- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| QUẬN THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 329/2017/HSST Ngày: 07/11/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Trung Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Lý
2. Bà Nguyễn Thị Ánh Minh.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Ngô Thanh Tùng - Cán bộ Tòa án
nhân dân quận Thủ Đức.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông
Trần Văn Giầu - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 266/2017/HSST ngày 06/10/2017, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T1; sinh năm: 1984; tại: Hà Tĩnh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; thường trú: Xóm H, xã H, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; chỗ ở: khu phố X, phường Đ, thị xã D, tỉnh Bình Dương; trình độ văn hóa: 4/12; nghề nghiệp: Làm ruộng; con ông: Nguyễn N; và bà: Phạm Thị K; vợ: Phạm Thị A; có 02 con (sinh năm 2007, 2014); tiền án, tiền sự: không; bị bắt giữ ngày 25/7/2017. (Có mặt)
- Người bị hại: Anh Dương V, sinh ngày 28/3/1999, địa chỉ: đường T, khu phố C, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
- Người làm chứng:
1. Anh Hoàng Đình H2, sinh năm 1993. (Vắng mặt)
2. Anh Hà Thành V, sinh năm 1989. (Vắng mặt)
NHẬN THẤY:
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 25/7/2017, Nguyễn Văn T1 đi bộ một mình vòng quanh khu vực phường Linh Chiểu, quận Thủ Đức mục đích tìm người để tài sản sơ hở để lấy trộm. Khi đi ngang qua nhà đường T, khu phố N, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. T1 phát hiện xe mô tô hiệu Wave màu trắng biển số 59P2-03xxx của anh Dương V đang dựng trước nhà, xe có khóa cổ, không có người trông coi. T1 đi lại dùng đoản kim loại hình chữ “T” (mang theo sẵn) bẻ phá ổ khóa xe mô tô biển số 59P2-03xxx ngồi lên nổ máy điều khiển xe tẩu thoát. Anh Bảo nghe tiếng xe máy nổ liền đuổi theo và tri hô “cướp, cướp” lúc này có anh Hoàng Đình H cùng anh Hà Thành Vinh là trinh sát của tổ đặc nhiệm hình sự Công an quận Thủ Đức đang đi tuần tra liền đuổi theo T1 đến đường Quốc lộ 1K - đường 3 thuộc phường Linh Xuân, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì bắt được T1 cùng vật chứng đưa về Công an phường Linh Chiểu, quận Thủ Đức lập biên bản phạm tội quả tang.
Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận Thủ Đức, Nguyễn Văn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Kết luận định giá tài sản số 355/UBND-TCKH ngày 28/7/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Thủ Đức kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda alpha màu trắng, biển số: 59P2-03xxx có trị giá 8.000.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
- 01 xe mô tô hiệu Wave màu trắng, biển số: 59P2-03xxx. số máy: 12B-551338; số khung: DY513169. Ngày 25/7/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thủ Đức ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Dương V là chủ sở hữu.
- 01 đoản bằng kim loại hình chữ “T” dài 11 cm (thu giữ trong túi sau của T1).
Về phần dân sự: Anh Dương V đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Tại bản Cáo trạng số 279/CT-VKS ngày 05/10/2017, Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T1 về tội '„Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố.
Người bị hại anh Dương V xác định sự việc xảy ra như bị cáo khai. Anh Bảo sửa ổ khóa xe hết 200.000 đồng, nhưng không yêu cầu bị cáo bồi thường và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo vì hoàn cảnh của bị cáo rất khó khăn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng khoản 1 của Điều 138 Bộ luật Hình sự cùng các tình tiết giảm nhẹ để xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng tù, phần dân sự đã giải quyết xong, tịch thu tiêu hủy 01 đoản kim loại.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác;
XÉT THẤY:
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T1 phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người bị hại anh Dương V. Tài sản chiếm đoạt là 01 xe mô tỏ hiệu Honda alpha, trị giá 8.000.000 đồng. Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Nguyễn Văn T1 đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định, trừng trị tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì động cơ vụ lợi, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội thể hiện bị cáo rất liều lĩnh và xem thường pháp luật. Bị cáo phạm tội có sự chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.
Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản chiếm đoạt đã thu hồi trả cho người bị hại, phạm tội gây thiệt hại không lớn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người bị hại xin xem xét giảm nhẹ cho bị cáo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự, nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Dương V đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì khác.
Về xử lý vật chứng: 01 đoản bằng kim loại hình chữ “T” dài 11 cm là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự,
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T1 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2017.
- Áp dụng điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự,
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 đoản bằng kim loại hình chữ “T”.
(Phiếu nhập kho số 204 ngày 27/9/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức)
Bị cáo chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án./
| Nơi nhận: - Bị cáo, Người bị hại; - VKS, CA, Chi cục THA Q.TĐ - PC27 - Sở Tư pháp Tp.HCM - Lưu HS | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tôn Trung Tuấn |