vanban.org

Bản án 32/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thành X phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Lê Thành X 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy Ban nhân dân xã Cái Bè, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Buôn bán hàng cấm - sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thành X phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5
Bản án số: 32/2026/HS-ST
Ngày: 27/3/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ KHU VỰC 5 – ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hòa

Ông Nguyễn Văn Tám

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2026/TLST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2026/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

Lê Thành X, sinh ngày 04 tháng 4 năm 1967 tại tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp). Số căn cước công dân: 082067019979, Nơi cư trú: số 138, tổ 3, ấp K, xã C, tỉnh Đ; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn D, sinh năm đã chết) và bà Lê Thị B, sinh năm 1937 (đã chết); anh chị em có 04 người, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; vợ Hồ Thị Kim L, sinh năm 1967; con có 03 người, lớn nhất sinh năm 1992 nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án: không, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh, từ ngày 30/9/2025 cho đến nay (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Hồ Thị Kim L, sinh ngày 14 tháng 12 năm 1967 (có mặt);

Số căn cước công dân: 082167003304;

Địa chỉ: số 138, Tổ 3, ấp K, xã C, tỉnh Đ.

2. Lê Quốc Thái, sinh ngày 13 tháng 9 năm 2003 (có đơn xin vắng mặt);

Số căn cước công dân: 082203005707;

Địa chỉ: số 138, Tổ 3, ấp K, xã C, tỉnh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thành X kinh doanh mua bán thuốc lá điếu tại Ki ốt ở chợ H thuộc ấp K, xã C, tỉnh Đ. Trong quá trình kinh doanh, vào ngày 20/9/2025, X đã liên hệ người đàn ông (chưa rõ họ tên và địa chỉ) để mua 2.150 Bo thuốc lá điếu nhập lậu các loại: 620 Bo thuốc lá điếu nhãn hiệu JET, 245 Bo thuốc lá điếu nhãn hiệu SCOTT, 510 Bo thuốc lá điếu nhãn hiệu HERO, 345 Bo thuốc lá điếu nhãn hiệu TETON và 200 Bo thuốc lá điếu nhãn hiệu RAYMOND, với giá 33.470.000 đồng về cất giữ tại nhà ở địa chỉ: số 138, tổ 3, ấp K, xã C, tỉnh Đ và tại Ki ốt để bán lại cho khách hàng để kiếm lời. Từ ngày 20/9/2025 đến ngày 27/9/2025 đã bán 49 Bo thuốc lá điếu (gồm: 19 Bo thuốc lá hiệu JET, 14 Bo thuốc lá hiệu HERO, 06 Bo thuốc lá hiệu RAM và 10 Bo thuốc lá hiệu SCOTT), thu lợi bất chính số tiền 52.000 đồng.

Vào lúc 05 giờ 45 phút ngày 27/9/2025, Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Đồng Tháp phối hợp Công an xã Cái Bè tiến hành kiểm tra Ki ốt của X, phát hiện bên trong Ki ốt có 384 Bo thuốc lá điếu nhập lậu, gồm: 118 Bo thuốc lá điếu nhãn hiệu JET, 65 Bo thuốc lá nhãn hiệu NELSON, 40 Bo thuốc lá điếu nhãn hiệu RAM, 20 Bo thuốc lá điếu nhãn hiệu TETON.

Ngoài ra, Lê Thành X tự nguyện giao nộp 1.717 Bo thuốc lá điếu nhập lậu đang cất giấu tại nhà của X, gồm: 200 Bo thuốc lá điếu nhãn hiệu RAYMOND, 305 Bo thuốc lá nhãn hiệu NELSON, 64 Bo thuốc lá điếu nhãn hiệu RAM, 483 Bo thuốc lá nhãn hiệu JET, 395 Bo thuốc lá nhãn hiệu HERO, 170 Bo thuốc lá nhãn hiệu SCOTT, 100 Bo thuốc lá điếu nhãn hiệu TETON.

Qua làm việc Lê Thanh X thừa nhận hành vi mua bán thuốc lá điếu nhập lậu để bán lại cho khách hàng kiếm lời.

Văn bản số 166/CVTĐ-2025 ngày 30/9/2025 của Hiệp hội thuốc lá Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh xác định:

- 2.101 Bo thuốc lá điếu có dán nhãn hiệu: JET (601 Bo), SCOTT (235 Bo), NELSON (345 Bo), RAM (104 Bo), TETON (120 Bo), RAYMOND (200 Bo) và HERO (496 Bo) đều không có dán tem và in cảnh báo sức khỏe bằng hình và bằng tiếng Việt Nam trên 02 mặt trước và sau của Bo thuốc lá.

- Căn cứ Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm 2020 của Chính phủ về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; 2.101 Bo thuốc lá điếu có các nhãn hiệu như trên là thuốc lá điếu nhập lậu, đề nghị Quý có quan xử lý theo quy định.

Sau khi sự việc phạm tội bị phát hiện, bị cáo X đã tích cực phối hợp với Cơ quan điều tra và tự nguyện giao nộp 1.717 Bo thuốc lá điếu nhập lậu. Bị cáo đã giao nộp số tiền thu lợi bất chính là 52.000 đồng.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 2.101 Bo thuốc lá điếu nhập lậu, gồm: 601 Bo thuốc lá điếu hiệu JET, 235 Bo thuốc lá hiệu SCOTT, 345 Bo thuốc lá điếu hiệu NELSON, 104 Bo thuốc lá điếu hiệu RAM, 120 Bo thuốc lá điếu hiệu TETON, 200 Bo thuốc lá điếu hiệu RAYMOND và 496 Bo thuốc lá điếu hiệu HERO.

- Tạm giữ tại Ki ốt của Lê Thành X: 04 túi nylon có quai xách dùng để chứa thuốc lá điếu nhập lậu;

- Tạm giữ tại nhà của Lê Thành X: 07 túi nylon màu đen dùng để chứa thuốc lá điếu nhập lậu.

Tại bản cáo trạng số 44/CT-VKSKV5 ngày 02 tháng 3 năm 2026 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Đồng Tháp truy tố bị cáo Lê Thành X về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Thành X đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không khiếu nại các quyết định cũng như hành vi của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đối với vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thành X đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm”.

- Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 190; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn Điều 6 của Bộ luật hình sự về treo và Nghị quyết số 01/2022 NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị quyết số 02/2018/ NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo: xử phạt bị cáo Lê Thành X từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 (B) năm đến 04 (bốn) năm. Giao bị cáo cho Ủy Bn nhân dân xã Cái Bè giám sát giáo dục.

- Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 4 Điều 190 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 2.101 Bo thuốc lá điếu nhập lậu, 11 túi nylon có quai xách. Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền 52.000 đồng.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo sẽ sửa sai, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận về hành vi đã thực hiện đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời thừa nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Xét, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Bởi lẽ, trong khoảng thời gian từ ngày 20/9/2025 đến 27/9/2025, Lê Thành X mua 2.150 Bo thuốc lá điếu nhập lậu, gồm: 620 Bo thuốc lá điếu nhãn hiệu JET, 245 Bo thuốc lá điếu nhãn hiệu SCOTT, 510 Bo thuốc lá điếu nhãn hiệu HERO, 345 Bo thuốc lá điếu nhãn hiệu NELSON, 110 Bo thuốc lá điếu nhãn hiệu RAM, 120 Bo thuốc lá điếu nhãn hiệu TETON và 200 Bo thuốc lá điếu nhãn hiệu RAYMOND về bán tại Ki ốt thuộc ấp Khu phố, xã Cái Bè, tỉnh Đồng Tháp và căn nhà số 138 tổ 3, ấp Khu phố, xã Cái Bè, tỉnh Đồng Tháp, để bán lại cho người khác nhằm thu lợi bất chính. Đến 05 giờ 45 phút ngày 27/9/2025, Lê Thành X bị Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Đồng Tháp phối hợp Công an xã Cái Bè phát hiện, tạm giữ 2.101 Bo thuốc lá điếu nhập lậu, gồm: 601 Bo thuốc lá điếu hiệu JET, 235 Bo thuốc lá hiệu SCOTT, 345 Bo thuốc lá điếu hiệu NELSON, 104 Bo thuốc lá điếu hiệu RAM, 120 Bo thuốc lá điếu hiệu TETON, 200 Bo thuốc lá điếu hiệu RAYMOND và 496 Bo thuốc lá điếu hiệu HERO. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 52.000 đồng. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản sự việc, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi buôn bán thuốc lá điếu có nguồn gốc nhập lậu là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm thu lợi bất chính. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Lê Thành X đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có;

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện giao nộp lại số tiền thu lợi bất chính 52.000 đồng; tích cực hợp tác cơ quan có trách nhiệm điều tra tội phạm nên đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình. Nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo, không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, xử lý bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo để bị cáo tự cải tạo trong sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú vẫn đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 4 Điều 190 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xét thấy, cần xử phạt bị cáo số tiền 40.000.000 đồng.

Đối với đối tượng bán thuốc lá điếu nhập cho Lê Thành X, hiện tại chưa xác định được họ tên và địa chỉ nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra và xử lý sau.

Đối với bà Hồ Thị Kim L và anh Lê Quốc Thái không biết bị cáo X thực hiện hành vi buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý trách nhiệm hình sự là phù hợp.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 2.101 Bo thuốc lá điếu nhập lậu, gồm: 601 Bo thuốc lá điếu hiệu JET, 235 Bo thuốc lá hiệu SCOTT, 345 Bo thuốc lá điếu hiệu NELSON, 104 Bo thuốc lá điếu hiệu RAM, 120 Bo thuốc lá điếu hiệu TETON, 200 Bo thuốc lá điếu hiệu RAYMOND và 496 Bo thuốc lá điếu hiệu HERO; 04 túi nylon có quai xách dùng để chứa thuốc lá điếu nhập lậu tại Ki ốt của Lê Thành X; 07 túi nylon màu đen dùng để chứa thuốc lá điếu nhập lậu tại nhà của Lê Thành X là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tuyên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với số tiền 52.000 đồng gồm: 01 tờ giấy bạc mệnh giá 50.000 đồng, 01 tờ giấy bạc mệnh giá 2.000 đồng, toàn bộ được niêm phong vào 01 bì thư dán kín, trên bì thư có chữ ký và họ tên Lê Thành X, Đại úy Võ Thành Công và dấu mộc tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp là tiền bị cáo có được do thu lợi bất chính nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Xét đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Đồng Tháp là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Thành X phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 190; điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Lê Thành X 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy Ban nhân dân xã Cái Bè, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo.

- Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 4 Điều 190 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo số tiền 40.000.000 (Bốn mươi triệu) đồng.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 2.101 Bo thuốc lá điếu nhập lậu, gồm: 601 Bo thuốc lá điếu hiệu JET, 235 Bo thuốc lá hiệu SCOTT, 345 Bo thuốc lá điếu hiệu NELSON, 104 Bo thuốc lá điếu hiệu RAM, 120 Bo thuốc lá điếu hiệu TETON, 200 Bo thuốc lá điếu hiệu RAYMOND và 496 Bo thuốc lá điếu hiệu HERO; 04 túi nylon có quai xách dùng để chứa thuốc lá điếu nhập lậu tại Ki ốt của Lê Thành X; 07 túi nylon màu đen dùng để chứa thuốc lá điếu nhập lậu tại nhà của Lê Thành X.

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: số tiền 52.000 đồng gồm: 01 tờ giấy bạc mệnh giá 50.000 đồng, 01 tờ giấy bạc mệnh giá 2.000 đồng, toàn bộ được niêm phong vào 01 bì thư dán kín, trên bì thư có chữ ký và họ tên Lê Thành X, Đại úy Võ Thành Công và dấu mộc tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng tài sản ngày 26 tháng 3 năm 2026).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Bn thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị Kim L được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lê Quốc Thái có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

Cỡ chữ