- Tranh chấp gì? "Bùi Xuân S - Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy (điều 198 Bộ luật hình sự năm 1…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm bkhoản 1 Điều 355;điểm c khoản 1 Điều 357của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH P | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 32/2023/HS-PT Ngày 06tháng 6 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH P
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Hà Giang;
Các thẩm phán:
Ông Phạm Văn Toàn;
Ông Tạ Văn Thành.
- Thư ký phiên tòa:Bà Trần Thu Hiền- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh P.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P tham gia phiên tòa:Bà Trương Thị Kim Dung- Kiểm sát viên.
Ngày 06tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh P đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2023/TLPT-HS ngày 13 tháng 4 năm 2023 do có kháng cáo của bị cáo Bùi Xuân S đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 14/2023/HSST ngày 06 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh P.
Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Bùi Xuân S, sinh ngày 30 tháng 10 năm 1995; Tên gọi khác: Không ; Nơi sinh: Thành phố N, tỉnh N; Nơi cư trú: Khu L, xã L, thành phố N, tỉnh N; Nơi tạm trú: Khu T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh P; Nghề nghiệp: Lao động tự do;Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Quang V, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1975; Có vợ là Nguyễn Thị Kiều C, sinh năm 1999; Có 01 con sinh năm 2022;
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Quyết định số 07/QĐXLHC ngày 01/12/2013, Công an thị xã Từ S, tỉnh B xử phạt hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”. Hình thức phạt tiền 1.500.000đ. Đã nộp phạt ngày 24/6/2014.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/7/2022 cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh P.(Có mặt tại phiên tòa).
Những người tham gia tố tụng khác, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 15 giờ 35 phút, ngày 23/7/2022, Công an huyện Đ tiến hành kiểm tra hành chính về an ninh trật tự tại quán Karaoke Infinity, thuộc khu T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh P. Quá trình kiểm tra phát hiện:
Tại sảnh tầng 1 của quán Karaoke có 09 người, trong đó 05 người dương tính với ma tuý gồm: Nguyễn Quang V, trú tại xã X, huyện Đ, thành phố H; Nguyễn Thu N, trú tại xã Tiên Dược, huyện Sóc S, thành phố H; Trần Công Đ, trú tại 4/70, Trần Đăng N, phường Trần Đăng N, thành phố N, tỉnh N; Đặng Văn T, sinh năm 2005, trú tại 15/261, đường Giải Phóng, phường T, thành phố N, tỉnh N; Đặng Văn L, trú tại phố Khánh, thị trấn Thanh S, huyện Thanh S, tỉnh P.
Tại phòng Vip 201, tầng 2 của quán Karaoke có 06 người trong đó 01 người dương tính với ma tuý là Vương Minh Q, trú tại xã P, huyện G, thành phố H.
Tại phòng Vip 202, tầng 2 của quán Karaoke có 07 người đều dương tính với ma túy gồm: Nguyễn Văn H, trú tại thôn Kênh, xã N, huyện T, tỉnh B; Trần Hưng V, trú tại khu Thọ S, thị trấn Đ, huyện Đ; Vũ Văn K, trú tại khu Đầu Lô, thị trấn Đ, huyện Đ; Nguyễn Văn H, trú tại khu 12, xã Y, huyện H, tỉnh P; Hoàng Thị N, trú tại xóm Đường 2, xã Mỹ Thuận, huyện Tân S, tỉnh P; Nguyễn Thị Kiều C, trú tại khu Phú Thịnh, thị trấn Đ, huyện Đ và Nguyễn Thị Thu T, trú tại xã Hương Nộn, huyện Tam Nông, tỉnh P.
Các đối tượng trên đều khai nhận bản thân vừa sử dụng ma tuý tại phòng hát của quán Karaoke Infinity. Công an huyện Đ đã tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đồng thời thu giữ niêm phong các vật chứng gồm:
- Phía trên giá để âm thanh trong phòng Vip 202: 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, đường kính 20cm, đáy đĩa bám dính chất màu đen, lòng đĩa có chữ “Omachi” bám dính chất bột màu trắng. (Bì số 01); 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, đường kính 21cm, đáy đĩa bám dính chất màu đen, lòng đĩa bám dính chất bột màu trắng.(Bì số 02); 01 chiếc thẻ, kích thước 8,5cm x 5,5cm, trên thẻ có chữ GUCCI, bám dính chất bột màu trắng (Bì số 03); 01 chiếc vỏ thẻ sim điện thoại, kích thước 8,5cm x 5,5cm; 01 túi nilon màu trắng, kích thước 11cm x 7cm, có viền kẻ màu đỏ, bên trong túi bám dính chất bột màu trắng (Bì số 04); 01 túi nilon màu trắng, kích thước 4cm x 4cm, có viền kẻ màu xanh, bên trong túi bám dính chất bột màu trắng (Bì số 05); 01 tờ tiền mệnh giá 1.000.đ; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000.đ được quấn tròn theo chiều dọc thành đoạn ống hút, hai đầu đoạn ống hút được bọc bên ngoài là hai vỏ đầu lọc của điếu thuốc lá; 01 tờ tiền 20.000 đồng được quấn tròn theo chiều dọc thành đoạn ống hút, hai đầu đoạn ống hút được bọc bên ngoài là hai vỏ đầu lọc của điếu thuốc lá; 01 chiếc loa cầm tay nhãn hiệu “JBL” và 01 chiếc bật lửa gas màu đỏ.
- Thu giữ tại phòng VipII, tầng 3: 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng được quấn tròn theo chiều Nng thành đoạn ống hút, ở giữa đoạn ống hút được bọc bên ngoài là đầu lọc của điếu thuốc lá.
Xét thấy vụ việc vi phạm hành chính có dấu hiệu hình sự. Công an huyện Đ đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ việc đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để điều tra theo thẩm quyền. Ngày 24/7/2022, Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Văn K lại khu Đầu Lô, thị trấn Đan Hùng và Đặng Văn L tại phố Khánh, thị trấn Thanh S, huyện Thanh S, tỉnh P nhưng không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh P giám định số chất bột màu trắng bám dính trên các đồ vật đã thu giữ và giám định tìm ma tuý trong nước tiểu của các đối tượng có liên quan.
Tại bản Kết L giám định số 982/KLGĐ ngày 27/7/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh P kết L:
“Chất bột màu trắng bám dính trên 02 đĩa sứ, trên 01 thẻ nhựa và trong 02 túi nilon gửi đến giám định có tìm thấy chất ma tuý, loại Ketamine.
*Ketamine là chất ma túy nằm trong Danh mục III, số thứ tự 35, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ”
Tại bản Kết L giám định số 1000/KL-KTHS ngày 30/7/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh P kết L:
“- Trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Quang V, Trần Công Đ, Nguyễn Thị N, Vũ Văn K, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị Kiều C có tìm thấy chất MDMA và Dehydronor Ketamine;
- Trong mẫu nước tiểu của Đặng Văn T có tìm thấy chất Dehydronor Ketamine;
- Trong mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn H, Vương Minh Q, Đặng Văn L có tìm thấy chất Norketamine và Dehydronor Ketamine;
- Trong mẫu nước tiểu của Trần Hưng V, Nguyễn Thị Thu Tcó tìm thấy chất MDMA;
- Trong mẫu nước tiểu của Hoàng Thị N có tìm thấy chất MDMA, Norketamine và Dehydronor Ketamine;
*Norketamine và Dehydronorketamine là sản phẩm chuyển hoá của chất ma tuý Ketamin trong cơ thể.
*Ketamine là chất ma túy nằm trong Danh mục III, số thứ tự 35, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.
*MDMA là chất ma tuý số thứ tự 27, Danh mục I, nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ”
Quá trình điều tra đã xác định như sau: Bùi Xuân S và Nguyễn Thị Kiều C là vợ chồng, kết hôn năm 2021 và sinh sống tại khu T, thị trấn Đ, huyện Đ. Đầu năm 2022, Bùi Xuân S thuê Nguyễn Quang V và Đặng Văn T làm việc cho S tại cửa hàng dán nilon xe ôtô tại khu T, thị trấn Đ, huyện Đ. Ngày 15/6/2022, vợ chồng S thuê lại quán của anh Vũ Việt P, trú tại thị trấn Đ, huyện Đ đặt tên quán là Infinity để kinh doanh dịch vụ Karaoke và nhờ Nguyễn Quang V đứng tên giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh đồng thời thuê Đặng Văn T làm nhân viên phục vụ.
Ngày 23/7/2022, vợ chồng S tổ chức khai trương quán Karaoke Infinity nên đã mời người thân, anh em, bạn bè đến dự khai trương và ăn uống tại nhà hàng Sông Lô thuộc xã Sóc Đăng, huyện Đ. Trong đó Bùi Xuân S mời Trần Công Đ, Nguyễn Văn H, Vương Minh Q, Đặng Văn L, Nguyễn Minh T và Nguyễn Thu N. Còn Nguyễn Thị Kiều C mời Hoàng Thị N, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị Thu T, Vũ Văn K và Trần Hưng V.
Sau khi ăn uống xong,vợ chồng S mời mọi người về quán để hát karaoke. Khoảng 11 giờ 50 phút cùng ngày, một số người về đến quán trong đó có Đặng Văn L, Trần Công Đ, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn H, Hoàng Thị N, Nguyễn Thị Thu T và Nguyễn Minh T và một số người khác là bạn của S, K vào phòng hát Vip 202, tại tầng 2 còn Vương Minh Q vào hát tại phòng Vip 201, tầng 2.
Khoảng 15 phút sau, ông Nguyễn Tiến Sỹ và bà Đỗ Thị Luyến đều ở thị trấn Đ là bố mẹ đẻ của Nguyễn Thị Kiều C mời một số người khách của mình lên phòng Vip 202. Thấy vậy, Đặng Văn L, Trần Công Đ, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn H, Hoàng Thị N, Nguyễn Thị Thu T, Nguyễn Minh T nhường lại phòng hát này rồi di chuyển lên phòng Vip II, tầng 3.
Lúc này vào khoảng 12 giờ 05 phút, Đặng Văn L nảy sinh ý định sử dụng ma túy Ketamine nên đi xuống túi quần áo của mình để trong xe ôtô Toyota Vios biển số 99A-440.19 (là chiếc xe ôtô ngày 22/7/2022 Trần Công Đ điều khiển chở Đặng Văn L, Nguyễn Văn H đi đến để ăn khai trương quán của S) lấy 01 gói nhỏ có đặc điểm bên ngoài là túi nilon màu trắng có rãnh bấm, bên trong có chứa ma túy Ketamine rồi đi lên phòng Vip II, tầng 3, L thấy trên bàn trong phòng hát có một tờ tiền mệnh giá 1.000.đồng nên tách một phần ma túy từ gói ma túy của mình rồi đặt lên tờ tiền và đưa cho Nguyễn Văn H, phần còn lại L cất vào trong túi để trên người, H “xào” số Ketamine L đưa bằng cách dùng bật lửa gas màu đỏ có sẵn trên mặt bàn trong phòng hát nghiền nát số Ketamine. Sau đó H dùng móng tay xúc một phần ma túy Ketamine trên tờ tiền đưa lên mũi hít vào cơ thể rồi lấy từ trong người ra một tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng cuốn tròn thành đoạn ống hút và dùng vỏ đầu lọc của điếu thuốc lá bọc ở giữa phía bên ngoài làm thành một chiếc tẩu rồi H đưa tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng chứa Ketamine và chiếc tẩu trên cho L để L sử dụng Ketamine trên tờ tiền qua đường mũi vào cơ thể. L sử dụng ma túy xong thì đặt tờ tiền chứa phần Ketamine còn lại ở trên bàn trong phòng hát cho mọi người cùng sử dụng. Lúc này, Nguyễn Quang V và Đặng Văn T lần lượt đi vào phòng Vip II tầng 3, Vinh thấy trên bàn để 01 tờ tiền 1.000 đồng có chứa Ketamine nên Vinh tự lấy tờ tiền này hít một phần Ketamine qua đường hô hấp vào cơ thể rồi đặt xuống bàn. Sau đó, Toàn cầm tờ tiền và chiếc tẩu làm từ tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng lên sử dụng Ketamine bằng cách hít qua đường hô hấp vào cơ thể. Do trong phòng có đông người nên Nguyễn Văn H bảo Đặng Văn T mang cho mình một chiếc đĩa lên phòng. Toàn hiểu ý là lấy cho H một chiếc đĩa sứ để sử dụng Ketamine nên Toàn đi sang cửa hàng tạp hóa cạnh quán Karaoke Infinity của anh Đặng Đức T và mượn 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, lòng đĩa có chữ Omachi màu đỏ mang vào phòng Vip II, tầng 3.
Trong lúc Toàn đi ra ngoài lấy đĩa sứ, Đặng Văn L đưa cho Nguyễn Văn H túi nilon chứa phần ma túy Ketamine còn lại, H cầm túi Ketamine cất vào trong túi quần đang mặc xong thì Toàn đi vào phòng đưa chiếc đĩa sứ cho H, H bảo Toàn để lên bàn trong phòng hát nhưng chưa kịp sử dụng chiếc đĩa trên thì có một nam giới khoảng hơn 30 tuổi, chân tay có nhiều hình săm, không rõ địa chỉ lấy chiếc đĩa này và 01 thẻ sim để “xào” Ketamine mời những người trong phòng sử dụng. Vì vậy, H tiếp tục bảo Nguyễn Quang V lấy cho H chiếc đĩa sứ khác, Vinh hiểu ý H lấy đĩa để sử dụng ma túy nên Vinh xuống tầng 1 của quán lấy 01 chiếc đĩa sứ màu trắng và 01 chiếc thẻ nhựa có chữ GUCCI màu đen. Khi đi đến cầu thang nối giữa tầng 1 và tầng 2 thì Vinh đưa chiếc đĩa và thẻ nhựa cho Đặng Văn T bảo Toàn mang lên phòng Vip II, tầng 3 đứa cho H. Tại đây, H đổ số Ketamine từ trong túi nilon vào chiếc đĩa Toàn vừa đưa, dùng thẻ nhựa có chữ GUCCI màu đen dằm nhỏ Ketamine thành dạng bột rồi “xào” Ketamine trên đĩa bằng cách dùng bật lửa đốt dưới đáy đĩa. Sau đó H dùng ống hút được quấn bằng tờ tiền 20.000 đồng của H hít Ketamine trên đĩa vào cơ thể.
Khi Nguyễn Văn H chuẩn bị dụng cụ để sử dụng ma túy thì Trần Công Đ đi từ phòng Vip II, tầng 3 xuống xe ôtô nhãn hiệu Toyota Vios, biển số 99A-440.19 mang 01 chiếc loa “JBL” vào phòng Vip II, tầng 3 và kết nối mở nhạc “bay” từ chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 Plus, vỏ màu hồng, lắp sim thuê bao 0906.016.264 để những người có mặt trong phòng hát thỏa mãn khi sử dụng ma túy. Sau đó Đ tự chế thêm 02 chiếc tẩu từ tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng và 20.000 đồng được quấn dọc và hai đầu của mỗi tờ tiền được bọc bên ngoài là vỏ đầu lọc của điều thuốc lá rồi để lên bàn cho mọi người sử dụng ma túy. Sau khi H “xào” Ketamine xong, Đ lấy chiếc tẩu hít Ketamine trên đĩa qua đường hô hấp vào cơ thể rồi để đĩa xuống bàn. Lúc này, Nguyễn Thị Kiều C đi vào, Nguyễn Văn H mời K và Nguyễn Thị Thu Tsử dụng Ketamine nhưng K không sử dụng mà chỉ có Thảo đồng ý rồi cầm tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng do Đ quấn thành tẩu trước đó hít Ketamine qua đường hô hấp vào cơ thể.
Một lúc sau, Vũ Văn K, Trần Hưng V vào phòng Vip II, tầng 3 để giao lưu. K thấy mọi người trong phòng đang sử dụng ma túy loại Ketamine. Tại đây, K được mời sử dụng ma tuý Ketamine, K tự cầm tẩu và sử dụng Ketamine trên chiếc đĩa sứ màu trắng qua đường hô hấp rồi ngồi nghe nhạc cùng Nguyễn Thị Kiều C và mọi người. Khoảng 20 phút sau, K hỏi Nguyễn Thị Kiều C “Ở nhà còn kẹo mang lên chơi được không?”, K đồng ý. Sau đó K điều khiển xe môtô biển số 19E1-311.73 đi về nhà ở khu Đầu Lô, thị trấn Đ lấy 01 túi nilon màu trắng có khuy bấm viền kẻ màu đỏ, bên trong chứa 05 viên ma túy tổng hợp MDMA mang lên phòng Vip II, tầng 3 rồi để lên bàn trong phòng hát cho những người trong phòng sử dụng. H lấy chiếc cốc trong phòng hát, dùng đáy cốc đập, nghiền nát số ma túy, loại MDMA do K mang đến cho vào cốc rồi pha nước Redbull và để lên mặt bàn. Sau đó Nguyễn Quang V, Trần Công Đ, Trần Hưng V, Vũ Văn K, Nguyễn Văn H, Hoàng Thị N, Nguyễn Thị Kiều C, Nguyễn Thị Thu T đều sử dụng ma túy, loại MDMA từ cốc nước H pha.
Khoảng 13 giờ cùng ngày, Bùi Xuân S và Vương Minh Q đi từ phòng Vip 201 lên phòng Vip II, tầng 3, Bùi Xuân S thấy những người có mặt trong phòng đang sử dụng trái phép chất ma túy, nhưng S không ngăn cản mà vẫn để cho những người này tiếp tục sử dụng. Tại đây Nguyễn Văn H bê đĩa sứ màu trắng chứa Ketamine mời Vương Minh Q sử dụng, Quang cầm chiếc tẩu bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng hít Ketamine vào cơ thể sau đó S và Quang quay lại phòng Vip 201 hát karaoke cùng nhóm em trai của Bùi Xuân S.
Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Bùi Xuân S thấy ông bà Sỹ Luyến cùng những người khách tại phòng Vip 202, tầng 2 đã ra về nên S đi vào phòng Vip II, tầng 3 gọi tất cả những người có mặt trong phòng xuống phòng Vip 202. Sau đó, Đ mang 01 chiếc đĩa sứ bên trên chứa Ketamine, 02 chiếc thẻ, 02 chiếc tẩu (trong đó 01 chiếc làm từ tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 chiếc làm từ tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng), 01 chiếc loa “JBL”. H mang 01 cốc dung dịch bên trong chứa ma túy, loại MDMA đi xuống phòng Vip 202. Vương, K, Nhung, Hậu, K, L đi từ phòng Vip II, tầng 3, xuống phòng Vip 202, tiếp tục “bay”. Một lúc sau, Đặng Văn T đón Nguyễn Thị N về quán Karaoke Infinity rồi Đ đưa N lên phòng Vip 202, tầng 2 hát karaoke. Tại đây, Trần Công Đ cầm chiếc đĩa sứ bên trên có Ketamine và 01 chiếc “tẩu” mời N sử dụng ma tuý, N đồng ý và dùng tẩu hít Ketamine trên đĩa vào cơ thể. Đến 15 giờ 10 phút cùng ngày thì L, N, Đ và Tuấn đi xuống tầng 1. Còn H, Vương, K, Hậu, Nhung, K, Thảo ngồi nghe nhạc tại phòng Vip 202, tầng 2. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, Công an huyện Đ kiểm tra quán Karaoke Infinity, lập biên bản vi phạm hành chính, thu giữ các vật chứng có liên quan như đã nêu trên.
Về nguồn gốc số ma túy Ketamine, Đặng Văn L khai mua được của một người nam giới không rõ họ tên, năm sinh, địa chỉ tại thành phố Từ S, tỉnh B vào ngày 20/7/2022 với giá 1.500.000 đồng. Số ma túy MDMA, Vũ Văn K khai mua của một người không quen biết tại quận H, thành phố H vào ngày 20/7/2022 với giá 2.000.000 đồng..
Các vật chứng và tài sản hiện vẫn hiện đang tạm giữ gồm: Của Bùi Xuân S 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max kèm sim số 0963222822; Nguyễn Quang V 01 điện thoại Iphone XS Max kèm sim số 0975283897 và 01 điện thoại Iphone 8 kèm sim số 0346.129.420; Đặng Văn L 01 điện thoại Iphone 13 Pro Max lắp sim thuê bao 0775799666; Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro kèm sim số 038569777 và sim 0963862289; Trần Công Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus lắp sim số thuê bao 0967111185 và 01 điện thoại Iphone 6s Plus lắp sim thuê bao 0906016264; Vũ Văn K 01 điện thoại Iphone 7 lắp sim thuê bao 0962483306; 01 bì giấy ghi vật chứng thu giữ tại quán Karaoke Infinity thuộc khu T, thị trấn Đ ngày 23/7/2022;01 chiếc vỏ thẻ sim điện thoại; 01 chiếc loa cầm tay “JBL”; 01chiếc bật lửa gas màu đỏ; 01 bì niêm phong số 942/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh P.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số:14/2023/HSST ngày 06 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh P đã quyết định:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s, u khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Xuân S 07 (bảy) năm tù về tội “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 26/7/2022.
Bản án còn tuyên về án phí và các vấn đề khác đúng quy định của pháp luật.
Ngày 17/3/2023:Bị cáo Bùi Xuân S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm bkhoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357của Bộ luật Tố tụng hình sự.Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Xuân S.Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số14/2023/HSST ngày 06 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh P theo hướng áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 và áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để giảm hình phạt cho bị cáo. Mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo từ 36 đến 42 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung vụ án:
Tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo khác, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định:
Ngày 23/7/2022, vợ chồng Bùi Xuân S và Nguyễn Thị Kiều C tổ chức khai trương quán Karaoke Infinity ở địa chỉ khu T, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh P nên đã mời người thân, anh em, bạn bè đến dự khai trương và ăn uống tại nhà hàng Sông Lô thuộc xã Sóc Đăng, huyện Đ. Trong đó Bùi Xuân S mời Trần Công Đ, Nguyễn Văn H, Vương Minh Q, Đặng Văn L, Nguyễn Minh T và Nguyễn Thu N. Còn Nguyễn Thị Kiều C mời Hoàng Thị N, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị Thu T,Vũ Văn K và Trần Hưng V.Sau khi ăn uống xong,vợ chồng S mời mọi người về quán Karaoke Infinityđể hát.Trong quá trình mọi người hát karaoke tại quán hát, bị cáo Bùi Xuân S, Nguyễn Thị Kiều C mặc dù biết các bị cáo Đặng Văn L, Nguyễn Văn H, Trần Công Đ, Nguyễn Quang V, Vũ Văn K và Đặng Văn T đã cùng tổ chức sử dụng ma túy loại ma túy Ketamine và ma túy tổng hợp MDMA và còn cho các đối tượng khác cùng sử dụng tại quán Karaoke do mình quản lý, làm chủnhưng đều không phản đối mà cả hai còn đồng tình cho phép sử dụng trái phép ma túy. Bị cáo Bùi Xuân S không sử dụng ma túy cùng mọi người còn Nguyễn Thị Kiều C trực tiếp tham gia sử dụng ma túy. Khi tất cả đang sử dụng ma túy thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện, thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan như đã nêu trên.
Do vậy, hành vi của bị cáo Bùi Xuân S đã phạm vào tội: "Chứa chấp sử dụng trái phép ma túy"theo điểm d khoản 2 Điều 256của Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về hành vi nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội do vậy phải có hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng năm 2013 và đến tháng 6 năm 2014 bị cáo đã chấp hành xong; kể từ đó đến nay bị cáo không vi phạm gì. Lần phạm tội này là do nể nang, anh em, bạn bè. Hơn nữa lại là ngày khai trương quán. Lẽ ra khi phát hiện những người sử dụng trái phép chất ma túy ở quán của mình thì bị cáo phải ngăn cản mới đúng. Xong bị cáo biết và mặc kệ cho mọi người sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt tù có thời hạn để cải tạo giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để tuyên phạt bị cáo 07 năm tù là đã thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, gia đình bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sựmới đó là bố vợ bị cáo ông Nguyễn Tiến Sỹ có đơn đề nghị được UBND thị trấn Đ xác nhận hai vợ chồng bị cáo sống trong gia đình có người có công với cách mạng đang thờ cúng liệt sỹ Nguyễn Văn Tán là em trai của ông nội vợ bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo một mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật là phù hợp đúng quy định của pháp luật. Do vậy, cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo. SửaBản án hình sự sơ thẩm số 14/2023/HSST ngày 06 tháng 3 năm 2023của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Ptheo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P là phù hợp nên chấp nhận.
Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ điểm bkhoản 1 Điều 355;điểm c khoản 1 Điều 357của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Xuân S. SửaBản án hình sự sơ thẩm số 14/2023/HSST ngày 06 tháng 3 năm 2023của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh P.
[2]Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s, u khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân S phạm tội: “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Bùi Xuân S 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 26/7/2022.
[3]Về án phí: Áp dụngđiểm hkhoản 2 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáoBùi Xuân Skhông phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4]Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận - VKSND tỉnh P; - TAND H. Đ; - VKSND H. Đ; - Công an H. Đ; - Chi cục THADS H.Đ; - TB UBND nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; - Lưu HS; Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hà Giang |