vanban.org

Bản án 33/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hồ Tấn H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Xử phạt: Hồ Tấn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Hồ Tấn H về việc nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền 4.900.000 đồng thu lợi bất chính. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ho Tan Hung - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Tấn H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 33/2025/HS-ST
Ngày 12-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đặng Thị Ngọc Bích.

2. Bà Lê Thị Kim Ngàn.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Nguyên, thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 12/8/2025, Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 38/2025/HSST ngày 17 tháng 07 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hồ Tấn H; giới tính: Nam, sinh ngày 13/02/1960 tại Thành phố H; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 204/12 T, Phường C, Quận N, Thành phố H (nay là 204/12 T, Phường A, Thành phố H); Chỗ ở hiện nay: 52/14 Đường 17 L, Phường T, Quận B, Thành phố H (nay là 52/14 Đường 17 L, Phường T, Thành phố H); Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Con ông Hồ Văn U (đã chết), sinh năm 1922 và bà Lê Thị Th (đã chết), sinh năm 1929; Bị cáo là con thứ ba trong gia đình có 03 người con; Họ tên vợ: Lê Thị Xuân H, sinh năm 1959.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 05/01/2024, Công an Quận 1 xử lý vi phạm hành chính số 34/QĐ-XPHC đối với Hồ Tấn H về hành vi “Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu”, đã chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nộp phạt theo quy định (Biên lai thu phạt vi phạm hành chính số 0000773 ngày 19/01/2024).

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 08/9/2024, đồng chí Phan Thanh H (Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và chức vụ Công an Quận 1 và Công an Phường Phạm Ngũ L, Quận 1) đi tuần tra. Khi đến trước số 207 B, Phường Phạm Ngũ L, Quận 1 (nay là phường Bến T, Thành phố Hồ Chí M) phát hiện Hồ Tấn H đang có hành vi buôn bán thuốc lá điếu. Qua kiểm tra, thu giữ 89 bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại nên đồng chí Phan Thanh H liền thu giữ vật chứng, đưa H về Công an Phường Phạm Ngũ L, Quận 1 để làm rõ.

Ngày 03/10/2024, Hiệp hội thuốc lá Việt Nam có văn bản số 189/CV-2024HHTLVN xác định toàn bộ 89 bao thuốc lá điếu tạm giữ của Hồ Tấn H theo Bảng thống kê số 43032/BTK ngày 08/9/2024 của Công an Quận 1 là thuốc lá điếu nhập lậu.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1, Hồ Tấn H khai nhận số thuốc lá bị thu giữ là của H mua của 01 đối tượng nam (khoảng 30 đến 40 tuổi) không rõ nhân thân, lai lịch ở khu vực đường H, Phường 1x, Quận N, Thành phố H (nay là phường C, Thành phố H) với giá khoảng 1.700.000 đồng nhằm mục đích bán lại để kiếm lời. Từ tháng 6/2024, H đã bán thuốc lá lậu đến ngày bị bắt giữ và thu lợi bất chính 4.900.000 đồng.

Lời khai của H phù hợp với lời khai của nhân chứng cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập được.

Đối với đối tượng bán thuốc lá cho H (không rõ nhân thân, lai lịch) quá trình điều tra cũng không thu thập được tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét, khi có cơ sở sẽ xử lý sau.

*Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ 89 bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại của Hồ Tấn H theo Bảng thống kê số: 43032/BTK ngày 08/9/2024 của Công an Quận 1. Tất cả các vật chứng đã nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 44/LNK-ĐCSKT ngày 06 tháng 01 năm 2025.

- 01 (một) đĩa DVD ghi âm, ghi hình quá trình ghi lời khai của Hồ Tấn H (kèm theo hồ sơ vụ án).

Tại bản Cáo trạng số 24/CT-VKSKV1 ngày 16/7/2025 và tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố và kết luận bị cáo Hồ Tấn H đã phạm tội “Buôn bán hàng cấm” thuộc trường hợp “sản xuất, buôn bán hàng hóa dưới mức quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc một trong các điều 188, 189, 191, 192, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hồ Tấn H đã phạm tội “Buôn bán hàng cấm” thuộc trường hợp “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu và kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; đồng thời áp dụng tình tiết: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm e khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Hồ Tấn H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

Đối với vật chứng của vụ án, đề nghị Tòa án xử lý theo quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định: Từ tháng 6/2024 đến 08/9/2024, Hồ Tấn H đã có hành vi mua thuốc lá nhập lậu về để bán lại kiếm lời và thu lợi bất chính 4.900.000 đồng; mặc dù số thuốc lá bị thu giữ dưới mức quy định. Tuy nhiên, ngày 05/01/2024, H đã bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi “Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu” và “Kinh doanh hàng hoá không rõ nguồn gốc xuất xứ”, chưa được xóa tiền sự nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại được pháp luật bảo vệ, đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm e khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố; thống nhất Cáo trạng truy tố bị cáo tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm e khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đồng thời bị cáo Hồ Tấn H thống nhất với luận tội, lời nói sau cùng, bị cáo H xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi và nhận thức được rằng việc buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu là vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe người tiêu dùng, ảnh hưởng đến uy tín và hoạt động kinh doanh hợp pháp của các tổ chức kinh tế, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế, mà cụ thể là trật tự quản lý việc sản xuất buôn bán hàng hóa, chống hàng giả của các cơ quan quản lý Nhà nước.

Hành vi phạm tội của bị cáo H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý hàng cấm. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; ý thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý chỉ vì tư lợi cá nhân, muốn kiếm tiền nhanh mà không phải lao động nhiều. Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn nên đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 về việc không phạt bổ sung bị cáo là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về xử lý vật chứng:

- 89 bao thuốc lá điếu là hàng hóa nhập lậu nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) đĩa DVD ghi âm, ghi hình quá trình ghi lời khai Hồ Tấn Hùng, cần tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án.

. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận từ quá trình bán thuốc lá nhập lậu, bị cáo hưởng lợi số tiền 4.900.000 đồng. Do đó, bị cáo xin tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính 4.900.000 đồng vào Ngân sách Nhà nước. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của bị cáo.

Đối với đối tượng bán thuốc lá cho H (không rõ nhân thân, lai lịch) quá trình điều tra cũng không thu thập được tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra tiếp tục truy xét, khi có cơ sở sẽ xử lý sau..

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hồ Tấn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Hồ Tấn H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

1. Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Hồ Tấn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Hồ Tấn H về việc nộp vào Ngân sách Nhà nước số tiền 4.900.000 đồng thu lợi bất chính.

2. Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

+ Tịch thu, tiêu hủy 89 bao thuốc lá điếu là hàng hóa nhập lậu.

(theo Lệnh nhập kho vật chứng số 44/LNK-ĐCSKT ngày 06 tháng 01 năm 2025).

+ Lưu vào hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD ghi âm, ghi hình quá trình ghi lời khai Hồ Tấn H.

3. Căn cứ Điều 135; 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Hồ Tấn H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ