- Tranh chấp gì? án hình sự — "Và Thị M tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Và Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự số 86/…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2025/HS-ST Ngày: 26/8/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Hưng và bà Đồng Thị Nhung
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Trần Hồng Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Điện Biên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Và Thị M, sinh ngày 30 tháng 5 năm 1978, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản C, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (nay là bản C, xã S, tỉnh Điện Biên); nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: không; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Và Chái C, sinh năm: 1952 và bà Và Thị S, sinh năm: 1955; có chồng là Vừ Công M, sinh năm: 1981; bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2002, con nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân: Chưa bị kết án và chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/5/2025 đến ngày 18/5/2025 bị tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người phiên dịch cho bị cáo: Ông Sùng A X; sinh năm: 1960; địa chỉ: Bản P, phường M, tỉnh Điện Biên. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 05/5/2025, Và Thị M đi làm nương về đến khu vực đường thuộc bản C gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 20 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 01 túi Methamphetamine với giá 200.000 đồng. Mua xong, M đem túi ma tuý về nhà cất giấu dưới đệm giường ngủ của M, với mục đích để trả công cho người làm thuê, nhưng chưa thuê được ai làm nương. Đến hồi 10 giờ 10 phút ngày 09/5/2025, M ở nhà lấy túi Methamphetamine ra để đếm số lượng viên Methamphetamine thì bị tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Điện Biên phối hợp với Công an xã N, tỉnh Điện Biên và Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế Tây Trang - Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên Phòng tỉnh Điện Biên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay trái của Mỷ 01 túi nilon màu xanh, bên trong chứa các viên nén nghi là Methamphetamine.
Tại Biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định hồi 16 giờ 00 phút ngày 10/5/2025 và bản kết luận giám định số: 422/KL-KTHS ngày 15/5/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên và bản Kết luận giám định số: 736/KL-KTHS ngày 30/7/2025 kết luận: Các viên nén thu giữ khi bắt quả tang Và Thị M có khối lượng 0,69 gam là ma túy: Loại Methamphetamine.
Cáo trạng số: 15/CT-VKSKV2 ngày 05/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện Biên truy tố bị cáo Và Thị M về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Và Thị M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Và Thị M từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,42 gam Methamphetamine còn lại sau khi giám định; 01 túi nilon màu xanh và vỏ phong bì niêm phong cũ.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không bào chữa về hành vi, không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Xét hành vi của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Và Thị M khai nhận vào ngày 05/5/2025, tại khu vực đường thuộc bản C bị cáo có mua 01 túi Methamphetamine với giá 200.000 đồng của người đàn ông không quen biết, mục đích để trả công thuê người nghiện làm ruộng, nương. Bị cáo mang về nhà cất giấu dưới đệm giường ngủ đến 10 giờ 10 phút ngày 09/5/2025 khi bị cáo đang đếm số lượng viên Methamphetamine thì bị bắt quả tang. Khối lượng các viên ma túy công an cân xác định là 0,69 gam Methamphetamine.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung Cáo trạng, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang hồi 10 giờ 20 phút ngày 09/5/2025, Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ hồi 11 giờ 15 phút ngày 09/5/2025; phù hợp với các Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Và Thị M mua ma túy về nhằm mục đích trao đổi trả công thuê người làm nương là hành vi mua bán trái phép chất ma túy, xâm phạm đến chính sách quản lý các chất ma túy của nhà nước, bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp nên đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Điện Biên truy tố bị cáo Và Thị M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, bị cáo không bị oan sai.
. Xét tính chất hành vi, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi mua bán trái phép 0,69 gam Methamphetamine thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng, xuất phát từ suy nghĩ dùng ma túy thuê các đối tượng nghiện ma túy làm ruộng nương vừa rẻ, vừa dễ tìm được người làm thuê dẫn đến phạm tội như ngày hôm nay. Tuy nhiên hành vi của bị cáo đã trực tiếp tiếp tay cho tệ nạn nghiện chất ma túy trong xã hội bị pháp luật nghiêm cấm.
Xét nhân thân thấy rằng, ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa bị kết án về tội danh nào khác, chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bị cáo là phụ nữ dân tộc Mông là đồng bào dân tộc thiểu số, không đi học văn hóa, không biết chữ, không biết tiếng phổ thông chỉ ở nhà lao động sản xuất nông nghiệp, lấy chồng sinh con nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế; bản thân bị cáo hiện nay đang là mẹ của 03 người con trong đó có 02 con còn nhỏ đang tuổi ăn học ( sinh năm 2014, 2018); hoàn cảnh gia đình chỉ sống phụ thuộc vào làm nông nghiệp, qua xác minh tại địa phương không có tài sản gì có giá trị nên hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thấy rằng: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, thái độ thành khẩn, ăn năn mong được hưởng sự khoan hồng của pháp luật đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
. Về hình phạt:
Hình phạt chính: Từ phân tích về hành vi phạm tội, tính chất hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội, tuy nhiên mức hình phạt cũng cần cân nhắc đến tính chất hành vi, nhân thân của bị cáo và thái độ ăn năn hối cải như đã phân tích trên để cho bị cáo mức thấp hơn đề xuất của đại diện Viện kiểm sát vừa hợp tình, hợp lý.
Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy, nghề nghiệp của bị cáo làm nông nghiệp, kinh tế gia đình khó khăn khó có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của đại diện viện Kiểm sát viên.
Do hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Và Thị M xảy ra trước ngày 01/7/2025 nên áp dụng mức hình phạt theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015( sửa đổi năm 2017) mà không áp dụng quy định Luật số 86/2025/QH 15 ngày 25/6/2025 luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự quy định sửa đổi, bổ sung Điều 249 về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” đối với bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về vật chứng vụ án: Theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, vật chứng đã thu giữ của bị cáo cần xử lý như sau:
- Đối với 0,42 gam Methamphetamine được hoàn lại sau khi giám định, đây là vật Nhà nước cấm Mua bán, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 túi nilon màu xanh và vỏ phong bì niêm phong cũ, là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số và thuộc địa bàn đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, chấp nhận miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
. Về các vấn đề khác trong vụ án: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo khai mua Methamphetamine của một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 20 tuổi nhưng không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có đủ cơ sở để điều tra làm rõ, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Và Thị M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Và Thị M 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 09/5/2025).
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 0,42 gam Methamphetamine được hoàn lại sau khi giám định.
- 01 túi nilon màu xanh và vỏ phong bì niêm phong cũ.
(Vật chứng đã được mô tả Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản vào hồi 15 giờ 00 phút ngày 04/8//2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Phòng thi hành án dân sự khu vực 2, tỉnh Điện Biên).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo
5. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/8/2025).
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 2 - Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; - Phân trại tạm giam Mường Thanh; - Phòng HSNV Công an tỉnh Điện Biên; - Phòng GĐ TTr, KT&THA, TAND tỉnh Điện Biên; - Công an tỉnh Điện Biên; - THADS tỉnh Điện Biên; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Nga |