túy đã xào, chẻ sẵn trên mặt loa phía bên phải theo hướng từ ngoài nhìn vào trong phòng hát cho cả nhóm thay nhau sử dụng; đến khoảng 08 giờ 20 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang và tạm giữ số chất ma túy còn lại chưa kịp sử dụng hết.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy xác định các bị cáo Nguyễn Quốc H, Lê Đắc Ph, Nguyễn Văn H, Đặng Văn H và Dương Thị Mỹ Q; các chị Trần Thị Thảo H, Trần Thị Tuyết Nh, Dương Thị Mỹ D và cháu Trần Thị Bảo Ngọc đều dương tính với chất ma túy.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tạm giữ:

- 01 túi nilong màu trắng viền đỏ bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng mịn (Đã được niêm phong).

- 01 chiếc đĩa sứ màu trắng.

- 01 tờ tiền mệnh giá 20.000đ của bị cáo Nguyễn Quốc H.

- 01 chiếc thẻ nhựa màu vàng của bị cáo Nguyễn Quốc H.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone14 Promax, số sêri: F37292Y6J5, số máy MQ8Y3LL/A, màu trắng của bị cáo Dương Thị Mỹ Q.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone12 Promax, số sêri: GONFH9540D41 số máy MG9R3LL/A, màu gold của bị cáo Đặng Văn H.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone11, số máy MHDA3BR/A, số sêri: DV6GC15KN735, màu đen của bị cáo Nguyễn Văn H.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone12 Promax, số máy NG9D3LL/A, số sêri: HH6H821Y0D41, màu vàng gold của bị cáo Lê Đắc Ph.

Tại bản Kết luận giám định số: 554/KL-KTHS ngày 07/08/2024, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TTH kết luận:

- Chất tinh thể màu trắng gửi giám định có khối lượng 0,6917 gam là chất ma túy, loại Ketamine.

- Hoàn lại mẫu vật gửi giám định gồm: 0,5917 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng; các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định.

Tại bản Cáo trạng số: 32/CT-VKSPX ngày 01/4/2025, Viện kiểm sát Nhân dân quận Phú Xuân, thành phố H đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc H về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại các điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Lê Đắc Ph, Nguyễn Văn H, Đặng Văn H và Dương Thị Mỹ Q về tội tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát Nhân dân quận Phú Xuân giữ nguyên bản Cáo trạng truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình sự: Căn cứ các điểm b, h khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Quốc H; Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lê Đắc Ph, Nguyễn Văn H, Đặng Văn H và Dương Thị Mỹ Q, xử phạt:

- Bị cáo Nguyễn Quốc H từ 07 năm 09 tháng tù đến 08 năm tù.

- Bị cáo Lê Đắc Ph từ 07 năm 06 tháng tù đến 07 năm 09 tháng tù.

- Các bị cáo Nguyễn Văn H, Đặng Văn H và Dương Thị Mỹ Q mỗi bị cáo từ 07 năm tù đến 07 năm 03 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo Nguyễn Quốc H, Lê Đắc Ph, Nguyễn Văn H, Đặng Văn H và Dương Thị Mỹ Q.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 0,5917 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định; các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định; 01 chiếc đĩa sứ màu trắng và chiếc thẻ nhựa màu vàng.

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước tờ tiền Polyme mệnh giá 20.000đ.

- Trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone14 Promax, số sêri: F37292Y6J5, số máy MQ8Y3LL/A, màu trắng cho bị cáo Dương Thị Mỹ Q; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone12 Promax, số sêri: GONFH9540D41 số máy MG9R3LL/A, màu gold cho bị cáo Đặng Văn H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone11, số máy MHDA3BR/A, số sêri: DV6GC15KN735, màu đen cho bị cáo Nguyễn Văn H và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone12 Promax, số máy NG9D3LL/A, số sêri: HH6H821Y0D41, màu vàng gold cho bị cáo Lê Đắc Ph.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc Nguyễn Quốc H, Lê Đắc Ph, Nguyễn Văn H, Đặng Văn H và Dương Thị Mỹ Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ.

- Ý kiến tranh luận: Các bị cáo Nguyễn Quốc H, Lê Đắc Ph, Nguyễn Văn H, Đặng Văn H và Dương Thị Mỹ Q đồng ý với bản luận tội.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng truy tố. Các bị cáo ăn năn hối cải, không dám tái phạm và cam đoan cải tạo tốt. Mong muốn Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự. Người tham gia tố tụng không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau; với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử kết luận: Vào lúc 08 giờ 20 phút ngày 02/8/2024 tại phòng số 04 tầng 02 quán Karaoke “KaLy” thuộc phường Đông Ba, quận Phú Xuân, thành phố H; các bị cáo Nguyễn Quốc H, Lê Đắc Ph, Nguyễn Văn H, Đặng Văn H và Dương Thị Mỹ Q có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang; tạm giữ chất ma tuý loại Ketamine có khối lượng 0,6917g; công cụ sử dụng phục vụ cho việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngoài các bị cáo bị tạm giữ thì còn có chị Trần Thị Tuyết Nh, chị Dương Thị Mỹ D, chị Trần Thị Thảo H và cháu Trần Thị Bảo Ngọc. Kết quả xét nghiệm chất ma tuý đều cho kết quả dương tính; khối lượng chất ma túy, loại Ketamine chưa kịp sử dụng là 0,6917g.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng: Các bị cáo Nguyễn Quốc H, Lê Đắc Ph, Nguyễn Văn H, Đặng Văn H và Dương Thị Mỹ Q là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật; nhưng vì ham muốn cá nhân mà cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Quốc H, Lê Đắc Ph, Nguyễn Văn H, Đặng Văn H và Dương Thị Mỹ Q rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy; làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội nên phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng là phạm tội “Đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Quốc H có 03 tiền án; Bản án trước đây đã xác định là tái phạm nên lần phạm tội này bị cáo Nguyễn Quốc H phạm vào tình tiết định khung tăng nặng là“Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát Nhân dân quận Phú Xuân truy tố các bị cáo Nguyễn Quốc H, Lê Đắc Ph, Nguyễn Văn H, Đặng Văn H và Dương Thị Mỹ Q là đúng pháp luật, không oan sai.

Đối với 0,6917 gam chất ma tuý, loại Ketamine các bị cáo chưa sử dụng hết không đủ khối lượng để cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự nên không có căn cứ để xử lý.

[4] Đây là vụ án đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, không có sự tổ chức, câu kết chặt chẽ, xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy rằng:

- Bị cáo Nguyễn Quốc H là người khởi xướng việc sử dụng trái phép chất ma tuý, thống nhất cùng với các bị cáo Lê Đắc Ph, Nguyễn Văn H, Đặng Văn H góp mỗi người 500.000đ để mua chất ma tuý về sử dụng. Bị cáo Nguyễn Quốc H lấy 01 đĩa sứ màu trắng để xào, chẻ chất ma túy, sau đó bật lửa hơ nóng đĩa sứ, sử dụng 01 chiếc thẻ nhựa màu vàng và 01 tờ tiền quấn tròn để trên bàn, khi đĩa sứ nóng thì bị cáo Nguyễn Quốc H đưa cho bị cáo Dương Thị Mỹ Q xào, chẻ chất ma túy ra từng đường cho cả nhóm thay nhau sử dụng nên chịu trách nhiệm chính trong vụ án; bản thân bị cáo Nguyễn Quốc H phạm vào 02 tình tiết định khung tăng nặng; có 03 tiền án; nhân thân rất xấu nên mức hình phạt cao nhất.

- Bị cáo Lê Đắc Ph là người giúp sức tích cực khi đã bỏ tiền của mình mua ma túy trước và cũng là người trực tiếp đi mua ma túy cho cả nhóm sử dụng chung nên chịu trách nhiệm thứ hai sau bị cáo Nguyễn Quốc H; bị cáo có 01 tiền sự; có nhân thân xấu nên mức hình phạt đứng sau bị cáo Nguyễn Quốc H.

- Các bị cáo Nguyễn Văn H, Đặng Văn H là người chủ động cùng bàn bạc với đồng phạm thống nhất góp một người 500.000đ mua chất ma tuý về sử dụng chung nên có vai trò tương đương nhau; chịu trách nhiệm sau bị cáo Nguyễn Quốc H và bị cáo Lê Đắc Ph; các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu nên mức hình phạt tương đương nhau.

- Bị cáo Dương Thị Mỹ Q mặc dù không bàn bạc trước với các đồng phạm, nhưng sau khi có chất ma tuý thì cùng thống nhất ý chí sử dụng chung. Khi có chất ma tuý bị cáo Dương Thị Mỹ Q thực hành lấy chất ma túy đổ vào chiếc đĩa sứ; dùng chiếc thẻ nhựa màu vàng nghiền nhỏ chất ma túy rồi xào, chẻ chất ma túy thành từng đường nhỏ cho người khác thay nhau sử dụng nên vai trò đứng sau bị cáo Nguyễn Quốc H và bị cáo Lê Đăng Phương; tương đương với vai trò của bị cáo Nguyễn Văn H và bị cáo Đặng Văn H; bị cáo Dương Thị Mỹ Q có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu, là phụ nữ nên cũng cân nhắc khi quyết định mức hình phạt.

[5] Về biện pháp chất hành hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Hội đồng xét xử thấy rằng phải tiếp tục cách ly các bị cáo Nguyễn Quốc H, Lê Đắc Ph, Nguyễn Văn H, Đặng Văn H và Dương Thị Mỹ Q ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tiếp tục cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét cho các bị cáo Nguyễn Quốc H, Lê Đắc Ph, Nguyễn Văn H, Đặng Văn H và Dương Thị Mỹ Q thành khẩn khai báo, nhận thức được hành vi sai trái của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập, đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.

Đối với người nam thanh niên bán ma túy ở đường Nguyễn Lộ Trạch không biết rõ nhân thân, lý lịch nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với các chị Trần Thị Thảo H, Trần Thị Tuyết Nh, Dương Thị Mỹ D và Trần Thị Bảo Ngọc thì quá trình điều tra và tại phiên toà có căn cứ xác định không có vai trò đồng phạm. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh TTH Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Riêng cháu Trần Thị Bảo Ngọc tính đến thời điểm vi phạm mới chưa đủ 16 tuổi nên xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” cũng đủ tác dụng răn đe.

Đối với ông Nguyễn Quang H là chủ quán Karaoke để xảy ra vi phạm nên Cơ quan Công an thành phố H đề nghị Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân quận Phú Xuân xử phạt vi phạm hành chính số tiền 15.000.000đ; tước giấy phép kinh doanh thời hạn 09 tháng nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,5917g mẫu tinh thể rắn màu trắng là chất ma tuý; các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định; 01 chiếc đĩa sứ màu trắng và 01 chiếc thẻ nhựa màu vàng là vật cấm lưu hành, tàng trữ, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với 01 tờ tiền loại Polyme mệnh giá 20.000đ của bị cáo Nguyễn Quốc H sử dụng làm công cụ phạm tội, có giá trị sử dụng nên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone14 Promax, số sêri: F37292Y6J5, số máy MQ8Y3LL/A, màu trắng của bị cáo Dương Thị Mỹ Q; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone12 Promax, số sêri: GONFH9540D41 số máy MG9R3LL/A, màu gold của bị cáo Đặng Văn H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone11, số máy MHDA3BR/A, số sêri: DV6GC15KN735, màu đen của bị cáo Nguyễn Văn H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone12 Promax, số máy NG9D3LL/A, số sêri: HH6H821Y0D41, màu vàng gold của bị cáo Lê Đắc Ph không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho các bị cáo.

[7] Về án phí hình sự: Buộc Nguyễn Quốc H, Lê Đắc Ph, Nguyễn Văn H, Đặng Văn H và Dương Thị Mỹ Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ.

[8] Đối với đề nghị của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

- Căn cứ các điểm b, h khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Quốc H.

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lê Đắc Ph, Nguyễn Văn H, Đặng Văn H và Dương Thị Mỹ Q.

- Căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Các điểm a, c khoản 2; Điểm a khoản 3 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Quốc H, Lê Đắc Ph, Nguyễn Văn H, Đặng Văn H và Dương Thị Mỹ Q đều phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt, xử phạt:

- Bị cáo Nguyễn Quốc H 08 (Tám) năm 03 (Ba) tháng tù.

- Bị cáo Lê Đắc Ph 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù.

- Bị cáo Nguyễn Văn H 07 (Bảy) năm tù.

- Bị cáo Đặng Văn H 07 (Bảy) năm tù.

- Bị cáo Dương Thị Mỹ Q 07 (Bảy) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với tất cả các bị cáo kể từ ngày bị bắt tạm giữ (Ngày 02/8/2024).

Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo Nguyễn Quốc H, Lê Đắc Ph, Nguyễn Văn H, Đặng Văn H và Dương Thị Mỹ Q.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 0,5917g (Không phẩy năm chín một bảy gam) mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định; Các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định. Tất cả được niêm phong kín bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 chữ ký của Giám định viên Trần Nam, 02 chữ ký của Điều tra viên Hoàng Duy Tiến, 02 dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố H và dòng chữ "Hoàn mẫu vật vụ Nguyễn Quốc H và 08 người khác, bắt ngày 02/8/2024"; 01 chiếc đĩa sứ màu trắng và 01 chiếc thẻ nhựa màu vàng.

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước tờ tiền Polyme mệnh giá 20.000đ.

- Trả lại cho bị cáo Dương Thị Mỹ Q 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone14 Promax, số sêri: F37292Y6J5, số máy MQ8Y3LL/A, màu trắng.

- Trả lại cho bị cáo Đặng Văn H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone12 Promax, số sêri: GONFH9540D41, số máy MG9R3LL/A, màu gold.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone11, số máy MHDA3BR/A, số sêri: DV6GC15KN735, màu đen.

- Trả lại cho bị cáo Lê Đắc Ph 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone12 Promax, số máy NG9D3LL/A, số sêri: HH6H821Y0D41, màu vàng gold.

Các vật chứng nêu trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Xuân, thành phố H theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 01/4/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Xuân, thành phố H.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc Nguyễn Quốc H, Lê Đắc Ph, Nguyễn Văn H, Đặng Văn H và Dương Thị Mỹ Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ