- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Quoc B pham tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 327/2017/HSST Ngày 14-12-2017 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƢƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Kim Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hoàn
2. Bà Bùi Thị Thúy Lan
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thƣơng, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Sơn, Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 371/2017/HSST ngày 29 tháng 11 năm 2017 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 450/2017/HSST-QĐ ngày 30 tháng 11 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 100/2017/HSST-QĐ ngày 12 tháng 12 năm 2017, đối với bị cáo:
Nguyễn Quốc B, sinh năm 1995, tại tỉnh Bình Dƣơng; thƣờng trú: Ấp Đ, xã B, huyện B, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Cạo mủ cao su; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1969 và bà Dƣơng Thị Kim H, sinh năm 1973; bị cáo có 01 em sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Anh Nguyễn Quang Đ, sinh năm 1971; địa chỉ thƣờng trú: Số 107, đƣờng số 4, khu phố BĐ 2, phƣờng AB, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Anh Bùi Trung A, sinh ngày 23/01/2001; địa chỉ thƣờng trú: Xã LH, huyện K, tỉnh Hƣng Yên. Vắng mặt.
2. Chị Đào Thị Vân A, sinh năm 1977; địa chỉ thƣờng trú: Số 107, đƣờng số 4, khu phố BĐ2, phƣờng AB, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 11 giờ 40 ngày 27/10/2017, Trần Quốc B đang đi lang thang ở khu phố BĐ 2, phƣờng AB, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng tìm tài sản sơ hở của ngƣời dân để trộm cắp, bán lấy tiền tiêu xài, khi đến trƣớc quán Karaoke Hoàng Hà, địa chỉ: H27, H28, đƣờng số 3, khu phố BĐ3, phƣờng AB, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng do anh Nguyễn Quang Đ làm chủ, không có ngƣời trông coi, B lén lút đi vào trong quán Karaoke Hoàng Hà và thấy trên bàn tiếp tân cách cửa khoảng 04 mét có để máy tính bảng hiệu Apple Ipad 3 màu trắng bạc đang cắm dây sạc pin, mở nhạc có dây nối với máy phát nhạc. B tiếp cận chiếc máy tính bảng nói trên, tháo dây sạc pin và dây nối phát nhạc ra, rồi cầm máy Ipad trên tay đi ra khỏi quán Karaoke. Lúc này, anh B đang ở nhà (cách quán khoảng 50m) và thông qua camera an ninh đƣợc lắp đặt tại quán thì phát hiện B đang lấy trộm máy tính bảng trong quán của mình nên cùng cháu là Bùi Trung A chạy qua bên quán. Khi đến nơi thì B đã đi khỏi quán đƣợc khoảng 10 mét, trên tay vẫn cầm máy tính bảng vừa mới chiếm đoạt đƣợc, nên anh Đ cùng cháu Bùi Trung A đã truy hô, bắt giữ B cùng tang vật giao cho công an phƣờng AB lập biên bản bắt giữ ngƣời có hành vi phạm tội quả tang.
Vật chứng thu giữ trong vụ án: 01 máy Apple Ipad 3 (32G) màu trắng bạc; 01 USB 2GB màu trắng hiệu Toshiba.
Căn cứ kết quả định giá tài sản số 304/BB.ĐG ngày 08/11/2017 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An kết luận: 01 máy tính bảng hiệu Apple Ipad 3 (32G), màu trắng bạc có giá trị 2.500.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo cũng nhƣ ngƣời bị hại trong vụ án không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá số 304/BB.ĐG ngày 08/11/2017 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.
Cáo trạng số 354/QĐ – KSĐT ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Quốc B về “Tội trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc B mức án từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
Trách nhiệm dân sự: 01 máy Apple Ipad 3 (32G) màu trắng bạc đã thu hồi trả lại cho ngƣời bị hại Nguyễn Quang Đ. Ngƣời bị hại Nguyễn Quang Đ không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.
Trƣớc khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung: Khoảng 11 giờ 40 phút tại quán Karaoke Hoàng Hà địa chỉ H27 +H28, đƣờng số 3, thuộc khu phố BĐ 2, phƣờng AB, thị xã DA, tỉnh Bình Dƣơng, lợi dụng khi không có ngƣời trông coi quán Karaoke, Nguyễn Quốc B đa ̃ lén lút trộm cắp 01 máy Apple Ipad 3 (32G) màu trắng đang sạc pin để trên bàn tiếp tân của quán Karaooke Hoàng Hà do anh Nguyễn Quang Đ làm chủ, khi đang tẩu thoát thì bị anh Đ phát hiện truy hô bắt giữ B cùng tang vật giao công an phƣờng An Bình lập biên bản phạm tội quả tang.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo, ngƣời bị hại và ngƣờ i làm chứng tại cơ quan điều tra đã đủ cơ sở kết luận: Hành vi của Nguyễn Quốc B lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại Nguyễn Quang Đ là nguy hiểm cho xã hội. Cáo trạng số 354/QĐ– KSĐT ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng và bản luận tội truy tố bị cáo Nguyễn Quốc B về “Tội trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng, nhƣng đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của ngƣời bị hại đƣợc pháp luật B vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Vì vậy cần xử phạt bị cáo mức án tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc tr ƣờng hợp it nghiêm tro ̣ng , phạm tội nhƣng chƣa gây thiệt hại , ngƣờ i bi ̣ ha ̣i có đơn xin
́ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo , nên khi quyết đi ̣nh hinh pha ̣t Hội đồng xét xử cần
̀ áp dụng điểm g , h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bô ̣ luâ ̣t Hinh sƣ̣ để xem xét giảm
̀ mô ̣t phần hinh pha ̣t cho bi ̣ cáo . Bị cáo không có tinh tiết tăng nă ̣ng trách nhiê ̣m
̀
̀ hình sự:
Về nhân thân: Trƣớ c khi pha ̣m tô ̣i b ị cáo có nhân thân tốt chƣa có tiền án tiền sự.
Xét bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhất thời phạm tội, có nơi cƣ trú rõ ràng . Vì vậy, chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung. Bị cáo cạo mủ cao su phụ giúp gia đình nên không có thu nhâ ̣p. Vì vậy, không cần áp dụng quy định khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại. Ngƣời bị hại không yêu cầu gì thêm nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Xét, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đƣa ra là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc B 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày UBND xã B, huyê ̣n B, tỉnh Bình Dƣơng nhận đƣợc bản án và quyết định thi hành án. Giao bị cáo Nguyễn Quốc B về cho UBND xã B, huyê ̣n B, tỉnh Bình Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời hạn cải tạo không giam giữ.
Trong trƣờng hợp ngƣời đang chấp hành án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3, 4 Điều 75 Luật thi hành án hình sự.
2. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Khoản 1, 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Quốc B phải nộp 200.000 (Hai trăm nghin) đồng án phí hình
̀ sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Dĩ An; - Công an TX Dĩ An; - Trại tạm giam CA tỉnh Bình Dƣơng; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - UBND xa B, huyê ̣̃ n B,tỉnh Bình Dƣơng; - Phòng PV 27 Công an tinh Bỉ nh Dƣơng;̀ - Phòng PC 81 Công an tinh Bỉ nh Dƣơng;̀ - Bị cáo; - Chi cục THA thị xã Dĩ An (01); - TAND tỉnh Bình Dƣơng (01); - Lƣu: VT, HS (02). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Trần Thi ̣ Kim Hoa |