- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn D - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Vũ Thế Q, các quyết định của bản án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Vũ Thế Q có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 25/5/2018.
- Căn cứ chính? Điều 248 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀNỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số : 321/2018/HSPT Ngày: 25/5/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Bình;
Các Thẩm phán:
Ông Ngô Tự Học;
Ông Vũ Mạnh Hùng;
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hoài, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ng Vỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử công khai phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 492/TLPT-HS ngày 17/7/2017 đối với bị cáo Trần Văn D cùng đồng phạm phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc” do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2017/HSST ngày 31 tháng 5 năm 2017 của Toà án nhân dân tỉnh Nam Định.
* Các bị cáo có kháng cáo:
1. Trần Văn D, sinh năm 1980; nơi ĐKHKTT: Xóm Văn L, xã Hải L, huyện Hải H, tỉnh Nam Định; văn hóa: Lớp 9/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông Trần Văn Q và bà Nguyễn Thị M; có vợ là Đinh Thị Ng, sinh năm 1989 (là bị cáo trong vụ án) và có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2016; có mặt.
2. Đinh Thị Ng, sinh năm 1989; nơi ĐKHKTT: Xóm Văn L, xã Hải L, huyện Hải H, tỉnh Nam Định; văn hóa: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Không; con ông Đinh Công Th và bà Trần Thị Nh; có chồng là Trần Văn D, sinh năm 1980 (là bị cáo trong vụ án) và có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2016 đến ngày 08/11/2016 áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; vắng mặt.
3. Vũ Thế Q, sinh năm1972; nơi ĐKHKTT: Xóm 6B, xã Hải Th, huyện Hải H, tỉnh Nam Định; văn hóa: Lớp 7/12; nghề nghiệp: Không; con ông Vũ Thanh H và bà Lâm Thị Kh (đều đã chết); có vợ là Lã Thị M, sinh năm 1978 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án: Ngày 28/8/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc”;
Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 297/HSST ngày 31/12/2003 của Tòa án nhân dân huyện Thanh T xử 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”; phạt bị cáo 3.000.000 đồng; đã được xóa án.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2007/HS-ST ngày 09/8/2007 của Tòa án nhân dân huyện Hải H, tỉnh Nam Định xử 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Đánh bạc”; đã được xóa án.
Ngày 03/02/2017, Công An huyện Hải H, tỉnh Nam Định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đồng về hành vi đánh bạc, đã nộp tiền.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2016 đến ngày 19/01/2017 thay thế bằng biện pháp “Bảo lĩnh”. Bị cáo đang thi hành Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2018/HSST ngày 22/01/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định; có mặt.
4. Vũ Duy Kh, sinh năm 1985; nơi ĐKHKTT: Xóm 6B, xã Hải Th, huyện Hải H, tỉnh Nam Định; văn hóa: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông Vũ Trọng K (đã chết) và bà Trần Thị L; có vợ là Vũ Thị L1, sinh năm 1989 và có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 31/7/2015, Công an huyện Hải H, tỉnh Nam Định xử phạt hành chính 1.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2016 đến ngày 08/11/2016 thay thế bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
Ngoài ra còn có các bị cáo khác trong vụ án do không có kháng cáo nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ đầu tháng 10/2016, Trần Văn D đứng lên tổ chức sới bạc dưới hình thức chơi xóc đĩa, được thua bằng tiền ngay tại nhà mình. Tại sới bạc D là người trực tiếp chuẩn bị bát đĩa, cắt tú lơ khơ thành 04 quân bài vị và trực tiếp xóc cái cho các con bạc tham gia. Hàng ngày D thường tổ chức chơi từ khoảng 23h00 đến 01h sáng ngày hôm sau. Khi các con bạc tới đông đủ thì D hoặc vợ là Đinh Thị Ng khoá toàn bộ các cửa ra vào và D thuê Nguyễn Văn B thu tiền vào cửa của mỗi con bạc tới chơi là 200.000 đồng/1 buổi và trả công cho B mỗi ca là 200.000 đồng. Toàn bộ số tiền vào cửa thu được B đều đưa lại cho Đinh Thị Ng quản lý.
Cách thức chơi bạc như sau: Người cầm cái xóc đĩa dùng một chiếc đĩa sứ, đặt lên trên đĩa 4 quân bài vị, được đục ra từ lá bài tú lơ khơ, hình tròn, đường kính khoảng 1cm, hai mặt được quy định với nhau là một mặt đen và một mặt trắng; dùng một chiếc bát sứ úp lên trên để xóc; các con bạc ở bên dưới đặt cửa chẵn hoặc đặt cửa lẻ tuỳ ý; chẵn là 4 quân vị cùng màu hoặc 2 quân vị một màu; lẻ là 3 quân vị cùng màu còn một quân vị khác màu; mỗi lần mở bát ra là một ván chơi. Người cầm cái có vai trò là người điều tiết làm trung gian cho các con bạc đặt cửa chẵn, cửa lẻ và có thể tham gia chơi. Nếu khi mở bát ra chẵn hoặc lẻ trùng với cửa người chơi đặt tiền thì người chơi thắng, và được số tiền bằng với số tiền bỏ ra chơi ván đó. Nếu kết quả không trùng với kết quả mở bát thì người chơi sẽ mất số tiền đã đặt; người làm cái được hoặc mất số tiền bằng với số tiền chênh lệch giữa 2 cửa chơi; giả sử người cầm cái xóc được chẵn thì người đặt cửa chẵn được ăn tiền; nếu số tiền bên cửa lẻ nhiều hơn bên cửa chẵn thì người làm cái được hưởng số tiền dư đó và ngược lại nếu số tiền bên cửa lẻ ít hơn bên cửa chẵn thì người làm cái phải trả số tiền thiếu cho người đặt cửa chẵn.
Ngoài ra tại sới bạc của D, còn có hình thức đánh bảng vị do Vũ Thế Q và Vũ Duy Kh chung nhau làm. Cách thức chơi bảng vị như sau: Kh, Q viết lên mặt trắng của 4 lá bài tú lơ khơ các ký hiệu “3 trắng”, “3 đỏ”, “4 trắng”, “4 đỏ” để người chơi tham gia đánh bảng vị. Khi người cầm cái xóc đĩa thì các con bạc chơi bảng vị đặt tiền vào 1 trong 4 lá tú lơ khơ có ký hiệu như trên tuỳ ý. Nếu khi mở bát có 3 quân vị cùng trắng hoặc cùng đỏ mà trùng với lá tú ký hiệu 3 trắng hoặc 3 đỏ, khi người chơi đặt thì người chơi thắng, đặt 1 được gấp 3 lần số tiền bỏ ra. Nếu mở bát có 4 quân vị cùng trắng hoặc cùng đỏ mà trùng với ô 4 trắng hoặc 4 đỏ (gọi là tứ tử) khi người chơi đặt thì người chơi thắng, đặt 1 được gấp 10 lần số tiền bỏ ra. Người cầm bảng vị phải trả tiền cho người thắng còn nếu kết quả không trùng với kết quả mở bát thì người cầm bảng vị được hưởng số tiền mà người chơi đánh.
Khoảng 0 giờ 00 phút ngày 30/10/2016, trong khi 12 đối tượng đang tổ chức đánh xóc đĩa tại nhà Trần Văn D thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang; khám xét tại nhà Trần Văn D, Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ những đồ vật, tài liệu: 04 (bốn) quân vị hình tròn đường kính khoảng 1cm được cắt ra từ lá tú lơ khơ một mặt trắng, một mặt đỏ; 03 chiếc bát và 03 chiếc đĩa bằng sứ. 04 quân bài tú lơ khơ, trong đó một quân có ghi chữ “4 đỏ”, một quân ghi “4 trắng”, một quân ghi “3 đỏ”, một quân ghi “3 trắng”. Tiền Việt Nam là 93.050.000 đồng; trong đó thu trên chiếu bạc 54.250.000 đồng; thu khám xét 12.750.000 đồng; thu trên người các đối tượng 26.050.000 đồng; thu giữ 13 điện thoại di động các loại trong đó thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia của Vũ Duy Kh, 02 điện thoại di động của Trần Văn D, 02 điện thoại di động của Đinh Thị Ng, 01 điện thoại di động của Vũ Thế Q. Tại cơ quan điều tra các đối tượng đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình như sau:
Trần Văn D khai nhận: Khoảng đầu tháng 10/2016, D thống nhất với vợ là Đinh Thị Ng, tổ chức sới bạc dưới hình thức chơi xóc đĩa được thua bằng tiền và rủ rê lôi kéo các con bạc ở các xã lân cận đến đánh bạc ngay tại tầng 2 của gia đình nhằm thu lợi bất chính. Trong tháng 10/2016 D đã tổ chức được khoảng 10 lần, mỗi lần có từ 7 đến hơn 10 đối tượng tham gia. Tại sới bạc D không thuê người canh coi, không có người làm tín dụng; D là người trực tiếp chuẩn bị công cụ và xóc cái cho các con bạc tham gia chơi. Các lần tổ chức chơi thường bắt đầu từ khoảng 23h00 đến 01h00 sáng ngày hôm sau. Khi các con bạc đến thì D hoặc vợ khoá toàn bộ các cửa ra vào. D thuê Nguyễn Văn B thu tiền vào cửa của các con bạc là 200.000 đồng/1 ca; toàn bộ số tiền vào cửa thu được thì B đều giao lại cho Ng quản lý. Các lần tổ chức sới bạc D vừa xóc cái vừa trực tiếp tham gia đánh chẵn, lẻ cùng các con bạc. Tối ngày 29/10/2016, sau khi gọi điện rủ các con bạc đến chơi; khoảng 23h00 khi đã có mặt đầy đủ D đưa các con bạc lên tầng 2, sau đó cắt bài tú lơ khơ thành 04 quân vị và trực tiếp ngồi xóc cái cho các con bạc chơi; cũng như mọi lần D vừa trực tiếp xóc cái vừa tham gia đặt tiền đánh chẵn, lẻ cùng với các con bạc, cân cửa bán chẵn bán lẻ với số tiền tham gia chơi ván thấp nhất là 300.000 đồng, ván nhiều nhất là khoảng 3.000.000 đồng. Khi đang xóc cái cho các con bạc chơi thì D bị lực lượng công an vào bắt quả tang và thu trên người 02 điện thoại di động.
Đinh Thị Ng khai nhận: Từ đầu tháng 10/2016, Ng cùng chồng là D tổ chức sới bạc dưới hình thức chơi xóc đĩa được thua bằng tiền tại gia đình được khoảng 10 lần. Khoảng 23h00 ngày 29/10/2016, Ng cùng D tổ chức cho 12 đối tượng đánh xóc đĩa tại tầng 2 của gia đình, D trực tiếp xóc cái và giao cho B thu tiền vào cửa được khoảng 1.000.000 đồng, B đã giao lại số tiền trên cho Ng quản lý. Lúc này trên người Ng có khoảng 8.000.000 đồng, Ng cho B vay 3.000.000 đồng để tham gia đánh bạc, sau đó B đã trả lại số tiền trên cho Ng. Ngoài hành vi tổ chức đánh bạc tối ngày 29/10/2016, Ng còn tham gia đặt tiền vào các cửa chẵn, cửa lẻ khoảng 4 - 5 ván mỗi ván đặt 200.000 - 300.000 đồng có ván thắng ván thua, Ng không nhớ cụ thể. Đến khoảng 0h ngày 30/10/2016, khi đang tham gia đánh bạc thì bị tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nam Định bắt quả tang. Thu trên người Ng số tiền 8.200.000 đồng và 02 điện thoại di động. Ng khai nhận đã tổ chức sới bạc được 10 lần, mỗi lần thu tiền hồ khoảng 1.000.000 đồng, tính đến ngày bị bắt tổng số tiền thu lời bất chính khoảng 10.000.000 đồng.
Vũ Thế Q khai nhận: Đến sới bạc do Trần Văn D tổ chức để tham gia đánh xóc đĩa và làm bảng vị 2 lần. Lần thứ nhất: cách ngày bị bắt quả tang khoảng 1 tuần, lần thứ hai vào đêm ngày 29/10/2016 cả hai lần Q đều đưa cho Kh 4.000.000 đồng để ngồi làm bảng vị còn Q ngồi phía sau chỉ đạo, Kh điều chỉnh số tiền ra vào tại các ô bảng vị sao cho hợp lý. Ngoài ra, trong khi làm bảng vị Q còn nhiều lần nhờ Kh lấy tiền từ bảng vị để tham gia đặt cửa chẵn, cửa lẻ. Q thống nhất và chịu trách nhiệm với Kh về số tiền thắng hay thua từ việc làm bảng vị và đánh chẵn, lẻ, nếu thắng thì Q sẽ cho Kh số tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng; tuy nhiên ngày đầu tiên Q bị thua khoảng 1.000.000 đồng nên không cho Kh. Đêm ngày 29/10/2016, Q còn trực tiếp đánh 1 ván 500.000 đồng vào cửa lẻ và bị thua; ngoài ra Q còn bảo Kh lấy tiền từ bảng vị tham gia đánh cửa chẵn, cửa lẻ cho Q nhiều ván, mỗi ván đánh từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng có ván thắng, ván thua Q không nhớ cụ thể. Quá trình Cơ quan Cảnh sát điều tra bắt quả tang thu trên người Q 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã cũ.
Vũ Duy Kh khai nhận: Đến sới bạc tổ chức tại nhà Trần Văn D cùng với chú ruột là Vũ Thế Q để làm bảng vị và tham gia đánh chẵn lẻ ăn tiền 02 lần. Cụ thể: lần thứ nhất cách ngày bị bắt quả tang khoảng 1 tuần (không nhớ rõ ngày); lần thứ hai là đêm ngày 29/10/2016, Kh chở Q bằng xe Wave BKS 5466 đến sới bạc của D, cả hai lần Q đều đưa cho Kh khoảng 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng và nhờ Kh làm bảng vị cho Q còn Q ngồi sau chỉ đạo. Ngoài ra, trong quá trình chơi Q nhiều lần nhờ Kh lấy tiền làm bảng vị để tham gia đặt cửa chẵn lẻ, mỗi ván từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Q và Kh thỏa thuận nếu thắng Q sẽ cho Kh từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng nếu thua Q sẽ chịu hết, do lần đầu đánh tại nhà D thua khoảng 1.000.000 đồng nên Q chưa cho Kh. Đến khoảng 0h00 ngày 30/10/2016 khi Kh đang tham gia đánh bạc thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra bắt quả tang và thu trên người số tiền 2.900.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đã cũ.
Ngoài ra trong vụ án còn có hành vi của các bị cáo khác tham gia tổ chức đánh bạc và đánh bạc do không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên không đề cập đến trong nội dung bản án.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2017/HSST ngày 31/5/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định quyết định:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 248; điểm b khoản 2 Điều 249; khoản 3 Điều 249; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 50 Bộ luật hình sự; Nghị quyết 144 Quốc hội; khoản 3 Điều 7, điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Trần Văn D 03 (ba) năm tù về tội "Đánh bạc" và 04 (bốn) năm tù về tội "Tổ chức đánh bạc". Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/10/2016. Phạt tiền bị cáo 15.000.000đồng (mười lăm triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 248; điểm b khoản 2 Điều 249; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 53; Điều 50 Bộ luật hình sự; Nghị quyết 144 Quốc hội; khoản 3 Điều 7, điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Đinh Thị Ng 02 (hai) năm tù về tội "Đánh bạc" và 03 (ba) năm tù về tội "Tổ chức đánh bạc”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 30/10/2016 đến ngày 08/11/20l6 được đối trừ.
- Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 53; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Thế Q 39 (ba mươi chín) tháng tù về tội "Đánh bạc". Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 30/10/2016 đến ngày 19/01/2017 được đối trừ.
Phạt tiền bị cáo Vũ Thế Q 5.000.000đ (năm triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
- Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 53; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự. Nghị quyết 144 Quốc hội; khoản 3 Điều 7, điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Vũ Duy Kh 18 (mười tám) tháng tù về tội "Đánh bạc". Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 30/10/2016 đến ngày 08/11/20l6 được đối trừ.
Phạt tiền bị cáo Vũ Duy Kh 3.000.000đ (ba triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 05/6/2017, bị cáo Vũ Thế Q kháng cáo xin giảm phạt.
Ngày 12/6/2017, bị cáo Trần Văn D kháng cáo xin giảm hình phạt; bị cáo Đinh Thị Ng kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo; bị cáo Vũ Duy Kh kháng cáo xin hưởng án treo;
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Trần Văn D và cáo Vũ Duy Kh giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Bị cáo Trần Văn D đề nghị xem xét bị cáo có cha đẻ là người có công với cách mạng.
Bị cáo Vũ Duy Kh đề nghị xem xét cha bị cáo có công với cách mạng, con còn nhỏ và bị cáo là trụ cột của gia đình nên xin được hưởng án treo.
Bị cáo Vũ Thế Q xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Tại phiên tòa bị cáo Vũ Thế Q rút toàn bộ nội dung kháng cáo, xét thấy việc rút kháng cáo của bị cáo là tự nguyện do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Vũ Thế Q.
Xét kháng cáo của bị cáo Ng, Kh, D thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết và xét xử các bị cáo về tội danh, áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và xử các bị cáo với mức án tại bản án sơ thẩm là phù hợp, tương xứng với hành vi của các bị cáo. Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo nhưng tại cấp phúc thẩm không đưa được tình tiết giảm nhẹ nào mới để hội đồng xét xử xem xét. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo D, Kh, Ng.
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, qua quá trình thẩm vấn, tranh tụng công khai tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện viện kiểm sát và của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã triệu tập hợp lệ nhiều lần đối với bị cáo Đinh Thị Ng, nhưng bị cáo vắng mặt không có lý do chính đáng. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo Đinh Thị Ng.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Vũ Thế Q tự nguyện rút toàn bộ nội dung kháng cáo, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Vũ Thế Q.
. Tại phiên tòa các bị cáo Trần Văn D, Vũ Duy Kh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và lời khai của bị cáo Đinh Thị Ng tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm phù hợp với các lời khai của các bị cáo khác trong vụ án, phù hợp với các tài liệu đã thu thập trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Hành vi của các bị cáo Trần Văn D, Đinh Thị Ng đã phạm tội "Tổ chức đánh bạc", theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự; hành vi của các bị cáo Trần Văn D, Đinh Thị Ng, Vũ Duy Kh phạm tội "Đánh bạc", theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 248 Bộ luật hình sự như bản án sơ thẩm đã quy kết là có căn cứ đúng người, đúng tội.
. Cờ bạc là tệ nạn của xã hội, các bị cáo đều xác định được đánh bạc dưới hình thức tổ chức đánh xóc đĩa ăn tiền là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm thu lời bất chính. Hành vi phạm tội của các bị cáo ảnh hưởng xấu tới an ninh, trật tự xã hội, nhất là trong tình hình hiện nay tệ nạn đánh xóc đĩa đang phổ biến, cho nên cần có mức hình phạt tù với hành vi phạm tội của các bị cáo để trừng trị, cải tạo, giáo dục riêng đối với các bị cáo và đáp ứng phòng ngừa tội phạm và Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết và xét xử các bị cáo về tội danh và áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để xử các bị cáo với mức hình phạt như bản án sơ thẩm là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo.
. Sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt và xin được hưởng án treo. Xét kháng cáo của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng:
. Đối với kháng cáo của bị cáo Trần Văn D xin giảm nhẹ hình phạt: Hội đồng xét xử thấy bị cáo D có vai trò chính trong vụ án là người đứng ra tổ chức cho các đối tượng tham gia đánh bạc, phạm hai tội; Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nên đã xử phạt bị cáo 03 (ba) năm tù về tội "Đánh bạc" và 04 (bốn) năm tù về tội "Tổ chức đánh bạc" là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không đưa ra được tình tiết mới. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn D.
. Đối với kháng cáo của bị cáo Đinh Thị Ng kháng cáo xin giảm hình phạt và hưởng án treo, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử bị cáo về hai tội và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp tuy nhiên trong vụ án này bị cáo Ng và bị cáo D là vợ chồng đều bị xét xử trong cùng vụ án; hoàn cảnh gia đình khó khăn, hai con còn nhỏ đang tuổi đi học. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo giảm cho bị cáo một phần hình phạt đối với tội “Đánh bạc” và giữ nguyên mức hình phạt về tội “Tổ chức đánh bạc” để bị cáo yên tâm cải tạo và sớm trở về nuôi dậy con cái và thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật.
. Bị cáo Vũ Duy Kh kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa bị cáo không đưa ra được tình tiết gì mới; mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
. Án phí: Các bị cáo Vũ Duy Kh và bị cáo Trần Văn D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Đinh Thị Ng và bị cáo Vũ Thế Q không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào điểm b, đ khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
QUYẾT ĐỊNH:
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Vũ Thế Q, các quyết định của bản án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Vũ Thế Q có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 25/5/2018.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đinh Thị Ng; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn D và Vũ Duy Kh. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 45/2017/HSST ngày 31/5/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định về phần hình phạt đối với bị cáo Đinh Thị Ng đối với tội “Đánh bạc”;
Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn D, Đinh Thị Ng phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và tội “Đánh bạc”.
Bị cáo Vũ Duy Kh phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 248; điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 249; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 1999 Nghị quyết 144 Quốc hội; khoản 3 Điều 7, điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Trần Văn D 03 (ba) năm tù về tội "Đánh bạc" và 04 (bốn) năm tù về tội "Tổ chức đánh bạc". Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/10/2016. Phạt tiền bị cáo 15.000.000đồng (mười lăm triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 248; điểm b khoản 2 Điều 249; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 50; Điều 53; Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết 144 Quốc hội; khoản 3 Điều 7, điểm x, t khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Đinh Thị Ng 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Đánh bạc" và 03 (ba) năm tù về tội "Tổ chức đánh bạc”. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 30/10/2016 đến ngày 08/11/20l6.
Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 53; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999. Nghị quyết 144 Quốc hội; khoản 3 Điều 7, điểm x khoản 1 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Vũ Duy Kh 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 30/10/2016 đến ngày 08/11/20l6. Phạt tiền bị cáo Vũ Duy Kh 3.000.000đ (ba triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
Án phí: Các bị cáo Vũ Duy Kh, Trần Văn D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Đinh Thị Ng và bị cáo Vũ Thế Q không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT I- TANDTC; - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND tỉnh Nam Định; - Công an tỉnh Nam Định; - Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định; - Cục THADS tỉnh Nam Định; - Các bị cáo D, Q (qua trại); - Các bị cáo Ng, Kh (theo đ/c); - Lưu HS, HCTP. C¸c thÈm ph¸n Vũ Mạnh Hùng Ngô Tự Học | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Thúy Bình ThÈm ph¸n - chñ tỌA phiªn tßa Lê Thị Thúy Bình |