vanban.org

Bản án 32/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn S, Thạch V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi niêm phong ký hiệu 75/2025/KH3/M, ghi ngày 12/8/2025, có các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Hoàng Thao dấu tròn màu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sơn-Vũ - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn S, Thạch V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13 – VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 32/2026/HS-ST
Ngày 26/3/2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 – VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phương Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Diệp Chanh Tha, chức vụ: Hiệu trưởng Trường Phổ thông dân tộc Nội trú Trung học cơ sở và Trung học Phổ thông Trà Cú.

Ông Kim Ngọc Trường, chức vụ: Trưởng khoa khám bệnh, Bệnh viện đa khoa Khu vực Trà Cú.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ý Nhi – Thư ký, Tòa án nhân dân Khu vực 13 – Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân Khu vực 13 – Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Kim Sum, Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 13 – Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2026/TLST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2026; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 31/2026/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 3 năm 2026 đối với các bị cáo:

1. Trần Văn S, sinh ngày 27/01/2001, tại tỉnh Vĩnh Long; Nơi cư trú ấp Bến Tr, xã Tập S, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C (đã chết) và bà Lưu Thị Kim L, sinh ngày 01/01/1966; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Ngày 30/9/2023, bị Toà án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh (nay là Toà án nhân dân Khu vực 13 – Vĩnh Long) xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 55/2023/HS-ST đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xoá án tích; tiền sự: 01 lần, tại Quyết định số 211/QĐ-XPHC ngày 17/6/2023 của UBND thị trấn Trà Cú, huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh (củ) xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn S số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; nhân thân: xấu; Bị tạm giam 22/8/2025 cho đến nay, có mặt.

2. Thạch V, sinh ngày 25/01/2009, tại tỉnh Vĩnh Long; Nơi cư trú ấp Bến Tr, xã Đại A, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch Tr, sinh năm 1980 và bà Tăng Thị Na V, sinh năm 1981; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tốt; Bị tạm giam ngày 18/12/2025 cho đến nay, có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo Thạch V: Ông Thạch Văn T, Luật sư thực hiện Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước số 3 tỉnh Vĩnh Long, có mặt.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Thạch V: Bà Tăng Thị Na V, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp Bến Tr, xã Đại A, tỉnh Vĩnh Long, có mặt.

- Người làm chứng:

Chị Thạch Thị Cẩm G, sinh ngày 05/8/2010. Địa chỉ: Ấp Bến Tr, xã Đại A, tỉnh Vĩnh Long, có mặt.

Người đại diện theo pháp luật của chị Thạch Thị Cẩm G: Bà Tăng Thị Na V, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp Bến Tranh, xã Đại An, tỉnh Vĩnh Long, có mặt.

Người phiên dịch: Ông Thạch Dân – cán bộ hưu trí. Địa chỉ: Ấp 5, xã Trà Cú, tỉnh Vĩnh Long, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 04/8/2025, bị cáo Thạch V sử dụng mạng xã hội Mesenger nhắn tin cho bị cáo Trần Văn S để rủ bị cáo S đi chơi thì bị cáo S đồng ý. Bị cáo S kêu bị cáo V đến nhà bà Lưu Thị Kim Lành (mẹ ruột bị cáo S), sinh năm 1966, địa chỉ ấp 1, xã Trà Cú, tỉnh Vĩnh Long đón bị cáo S thì bị cáo V đồng ý, bị cáo V điều khiển xe mô tô biển số 84K2 - 1904 đến địa chỉ nêu trên để đón bị cáo S đi chơi. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 05/8/2025, bị cáo V có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma tuý nên nói với bị cáo S mỗi người hùn 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) mua ma tuý về cùng nhau sử dụng thì bị cáo S đồng ý. Do bị cáo S có sẵn ma tuý đã mua trước đó và đang cất giữ tại nhà mẹ ruột nên bị cáo S nói bị cáo V điều khiển xe mô tô trên về nhà mẹ ruột của bị cáo S lấy ma túy. Khi bị cáo S và bị cáo V về đến đầu đường vô nhà bà Lành, bị cáo V đậu xe bên ngoài đợi, còn bị cáo S đi bộ vào nhà lấy 02 (hai) đoạn ống hút bằng nhựa hàn kín hai đầu bên trong chứa chất ma tuý loại Methamphetamine rồi đi ra, lên xe mô tô để bị cáo V chở bị cáo S về nhà bà của bị cáo V tại ấp Bến Tranh, xã Đại An, tỉnh Vĩnh Long sử dụng trái phép chất ma túy.

Đến khoảng 02 giờ ngày 05/8/2025, bị cáo V lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý ra đưa cho bị cáo S. Các bị cáo kêu Thạch Thị Cẩm Giang, sinh ngày 05/8/2010, cùng nơi thường trú với bị cáo V (em ruột của bị cáo V) cùng sử dụng trái phép chất ma tuý thì Cẩm Giang đồng ý. Lúc này, bị cáo S lấy ra một đoạn ống nhựa chứa chất ma tuý và dùng quẹt gas đốt một đầu ống nhựa cho hở ra rồi đỗ chất ma tuý vào trong ống thuỷ tinh (nỏ) và dùng quẹt gas đốt ống thủy tinh (nỏ) cho ma tuý tan chảy rồi sử dụng hút trước, tiếp theo đến lượt bị cáo V và Giang mỗi người tự đốt sử dụng. Sau khi sử dụng hết ma tuý trong ống thủy tinh (nỏ), bị cáo S lấy ra 01 (một) đoạn ống nhựa còn lại bên trong chứa chất ma tuý và dùng quẹt gas đốt một đầu ống nhựa hở ra rồi đỗ chất ma tuý vào ống thuỷ tinh (nỏ) và dùng quẹt gas đốt đầu ống thuỷ tinh (nỏ) cho ma tuý tan chảy thì đầu ống thuỷ tinh (nỏ) bị vỡ không sử dụng ma túy được nên tất cả cùng nghỉ, bị cáo S lấy đoạn ống thuỷ tinh còn lại cất giấu ở gốc dừa bên hong nhà của bị cáo V. Sau đó, bị cáo S ở nhà của bị cáo V chơi đến sáng ngày 06/8/2025 thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện và lập biên bản như trên.

Tại hiện trường, Cơ quan Công an phát hiện, lập biên bản tạm giữ và niêm phong 01 (một) ống thủy tinh (cây nỏ) là dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra chất ma túy trong cơ thể bằng biện pháp test nhanh nước tiểu của bị cáo S, bị cáo V và Cẩm Giang kết quả: 03 người trên đều dương tính với ma túy loại Methamphetamine. Tại Cơ quan Công an, bị cáo Thạch V và bị cáo Trần Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi nêu trên. (Bút lục số 01-20; 47-70)

Căn cứ Bản kết luận giám định số: 75/KL-KTHS-KV3 ngày 12 tháng 8 năm 2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long, kết luận: Bên trong 01 (một) đoạn ống thủy tinh (nỏ) được niêm phong gửi giám định có tìm thấy ma túy, loại Methamphetamine, dạng vết không xác định được khối lượng.

Căn cứ Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số: 5735/KLGĐĐT - C09B ngày 03/12/2025 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh (C09B) - Bộ Công an, kết luận: Quá trình giám định, kết quả cận lâm sàng, xác định tại thời điểm giám định Thạch V có độ tuổi từ 17 năm đến 17 năm 06 tháng. Tính theo tình tiết có lợi cho người thực hiện hành vi phạm tội lấy độ tuổi là 17 năm. Như vậy, tại thời điểm bị cáo Thạch V thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 05/8/2025 thì bị cáo Thạch V có độ tuổi là 16 tuổi 8 tháng. (Bút lục số 21-23; 70a-71).

Ngày 08/8/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Long ra quyết định khởi tố vụ án hình sự tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý xảy ra ngày 05/8/2025, tại ấp Bến Tranh, xã Đại An, tỉnh Vĩnh Long.

Ngày 18/8/2025 và ngày 14/12/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Vĩnh Long ra quyết định khởi tố bị cáo đối với Trần Văn S và Thạch V về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Áp dụng biện pháp ngăn chặn ra lệnh tạm giam phục vụ điều tra.

Đối với Thạch Thị Cẩm Giang không có giúp sức, không cung cấp ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy, Giang chỉ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, khi sử dụng ma túy là người đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi. Hành vi của Giang không có dấu hiệu tội phạm nên cơ quan điều tra đã giao cho Công an xã Đại An xử lý.

Đối với xe mô tô biển số 84K2 – 1904 là xe của bị cáo V, bị cáo sử dụng xe mô tô này để đi lấy ma tuý về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên trên đường đi lấy ma túy do không có giấy phép lái xe và có hành vi vi phạm giao thông nên đã bị Công an thu giữ nên không xem xét xử lý.

Đối với ma túy bị cáo S và bị cáo V sử dụng do không xác định được nhân thân, lai lịch của người bán ma túy cho bị cáo S nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Vật chứng còn đang quản lý gồm: 01 (một) túi niêm phong ký hiệu 75/2025/KH3/M, ghi ngày 12/8/2025, có các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Hoàng Thao dấu tròn màu đỏ nội dung “Phòng kỹ thuận hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long” bên trong đựng: 01 (một) đoạn thuỷ tinh không xác định hình dạng, đầu ống thuỷ tinh bị vỗ phần phễu.

Tại Cáo trạng số 40/CT-VKS-HS, ngày 29/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 – Vĩnh Long truy tố các bị cáo Trần Văn S và bị cáo Thạch V về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025).

Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn S và Thạch V khai nhận: các bị cáo thống nhất với nhau về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đúng như cáo trạng truy tố, các bị cáo không có ai thay đổi lời khai.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên ông Kim Sum đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 – Vĩnh Long vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như bản Cáo trạng đã nêu.

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Văn S và Thạch V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 52, Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025): Xử phạt bị cáo Trần Văn S từ 08 năm đến 09 năm tù.

Đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025); Điều 119, Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên: Xử phạt bị cáo Thạch V từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm 01 tháng tù. Ngoài ra Kiểm sát viên còn đề nghị xử lý vật chứng và buộc các bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Luật sư thực hiện Trợ giúp viên pháp lý ông Thạch Văn Tuyền là người bào chữa cho bị cáo Thạch V trình bày: Khẳng định Cáo trạng số: 40/CT-VKS-HS, ngày 29/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13 – Vĩnh Long truy tố bị cáo Thạch V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là đúng. Luật sư thực hiện Trợ giúp viên pháp lý không bào chữa về tội danh và khung hình phạt mà chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bởi vì quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo V thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo có trình độ học vấn thấp, khả năng am hiểu pháp luật hạn chế, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 119, Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Trần Văn S không nói lời sau cùng.

Bị cáo Thạch V nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn S, Thạch V khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng bản Cáo trạng mô tả, phù hợp với lời khai, biên bản hỏi cung của các bị cáo khai tại Cơ quan điều tra; lời khai người làm chứng và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Khoảng 02 giờ ngày 05/8/2025, tại nhà bà Lâm Thị Hưng, địa chỉ ấp Bến Tranh, xã Đại An, tỉnh Vĩnh Long (bà của bị cáo Thạch V), bị cáo V rủ bị cáo Trần Văn S hùn mỗi người 100.000 đồng mua ma túy sử dụng, bị cáo S đồng ý. Bị cáo S có sẵn ma túy đã mua trước đó, bị cáo Thạch V lấy dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy rồi các bị cáo rủ Thạch Thị Cẩm Giang, sinh ngày 05/8/2010 (là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi) cùng sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an tiến hành kiểm tra, phát hiện và lập biên bản. Kết quả test nhanh nước tiểu của bị cáo S, bị cáo V và Cẩm Giang đều dương tính với ma túy loại Methamphetamine. Khi các bị cáo tổ chức và sử dụng trái phép ma túy tại nhà bà Lâm Thị Hưng (bà của bị cáo V) đang ngủ nên không biết việc này.

Căn cứ Bản kết luận giám định số: 75/KL-KTHS-KV3 ngày 12 tháng 8 năm 2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long, kết luận: Bên trong 01 (một) đoạn ống thủy tinh (nỏ) được niêm phong gửi giám định có tìm thấy ma túy, loại Methamphetamine, dạng vết không xác định được khối lượng.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận các bị cáo đã hùn tiền mua ma túy, loại Methamphetamine và cùng nhau tổ chức sử dụng ma tuý tại nhà của bà Lâm Thị Hưng (bà của bị cáo V) để sử dụng trái phép chất ma túy.

Từ những chứng cứ, căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Trần Văn S, Thạch V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025), như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định pháp luật. Những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã xâm hại đến chế độ quản lý của Nhà nước về ma túy, ma túy là chất độc hại, chất gây nghiện, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đồng thời phát sinh nhiều loại tội phạm khác, do đó mọi hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đều bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nghiêm khắc. Các bị cáo nhận thức và biết rõ tác hại trực tiếp do ma túy gây ra đối với bản thân, gia đình và xã hội, nhưng các bị cáo vẫn cố ý tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà bà của bị cáo V thì bị Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng của vụ án, gửi đi giám định kết luận là chất ma túy Methamphetamine; từ đó đã dẫn các bị cáo đến con đường phạm tội.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo S có 01 tiền án, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo có trình độ học vấn thấp. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Thạch V là người chưa thành niên. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, các bị cáo nhận thức và biết được hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện phạm tội đến cùng, với lỗi cố ý trực tiếp, tội phạm đã hoàn thành, hậu quả đã xảy ra. Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo được thể hiện: Các bị cáo hùn tiền mua, các bị cáo tổ chức cùng nhau sử dụng chất ma túy, bị cáo V cung cấp bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy và sử dụng địa điểm tại nhà của bà bị cáo V đang ở để sử dụng ma túy, mục đích của các bị cáo là mong muốn đưa chất ma túy vào cơ thể con người, hành vi phạm tội của các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm với vai trò như nhau để cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo diễn ra một cách công khai, thể hiện các bị cáo xem thường pháp luật, làm ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, nhất là tội phạm về ma túy trong tình hình hiện nay. Tuy nhiên, khi phạm tội bị cáo Thạch V chưa thành niên, khả năng nhận thức chưa đầy đủ, bị cáo chưa có tiền án. Căn cứ tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định xử phạt các bị cáo một mức hình phạt tù nhất định, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) túi niêm phong ký hiệu 75/2025/KH3/M, ghi ngày 12/8/2025, có các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Hoàng Thao dấu tròn màu đỏ nội dung “Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long” bên trong đựng: 01 (một) đoạn thuỷ tinh không xác định hình dạng, đầu ống thuỷ tinh bị vỗ phần phễu. Các bị cáo đã sử dụng các vật chứng này để làm công cụ thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng trên là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí hình sự: Buộc các bị cáo Trần Văn S, Thạch V, mỗi bị cáo có nghĩa vụ nộp 200.000 đồng.

[4 ] Xét lời bào chữa của ông Thạch Văn Tuyền, Luật sư thực hiện Trợ giúp viên pháp lý trình bày lời bào chữa cho bị cáo Thạch V về tội danh, đề nghị áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 119 và Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét lời luận tội của Kiểm sát viên trình bày về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm nêu trên là có căn cứ và được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn S, Thạch V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 52; Điều 53; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025). Xử phạt bị cáo Trần Văn S 08 (tám) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 22 tháng 8 năm 2025.

- Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025); Điều 119, Điều 179 Luật tư pháp người chưa thành niên. Xử phạt bị cáo Thạch V 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 18 tháng 12 năm 2025.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi niêm phong ký hiệu 75/2025/KH3/M, ghi ngày 12/8/2025, có các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Hoàng Thao dấu tròn màu đỏ nội dung “Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long” bên trong đựng: 01 (một) đoạn thuỷ tinh không xác định hình dạng, đầu ống thuỷ tinh bị vỗ phần phễu.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Trần Văn S, bị cáo Thạch V, mỗi bị cáo có nghĩa vụ nộp 200.000 đồng án phí.

4. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị cáo Thạch V có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Cỡ chữ