- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh H bị truy tố về tội Buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thành H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH ĐỒNG NAI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2024/HS-ST Ngày 31-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lâm
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Kim Xuyến
Ông Hoài Đức Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Đình Linh Chi- Là Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Thành H (tên gọi khác: Lê Văn H), sinh năm 1998 tại tỉnh Thái Nguyên. Nơi cư trú: đường K, tổ dân phố 2, thị trấn Ch, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; chỗ ở hiện nay: Số 7, Đường số 1, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn V và bà Nguyễn Thị H; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 30/9/2016, bị cáo H bị Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cướp giật tài sản”. Đến ngày 30/6/2018 bị cáo chấp hành xong bản án.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 29/10/2023 và chuyển sang tạm giam đến nay. Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do muốn có tiền tiêu xài, Lê Thành H đã nảy sinh ý định lên mạng xã hội đặt mua pháo nổ (loại pháo hoa nổ) mang về bán kiếm lời. Ngày 26/10/2023, H nhắn tin qua zalo với Trương Ngọc B ở Gia Lai đặt mua 10 giàn pháo hoa nổ với giá 620.000 đồng/1 giàn. H và B thỏa thuận giao hàng thông qua nhà xe A&E. Sau khi thảo thuận xong, H sử dụng số tài khoản 834664664 của Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB) chuyển khoản cho B có số tài khoản 62110000728991 số tiền 6.200.000 đồng. Đến 09 giờ 20 ngày 29/10/2023, H điện thoại thuê một người (chưa rõ lai lịch) chạy grap đến nhà xe A&E tại Bến xe M, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để nhận pháo, sau đó, chở số pháo trên đến đường 319 thuộc ấp B, xã Ph, huyện N, tỉnh Đồng Nai đưa cho H để H bán cho một người có tên Đức Ph (chưa rõ lai lịch) với giá 730.000 đồng/1 giàn, còn H điều khiển xe mô tô Yamaha Sirius, biển kiểm soát 59X1-002.02 đi theo sau. Khi H nhận được pháo và đang đứng chờ Đức Ph để giao pháo thì bị lực lượng Công an tỉnh Đồng Nai phối hợp với Công an xã Ph, huyện N phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Vật chứng vụ án gồm:
+ 10 hộp giấy kích thước 16,5cm x 16,5cm x 10cm/hộp. Tổng trọng lượng 16,6 kg thu giữ của Lê Thành H.
+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone X, gắm sim số 0792.527.315 thu giữ của Lê Thành H.
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 59X1 -002.02
Tại Kết luận giám định số 6914/KL-KTHS ngày 31/10/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 10 khối hộp hình chữ nhật có kích thước 16,5cm x 16,5cm x 10cm bên ngoài dán giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49 ống giấy hình trụ tròn dài 10cm, đường kính 2,3cm là pháo nổ (pháo nổ hoa). Khi đốt cháy bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng 16,6kg.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả giám định nêu trên.
Tại bản Cáo trạng số 36/CT.VKS-NT ngày 17/01/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố bị cáo Lê Thành H về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo H từ 16 đến 18 tháng tù.
Bị cáo Lê Thành H không có ý kiến gì đối với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện N.
Lời nói sau cùng của bị cáo Lê Thành H tại phiên tòa: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Thành H đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có tại hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở xác định:
Vào lúc 13 giờ 15 ngày 29/10/2023, tại đường 319 thuộc ấp B, xã Ph, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Lê Thành H đang bán 10 hộp pháo nổ (loại pháo nổ hoa), có tổng khối lượng 16,6kg cho một người có tên Đức Ph (chưa rõ lai lịch) thì bị phát hiện bắt quả tang.
Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố để kết luận bị cáo Lê Thành H phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị Toà án xử phạt tù cho hưởng án treo về hành vi cướp giật tài sản. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 4 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ 20.000.000đ đến 100.000.000đ. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo khai không có việc làm và không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà, bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về biện pháp tư pháp:
- Tịch thu tiêu huỷ số pháo có tổng khối lượng 16,6kg được đóng gói, niêm phong theo kết luận giám định số 6914/KL-KTHS ngày 31/10/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh và 01 sim số 0792.527.315 do bị cáo H sử dụng vào việc phạm tội.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại hiệu Iphone X của Lê Thành H sử dụng vào việc phạm tội.
Đối với mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 59X1-002.02 do H mượn của anh Nguyễn Văn H. Anh H không biết H sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra Công an huyện N đã trả xe cho anh H là đúng quy định của pháp luật.
Đối với Trương Ngọc B đã bán pháo nổ (loại pháo hoa nổ) cho Lê Thành H, hiện chưa làm việc được với B nên Cơ quan điều tra Công an huyện N tách ra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với người tên Đức Ph đặt mua pháp nổ của Lê Thành H, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra Công an huyện N sẽ tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo Lê Thành H phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thành H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Thành H 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2023.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tuyên tịch thu tiêu huỷ số pháo có tổng khối lượng 16,6kg được đóng gói, niêm phong theo kết luận giám định số 6914/KL-KTHS ngày 31/10/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh và 01 sim số 0792.527.315 của bị cáo Lê Thành H sử dụng vào việc phạm tội.
- Tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại hiệu Iphone X của Lê Thành H sử dụng vào việc phạm tội.
(Vật chứng nêu trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện N đang lưu giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/01/2024)
4. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Thành H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND huyện N; - Công an huyện N; - Chi cục thi hành án DS huyện N; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Văn Lâm |