- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm tiền - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 37/…; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH TỈNH BÌNH THUẬN ---- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 33/2017/HSST. Ngày 25 - 12 - 2017. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
---
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến.
- Các Hội Thẩm nhân dân: 1/ Ông Dương Thế Hà.
2/ Ông Trần Quang Vinh
- Thư ký ghi biên bản: Ông Hồ Văn Khánh - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Phạm Đình Lắm - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 12 năm 2017, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 38/2017/HSST, ngày 16 tháng 11 năm 2017, đối với bị cáo:
- Họ và tên: Lê Thị Hường, sinh năm 1991 tại Bình Thuận; hộ khẩu tHtrú và chỗ ở: Khu phố T, thị trấn L, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Trần Văn Yên, sinh năm 1960 và bà Lê Thị Me, sinh năm 1961; chồng: Nguyễn Văn Cường, sinh năm 1989 hiện đang sống tại KP Trà Cụ - TT Lạc Tánh - Tánh Linh; con: Có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2016.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”: Có mặt.
Ng i b h i:
- Chị Mai Thị L, sinh năm 1982: Có mặt.
- Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985: Vắng mặt.
Cùng trú tại: Xóm 5 - KP. T - TT. L - Tánh Linh - Bình Thuận.
NHẬN THẤY:
Bị cáo Lê Thị Hbị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng 19h00’ ngà 08/10/2017, chị Mai Thị L chạy xe mô tô biển số 86B7-031.25 đến nhà mẹ ruột ở khu phố T thị trấn L chơi. Khi đến, chị L dựng xe mô tô trước nhà dì ruột của chị L tên là K, rồi chị L qua nhà bà Thị B chơi. Lúc nà , Lê Thị Hr ngồi lên xe mô tô của chị L xem các em nhỏ chơi nhảy dây thì H phát hiện cốp xe của chị L không khóa; H mở yên xe lên thì thấy có 01 cái ví da, H lấy ví da mở ra lấy trộm số tiền 8.223.000đ rồi bỏ ví da lại vào yên xe. Sau đó H đem tiền về nhà cất giấu. Sau khi chị L chạy xe mô tô về nhà và mở cốp xe lấy tiền đi mua đồ thì phát hiện bị mất số tiền 8.223.000đ nên chị L đã qua lại gặp H và hỏi U: “Em có lấy tiền của chị không cho chị xin lại, nảy giờ có mình em ngồi trên xe chị, nếu em lấy tiền thì cho chị xin lại, nếu em không trả tiền cho chị thì chị báo Công an”; H trả lời: “Chị cứ mời đi có sao tôi nói vậy, chị làm sao thì làm đi, đâ không có lấ ”. Sau đó chị L đã làm đơn trình báo Công an thị trấn L ; Công an thị trấn L đã mời H lên làm việc thì H khai nhận đã lấy số tiền 8.223.000đ, sử dụng tiêu xài cá nhân hết 1.123.000đ, còn lại 7.100.000đ H đã giao nộp lại cho Công an thị trấn L để khắc phục hậu quả.
Tại bản Cáo trạng số: 40 Đ KSĐT VKS- S ngà 15/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân hu ện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận đã tru tố bị cáo Lê Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” theo qu định tại khoản 1 Điều 138 BLHS.
Tại phiên tòa hôm nay, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận thực hành quyền công tố tại phiên tòa khẳng định: Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh đã tru tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Đề nghị ĐXX tuyên bố bị cáo Lê Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị xem xét áp dụng khoản 1 Điều 138, các điểm b, h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 31 BL S năm 1999 để xử phạt bị cáo Lê Thị H t 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ.
Bị cáo, người bị hại không có ý kiến tranh luận.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY:
Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 08/10/2017, tại khu phố T, thị trấn L, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận, khi Lê Thị H ngồi trên xe mô tô biển số 86B7-031.25 của chị Mai Thị L thì phát hiện yên của chị L không khóa. Lê Thị H su nghĩ trong cốp xe của chị L có tài sản nên nả sinh ý định trộm cắp. Lê Thị H mở yên xe lên và dùng tay lấy 01 ví da trong cốp xe, chiếm đoạt số tiền 8.223.000đ của chị Mai Thị L.
Như vậ là người có đầ đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thế nhưng Lê Thị H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 8.223.000đ của chị Mai Thị L. Do đó, hành vi của bị cáo Lê Thị H đã đủ yếu tố cần thành tội “Trộm cắp tài sản” qu định tại khoản 1 Điều 138 BLHS theo như cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh đã truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; đã cố ý trực tiếp âm phạm tài sản của người khác; gâ bất bình trong quần chúng nhân dân. Do đó cần ử phạt bị cáo nghiêm minh theo qu định của pháp luật hình sự để răn đe, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ng a tội phạm chung.
Hội đồng xét xử cũng ét thấy: Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; ngoài ra bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 7.100.000đ để khắc phục hậu quả; gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo và người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Cho nên, cần xem xét cho bị các được hưởng các tình tiết giảm nhẹ qu định tại điểm p, h, b khoản 1 và khoản 2 Điều 46 BLHS.
Xét thấy: Bị cáo Lê Thị H phạm tội trong trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có quá trình nhân thân tốt; có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Bị cáo có điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, vì không có tiền đóng tiền học và chữa bệnh cho con nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, cho nên nếu áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội thì gia đình bị cáo sẽ gặp nhiều khó khăn. Do đó, chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục cũng đủ cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt sống có ích cho xã hội là phù hợp với qu định tại Điều 31 BLHS. Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên cần xem xét cho bị cáo được miễn khấu tr thu nhập.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm na , người bị hại chị Mai Thị L không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Lê Thị Hnên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về vật chứng: Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tánh Linh đã giao trả lại cho chị Mai Thị L những tài sản gồm: Số tiền 7.100.000đ; 01 ví da màu tím. oàn trả lại cho bị cáo Lê Thị H số tiền 920.000đ; 01 hộp kem dưỡng trắng da hiệu Nanyno; 01 tuýp sữa rửa mặt Pon’d; 01 hộp lam trà xanh hiệu Qianli là phù hợp nên Hội đồng xét xử không ét đến.
Về án phí: Cần buộc bị cáo Lê Thị H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 99 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 138; các điểm b, h, p khoản 1 và khoản 2 Điều 46; Điều 31 của Bộ luật hình sự năm 1999 - đã được sửa đổi bổ sung theo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự số 37/2009/QH12 ngày 19/6/2009:
Xử phạt bị cáo Lê Thị H: 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ; thời hạn cải tạo không giam giữ tính t ngà cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục bị cáo Lê Thị H nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Miễn khấu tr thu nhập đối với bị cáo Lê Thị H.
Giao bị cáo Lê Thị H cho UBND thị trấn Lạc Tánh, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận để giám sát, giáo dục.
Áp dụng điều 99 BLTTHS và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban THvụ Quốc hội: Buộc bị cáo Lê Thị Hphải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ Nhà Nước.
Án xử sơ thẩm công khai; bị cáo, người bị hại, có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án – Ngày 25 12 2017. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể t ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết (Đã giải thích quyền kháng cáo).
| Nơi nhận: + Cấp theo Đ.299 BLTT S: - Bị cáo; - Người bị hại; - VKSND huyện; - C CSĐT hu ện; - UBND TT. Lạc Tánh (thay TB); - Sở tư pháp tỉnh Bình Thuận; - CC THA DS (khi án có HLPL); - Lưu án văn, SVA, S T. .A. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Yến |