vanban.org

Bản án 32/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An Tuyên án 26/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

C n cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 65 của BLHS; Điều 136 Điều 102 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14.

Tuyên bố: Bị cáo Thái Doãn C bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Bu n bán h ng cấm”. Về hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Thái Doãn C và đồng phạm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? C n cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 65 của BLHS; Điều 136 Điều 102 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔ LƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 32/2024/HS-ST
Ngày: 26-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Duy Phi Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần V n Luyện ng Thái Kh c Thiệu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ Lương tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn C ng H i - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 n m 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 4 n m 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 n m 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Th i D n C, tên gọi khác: Kh ng; sinh n m 1990 nơi sinh: huyện Đ Lương tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm Đ xã H huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Thái Doãn H đã chết , họ tên mẹ: Thái Thị Đ, sinh n m: 1968; V l Nguyễn Thị L sinh n m 1998; Con: có 02 con lớn nhất sinh n m 2021 nh nhất sinh n m 2023; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị b t tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/02/2024 đến ngày 29/02/2024, hiện nay đang bị áp dụng biện pháp ng n chặn “cấm đi kh i nơi cư trú”. Có mặt.

2. Họ và tên: Nguy n Th L, tên gọi khác: Không; Sinh n m 1998, nơi sinh: huyện Đ Lương tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm Đ xã H huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới t nh: Nữ; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Nguyễn Tất T, sinh n m: 1970; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh n m: 1974; Ch ng: Thái Doãn C sinh n m 1990; Con: Có 02 con lớn nhất sinh n m 2021 nh nhất sinh n m 2023; Tiền án, Tiền sự: không; Bị cáo không bị b t tạm giữ tạm giam v bị áp dụng biện pháp ng n chặn “Cấm đi kh i nơi cư trú”. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Ho ng Đ c Q, sinh ngày 22/02/2006. V ng mặt.

Nơi cư trú: Xóm Minh Thọ, xã H, huyện Đ, Nghệ An.

2. Anh Trần Đ ng Đ sinh ng y 09 tháng 12 n m 2006. V ng mặt.

Nơi cư trú:Xóm Vạn Yên, xã H, huyện Đ, tỉnh Nghệ An.

Ngư i đại diện theo pháp luật của anh Trần Đình Đạt l b Giản Thị Lương sinh n m 1962. V ng mặt.

Nơi cư trú:Xóm Vạn Yên, xã H, huyện Đ, tỉnh Nghệ An.

3. Nguyễn Đức C, sinh ngày 20/06/2006. V ng mặt

Nơi cư trú: Xóm Đ ng Xuân xã H, huyện Đ, Nghệ An

Ngư i đại diện theo pháp luật của anh Nguyễn Đức C ng l b Ho ng Thị Hiền sinh n m 1978. V ng mặt.

Nơi cư trú: Xóm Đ ng Xuân xã H, huyện Đ, Nghệ An

4. Chị Thái Thị C sinh n m 1978. V ng mặt.

Nơi cư trú: Xóm Minh Thọ xã Hòa Sơn huyện Đ Lương tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đư c tóm t t như sau:

Vào giữa tháng 01 n m 2024 bị cáo Thái Doãn C khi làm phụ xe cho xe khách “Hà Phương” (chạy tuyến Thành phố H Chí Minh vể Thành phố Vinh) đã gặp nói chuyện với một ngư i đ n ng l khách đi trên xe bị cáo C không biết tên địa chỉ của ngư i khách này) v biết đư c ngư i khách này biết ngư i bán pháo nổ nên bị cáo C đã nh ngư i đ n ng n y gọi điện đặt mua 04 (bốn) khối pháo nổ với mục đ ch l nhằm bán lại để kiếm l i. Ngư i đ n ng này đ ng ý gọi điện đặt mua pháo nổ cho bị cáo C và nói giá của 04 (Bốn) khối pháo nổ, loại 49 quả với giá là 4.800.000 (Bốn triệu tám tr m nghìn) đ ng, khi n o xe khách chạy đến tỉnh Quảng Trị sẽ có ngư i đưa pháo ra. Cùng ng y khi xe khách chạy đến Thành Phố Đ ng H tỉnh Quảng Trị, bị cáo C thấy có ngư i đ n ng đứng bên đư ng vẫy tay (Thái Doãn C không biết nhân thân địa chỉ của ngư i n y th ng qua ngư i khách ng i trên xe, bị cáo C biết ngư i vẫy tay l ngư i bán pháo nổ nên đã xuống xe giao dịch mua pháo nổ từ ngư i đ n ông này. Cụ thể; Ngư i đ n ng đưa cho bị cáo C một thùng giấy catton, dán kín, bên trong có chứa 04 (Bốn) khối pháo nổ và Thái Doãn C đưa số tiền 4.800.000 (Bốn triệu tám tr m nghìn) đ ng cho ngư i đ n ng n y r i bê thùng catton n y lên xe khách để cất dấu. Sau khi xe khách chạy về đến thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, bị cáo C đã gửi nh một xe t tư nhân đưa thùng catton gửi về nhà mình ở xóm Đ ng Xuân xã H, huyện Đ và bị cáo C đã gọi điện cho v của mình là bị cáo Nguyễn Thị L ra nhận h ng. Đến khoảng 11 gi trưa cùng ngày, bị cáo Nguyễn Thị L đã ra nhận thùng catton do bị cáo C gửi về và đem v o nh cất dấu ở dưới gầm giư ng của gia đình mình lúc n y Bị cáo L chưa biết bên trong thùng catton có pháo nổ. Đến ng y 27 tháng 01 n m 2024 Nguyễn Thị L đã mở thùng cát tông này ra kiểm tra thì phát hiện bên trong thùng catton có chứa 04 (Bốn) khối pháo nổ. S bị phát hiện nên Nguyễn Thị L tiếp tục cất giấu số pháo nổ n y dưới gầm giư ng nhà mình.

Khoảng 13 gi , ngày 02/02/2024, có anh Ho ng Đ c Q, sinh ngày 22/02/2006, trú tại xóm Minh Thọ, xã H, huyện Đ, Nghệ An và Trần Đ ng Đ, sinh ng y 09 tháng 12 n m 2006 trú tại xóm Vạn Yên, xã H, huyện Đ, tỉnh Nghệ An cùng đến gặp Nguyễn Đức C, sinh ngày 20/06/2006, trú tại xóm Đ ng Xuân xã H, huyện Đ, Nghệ An để nh Nguyễn Đức C đi mua pháo nổ. Nguyễn Đức C biết Ho ng Đ c Q muốn mua pháo nổ về sử dụng dịp tết và nghe thông tin bị cáo Thái Doãn C làm nghề phụ xe khách B c Nam thư ng có pháo nổ nên đã đ ng ý giúp Ho ng Đ c Q. Ngay sau đó Ho ng Đ c Q sử dụng xe mô tô Honda Lead, biển kiểm soát 37D1-73708 (Chiếc xe mô tô này là của chị Thái Thị C sinh n m 1978 trú tại xóm Minh Thọ, xã H, huyện Đ, tỉnh Nghệ An làm chủ sở hữu) chở Nguyễn Đức C đến nhà bị cáo C để h i mua pháo nổ. Do bị cáo C lúc n y đang l m phụ xe ở Thành phố H Chí Minh, không có ở nhà nên Nguyễn Đức C xin số điện thoại của bị cáo C từ Bị cáo L. Sau khi xin đư c số điện thoại Nguyễn Đức C gọi điện cho bị cáo C qua số thuê bao 0393.844.624 và nói “em là Công, cháu ông Trí Cúc đây, anh bán cho em 03 (ba) cối pháo nổ loại 49 quả”. Nghe Nguyễn Đức C nói vậy, để xác minh có phải l cháu ng Tr Cúc l ngư i cùng xóm của bị cáo C) thì bị cáo C nói anh Nguyễn Đức C đưa điện thoại để gặp v l bị cáo Nguyễn Thị L để xác nhận: bị cáo C h i Bị cáo L: “Có phải thằng Công cháu ông Trí không” thì Bị cáo L trả l i: “đúng rồi, là cháu ông Trí Cúc”. Sau khi đư c Bị cáo L xác nhận l ngư i cùng xóm thì bị cáo C đ ng ý bán pháo cho Nguyễn Đức C và nói với Bị cáo L đưa pháo nổ cho Nguyễn Đức C đ ng th i nói chuyện với Nguyễn Đức C và nói giá của khối pháo nổ loại 49 quả là 1.500.000 (Một triệu n m tr m nghìn) đ ng/1 khối (Tổng 03 khối pháo là 4.500.000 đ ng). Bị cáo L sau khi nghe bị cáo C nói chuyện thì hiểu ý của ch ng mình là bị cáo C đ ng ý bán 03 (Ba) khối pháo nổ cho Nguyễn Đức C nên Bị cáo L đã v o trong nh lấy 03 (Ba) khối pháo nổ trong thùng catton ra đưa cho Ho ng Đ c Q và Nguyễn Đức C. Đối với 01(một) khối pháo nổ còn lại, Thái Doãn C và Nguyễn Thị L sẽ bán cho ngư i có nhu cầu mua để kiếm l i. Sau đó biết Ho ng Đ c Q và Nguyễn Đức C chưa có tiền trả thì Nguyễn Thị L đã yêu cầu Ho ng Đ c Q và Nguyễn Đức C phải để lại tài sản để làm tin thì Nguyễn Đức C đưa cho Nguyễn Thị L hai chiếc điện thoại của mình g m: 01 (một điện thoại di dộng Samsung galaxy J4 và 01(một) chiếc điện thoại Iphone 6 để làm tin và hẹn chiều tối đưa tiền trả để lấy lại điện thoại. Ngay sau đó Nguyễn Thị L đưa 03 ba khối pháo cho Ho ng Đ c Q b pháo vào cốp xe và chở Nguyễn Đức C về nh .

Đến khoảng 16 gi 40 phút ngày 02/02/2024, khi Ho ng Đ c Q điều khiển xe mô tô bên trong cốp có chứa 03 (Ba) khối pháo nổ đi đến nhà Trần Đ ng Đ chở Đạt tìm chỗ v ng vẻ để xem và chia số pháo trên. Khi đi đến khu vực đư ng liên xóm thuộc xóm Vạn Yên, xã H, huyện Đ, Nghệ An thì bị lực lư ng Công an huyện Đ Lương kiểm tra, phát hiện, thu giữ tang vật g m 03 (ba) khối pháo nổ trong cốp xe niêm phong theo đúng quy định; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda lead, màu vàng biển kiểm soát 37D1-737.08, tiến hành lập biên bản sự việc v đưa về trụ sở Công an huyện Đ Lương để làm việc.

Đến 21 gi ngày 02/02/2024, sau khi biết anh Ho ng Đ c Q bị lực lư ng Công an huyện Đ Lương phát hiện và thu giữ 03 (ba) khối pháo nổ. Bị cao Nguyễn Thị L đến Công an huyện Đ Lương tỉnh Nghệ An đầu thủ v giao nộp 01(một) khối pháo nổ có dạng hình hộp chữ nhật k ch thước tương đ ng nhau 18cm x 18cm x 10cm, bên ngoài bọc giấy có nhiều màu s c khác nhau, trên bề mặt mỗi khối có nhiều chữ nước ngoài, bên trong có chứa 49 khối hình trụ g n liền nhau và 02 (hai) chiếc điện thoại trước đó Nguyễn Đức C đưa cho Nguyễn Thị L cầm để làm tin g m: 01(Một điện thoại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Sam sung GALAXY J4, m u đen số seri R58M21Z6JGB, IMEI 1: 355021104358848, IMEI2: 355022104358846, không kiểm tra tình trạng máy bên trong; 01(Một điện thoại màn hình cảm ứng, nhan hiệu Iphone 6s Plus, màu vàng, số seri: FCGSD01FHFM5, số imei: 353330079606921 máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong.

Đến ng y 26 tháng 02 n m 2024 bị cáo Thái Doãn C đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ Lương đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình v giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia m u đen đã qua sử dụng.

Vào lúc 14 gi ngày 03 tháng 02 n m 2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ Lương tỉnh Nghệ An đã tiến hành lập Hội đ ng mở niêm phong xác định khối lư ng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại và lấy 03 (ba) khối hình hộp chữ nhật (Nghi là pháo nổ) thu giữ của anh Ho ng Đ c Q và anh Trần Đ ng Đ có tổng khối lư ng 5 283 kg N m phẩy hai tr m tám mươi ba kil gam đư c ký hiệu là M1; 01(một) khối hình hộp chữ nhật (Nghi là pháo nổ) thu giữ của Nguyễn Thị L có khối lư ng là 1,865 kg (Một phẩy tám tr m sáu mươi l m kil gam) đư c ký hiệu là M2 gửi đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 274/KL-KTHS Đ2-CN) ngày 08 tháng 02 n m 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Nghệ An kết luận: Các mẫu vật g m ký hiệu M1 M2 gửi đến giám định đều l pháo thuộc loại pháo nổ. Mẫu vật giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Cáo trạng số 37/VKS-HS ngày 15/4/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ Lương, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Thái Doãn C, Nguyễn Thị L về tội “Buôn bán hàng cấm” theo khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ Lương tỉnh Nghệ An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố v đề nghị:

Về hình phạt:

- Áp dụng khoản 1 điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của BLHS; Xử phạt bị cáo Thái Doãn C từ 15 (mư i l m) tháng tù đến 18 (mư i tám) tháng tù về tội “Bu n bán h ng cấm” nhưng cho hưởng án treo, th i gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L từ 12 (mư i hai) tháng tù đến 15 (mư i l m) tháng tù về tội “Bu n bán h ng cấm” nhưng cho hưởng án treo, th i gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Thái Doãn C và bị cáo Nguyễn Thị L.

Về trách nhiệm dân sự: Ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên không xét.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS Điều 106 BLTTHS, tuyên xử: Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy J4 m u đen số seri R58M21Z6JGB, IMEI 1: 355021104358848, IMEI2: 355022104358846 máy đã qua sử dụng cho anh Nguyễn Đức C ng; Trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda lead, màu vàng biển kiểm soát 37D1-737.08 cho chị Ho ng Thị Châu; Tịch thu hóa giá sung c ng quỹ Nh nước 01 một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus m u v ng, seri: FCGSD01FHFM5, số imei: 353330079606921 máy cũ đã qua sử dụng; 01 một điện thoại nhãn hiệu Nokia m u đen số IMEI1: 353482151281428, số IMEI2: 353482153281426, g n sim số: 0393844624, đã qua sử dụng.

Về án phí: Bị cáo Thái Doãn C, bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan anh Ho ng Đ c Quân v ng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình giải quyết vụ án khai: Khoảng 13 gi , ngày 02/02/2024, anh Ho ng Đ c Q và Trần Đ ng Đ cùng nhau đến gặp anh Nguyễn Đức C để nh anh C ng đi mua pháo nổ v anh Công đ ng ý. Sau đó anh Q sử dụng xe mô tô Honda Lead, biển kiểm soát 37D1-73708 chở anh C ng đến nhà bị cáo Thái Doãn C để h i mua pháo nổ. Khi đến nơi thì gặp bị cáo Nguyễn Thị L l v bị cáo Thái Doãn C nên anh Nguyễn Đức C xin số điện thoại của bị cáo C từ Bị cáo L v gọi điện cho bị cáo C qua số thuê bao 0393.844.624 và nói “em là Công, cháu ông Trí Cúc đây, anh bán cho em 03 (ba) cối pháo nổ loại 49 quả”. Nghe Nguyễn Đức C nói vậy để xác minh có phải là cháu ông Trí Cúc l ngư i cùng xóm của bị cáo C) thì bị cáo C nói anh Nguyễn Đức C đưa điện thoại để gặp v l bị cáo Nguyễn Thị L để xác nhận: bị cáo C h i Bị cáo L: “Có phải thằng Công cháu ông Trí không” thì Bị cáo L trả l i: “đúng rồi, là cháu ông Trí Cúc”. Sau khi đư c Bị cáo L xác nhận l ngư i cùng xóm thì bị cáo C đ ng ý bán pháo cho Nguyễn Đức C và nói với Bị cáo L đưa pháo nổ cho Nguyễn Đức C đ ng th i nói chuyện với Nguyễn Đức C và nói giá của khối pháo nổ loại 49 quả là 1.500.000 (Một triệu n m tr m nghìn) đ ng/1 khối (Tổng 03 khối pháo là 4.500.000 đ ng). Bị cáo L sau khi nghe bị cáo C nói chuyện thì hiểu ý của ch ng mình là bị cáo C đ ng ý bán 03 (Ba) khối pháo nổ cho Nguyễn Đức C nên Bị cáo L đã v o trong nh lấy 03 (Ba) khối pháo nổ trong thùng catton ra đưa cho Ho ng Đ c Q và Nguyễn Đức C. Sau đó biết Ho ng Đ c Q và Nguyễn Đức C chưa có tiền trả nên Nguyễn Đức C phải để lại 02 chiếc điện thoại để làm tin. Sau khi mua đư c pháo nổ Ho ng Đ c Q b pháo vào cốp xe và chở Nguyễn Đức C về nh .

Đến khoảng 16 gi 40 phút ngày 02/02/2024, khi anh Q điều khiển xe mô tô bên trong cốp có chứa 03 (Ba) khối pháo nổ đi đến nhà Trần Đ ng Đ chở anh Đạt tìm chỗ v ng vẻ để xem và chia số pháo trên. Khi đi đến khu vực đư ng liên xóm thuộc xóm Vạn Yên, xã H, huyện Đ, Nghệ An thì bị lực lư ng Công an huyện Đ Lương kiểm tra, phát hiện, thu giữ tang vật g m 03 (ba) khối pháo nổ; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda lead, màu vàng biển kiểm soát 37D1-737.08, tiến hành lập biên bản sự việc v đưa về trụ sở Công an huyện Đ Lương để làm việc. 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda lead, màu vàng biển kiểm soát 37D1-737.08 bị thu giữ l của chị Thái Thị C việc anh Q sử dụng xe đi mua pháo nổ chị Châu kh ng biết.

Ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đức C ng v ng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình giải quyết vụ án khai: Chiều ngày 02/02/2024, có anh Ho ng Đ c Q và anh Trần Đ ng Đ đến gặp anh C ng để nh anh C ng đi mua pháo nổ v do biết bị cáo Thái Doãn C có pháo nổ để bán nên anh Công đ ng ý. Sau đó anh Q sử dụng xe mô tô Honda Lead, biển kiểm soát 37D1-73708 chở anh C ng đến nhà bị cáo Thái Doãn C để h i mua pháo nổ. Khi đến nh bị cáo C chỉ gặp bị cáo Nguyễn Thị L l v bị cáo C ở nh nên anh Công xin số điện thoại của bị cáo C từ Bị cáo L. Sau khi xin đư c số điện thoại anh C ng dùng điện thoại Iphone 6S Plus gọi điện cho bị cáo C qua số thuê bao 0393.844.624 và nói “em là Công, cháu ông Trí Cúc đây, anh bán cho em 03 (ba) cối pháo nổ loại 49 quả”. Khi nghe anh Công nói vậy bị cáo C nói anh C ng đưa điện thoại cho v l bị cáo Nguyễn Thị L để xác nhận. Sau khi đư c Bị cáo L xác nhận l ngư i cùng xóm thì bị cáo C đ ng ý bán pháo cho anh Công và nói với Bị cáo L đưa pháo nổ cho anh C ng đ ng th i nói giá của khối pháo nổ loại 49 quả là 1.500.000 (Một triệu n m tr m nghìn) đ ng/1 khối (Tổng 03 khối pháo là 4.500.000 đ ng). Sau đó Bị cáo L đã v o trong nh lấy 03 (Ba) khối pháo nổ trong thùng catton ra đưa cho anh Ho ng Đ c Q và anh Công. Do chưa có tiền trả nên anh C ng để lại 02 chiếc điện thoại để làm tin. Sau khi mua đư c pháo nổ anh Q b pháo vào cốp xe và chở Nguyễn Đức C về nh .

Sau đó anh C ng biết đư c sự việc C ng an huyện Đ Lương tỉnh Nghệ An b t giữ anh Đạt anh Q. Đối với chiếc điện thoại m anh C ng đưa cho Bị cáo L sau đó Bị cáo L giao nộp cho cơ quan Điều tra c ng an huyện Đ Lương tỉnh Nghệ An anh C ng có đề nghị đư c nhận lại chiếc điện thoại Samsung Glaxy J4.

Ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan anh Trần Đình Đạt v ng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình giải quyết vụ án khai: Khoảng 13 gi , ngày 02/02/2024, anh Đạt cùng với anh Ho ng Đ c Q đến gặp Nguyễn Đức C để nh anh Công đi mua pháo nổ v anh Nguyễn Đức C đ ng ý. Sau đó Hoàng Đ c Q sử dụng xe mô tô Honda Lead, biển kiểm soát 37D1-73708 chở Nguyễn Đức C đến nhà bị cáo Thái Doãn C để h i mua pháo nổ. Việc trao đổi mua bán pháo nổ thế n o anh Đạt kh ng r .

Đến khoảng 16 gi 40 phút ngày 02/02/2024, khi anh Q điều khiển xe mô tô bên trong cốp có chứa 03 (Ba) khối pháo nổ đi đến nhà Trần Đ ng Đ chở anh Đạt tìm chỗ v ng vẻ để xem và chia số pháo trên. Khi đi đến khu vực đư ng liên xóm thuộc xóm Vạn Yên, xã H, huyện Đ, Nghệ An thì bị lực lư ng Công an huyện Đ Lương kiểm tra, phát hiện, thu giữ tang vật g m 03 (ba) khối pháo nổ; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda lead, màu vàng biển kiểm soát 37D1-737.08, tiến hành lập biên bản sự việc v đưa về trụ sở Công an huyện Đ Lương để làm việc.

Ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan chị Thái Thị C v ng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình giải quyết vụ án đã khai: Chị Châu l chủ sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda lead, màu vàng biển kiểm soát 37D1-737.08. Việc Ho ng Đức Quân sử dụng xe m t để đi mua pháo nổ chị Châu kh ng biết. Nay chị Châu đề nghị đư c nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda lead, màu vàng biển kiểm soát 37D1-737.08. v kh ng có yêu cầu b i thư ng gì về dân sự.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố l đúng nên kh ng tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát v xin Hội đ ng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

. Về tố tụng:

. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Đ Lương, của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ Lương, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo ngư i tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì nên hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và ngư i tiến hành tố tụng là h p pháp.

. Về việc v ng mặt của ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan, ngư i đại diện theo pháp luật của ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan:

Tại phiên tòa ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan ngư i đại diện theo pháp luật của ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan v ng mặt nhưng quá trình điều tra họ đã có l i khai đầy đủ. Xét thấy việc v ng mặt của ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan ngư i đại diện theo pháp luật của ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên HĐXX tiếp tục xét xử vụ án l đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

. Về nội dung:

Xét hành vi của bị cáo:

Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố l đúng. Xét l i khai của các bị cáo phù h p với l i khai của ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác đã đư c thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng giữa tháng 1 n m 2024 đến ngày 02/02/2024 các bị cáo Thái Doãn C v bị cáo Nguyễn Thị L đã có h nh vi bu n bán h ng cấm l 04 (bốn) khối pháo nổ (loại 49 quả) có tổng khối lư ng là 7,148 kg (Bảy phẩy một tr m bốn mươi tám kilôgam). Tại th i điểm thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo l ngư i đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo có đủ khả n ng nhận thức v điều khiển hành vi của mình. Như vậy, hành vi của các bị cáo Thái Doãn C, Nguyễn Thị L đã phạm vào tội tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự như Cáo trạng truy tố l có c n cứ v đúng pháp luật.

Xét t nh chất h nh vi của bị cáo vai trò vị tr của các bị cáo.

Hành vi tội phạm m bị cáo Thái Doãn C bị cáo Nguyễn Thị L thực hiện thuộc loại nghiêm trọng, h nh vi phạm tội của các bị cáo l nguy hiểm cho xã hội kh ng những xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nh nước cụ thể là trong lĩnh vực h ng hóa m Nh nước cấm sản xuất, buôn bán, vận chuyển và tàng trữ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó cần phải xử phạt nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo v phòng ngừa chung.

Đây l vụ án có đ ng phạm nhưng mang t nh chất giản đơn tuy nhiên cần phân t ch vai trò vị tr của từng bị cáo để xử phạt các bị cáo với mức hình phạt tương xứng với t nh chất h nh vi vai trò vị tr của mỗi bị cáo.

Bị cáo Thái Do n C ng l ngư i thực h nh t ch cực bị cáo trực tiếp tìm mua pháo nổ sau khi mua đư c pháo nổ đã tìm cách vận chuyển về nh cất giữ để khi có ngư i h i mua thì đ ng ý bán với mục đ ch kiếm l i. Bị cáo L mặc dù kh ng phải l ngư i tìm mua pháo nổ nhưng khi biết đư c h nh vi mua pháo nổ của ch ng l bị cáo C đã tiến h nh cất giữ sau đó biết mục đ ch của bị cáo C l bán cho ngư i khác đã đ ng ý v thực hiện việc bán pháo cho ngư i khác. Như vậy bị cáo C có vai trò vị tr lớn hơn Bị cáo L nên cần xử phạt bị cáo C với mức hình phạt cao hơn Bị cáo L.

2.2 Xét tình tiết giảm nhẹ tình tiết t ng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo.

Về tình tiết t ng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội kh ng có tình tiết t ng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra truy tố cũng như tại phiên tòa các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn n n n hối cải; sau khi thực hiện h nh vi phạm bị cáo nhận thức h nh vi của mình l trái pháp luật nên các bị cáo đã đến cơ quan C ng an huyện Đ Lương đầu thú khai nhận đầy đủ về h nh vi phạm tội của mình; Bị cáo Nguyễn Thị L có ông nội là Nguyễn Tất Quán và bà nội l Đ o Thị Hân đư c tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất; Bị cáo Thái Doãn C có bố đẻ là Thái Doãn H ng đư c tặng thưởng Huân Chương Chiến Công, huân chương chiến sỹ vẻ vang và ông nội l Thái Doãn Nam đư c tặng kỷ niệm chương nên các bị cáo đư c hưởng tình tiết giảm nhẹ đư c quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện sự khoan h ng của pháp luật.

Xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, các bị cáo có nhân thân tốt, các bị cáo có nơi cư trú ổn định nên không cần cách ly bị cáo ra kh i đ i sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ sức r n đe, giáo dục bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội phạm n y ngư i phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung l phạt tiền nhưng xét các bị cáo có ho n cảnh khó kh n nghề nghiệp lao động tự do c ng việc kh ng ổn định thu nhập chỉ đủ nu i gia đình bị cáo kh ng có t i sản gì có giá trị nên miễn hình phạt bổ sung l phạt tiền cho các bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Hành vi của bị cáo không gây thiệt hại gì cho ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan v ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên HĐXX kh ng xem xét.

. Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan C ng an huyện Đ Lương tỉnh Nghệ An đã thu giữ: 04 (bốn) khối hình hộp chữ nhật, k ch thước tương đ ng nhau 18cm x 18cm x 10cm đư c bọc bằng giấy nhiều màu s c, phía trên có nhiều chữ nước ngoài, bên trong có chứa 49 khối hình trụ g n liên nhau có tổng khối lư ng là 7,148 kg nhưng đã mang to n bộ đi giám định, quá trình giám định đã sử dụng hết; Đối với 01 một xe mô tô nhãn hiệu Honda lead, màu vàng biển kiểm soát 37D1-737.08 quá trình điều tra xác minh chủ sở hữu l chị Thái Thị C v việc anh Q sử dụng xe m t của chị Châu để đi mua pháo nổ v o ng y 02/02/2024 chị Châu kh ng biết nên cần trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda lead, màu vàng biển kiểm soát 37D1-737.08 cho chị Thái Thị C; Đối với 01 một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus m u v ng seri: FCGSD01FHFM5, số imei: 353330079606921 máy cũ đã qua sử dụng; 01 một điện thoại nhãn hiệu Nokia m u đen số IMEI1: 353482151281428, số IMEI2: 353482153281426, g n sim số: 0393844624, đã qua sử dụng l c ng cụ để bị cáo C v anh Nguyễn Đức C ng liên lạc để thực hiện h nh vi mua bán pháo nổ nên cần tịch thu hóa giá sung c ng quỹ Nh nước; Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy J4 m u đen số seri R58M21Z6JGB, IMEI 1: 355021104358848, IMEI2: 355022104358846 máy đã qua sử dụng l điện thoai m Bị cáo L giao nộp l điện thoại của anh Nguyễn Đức C ng kh ng liên quan đến h nh vi phạm t i nên cần trả lại cho cho anh Nguyễn Đức C ng.

Đ i với anh Nguyễn Đức C, anh Ho ng Đ c Q anh Trần Đ ng Đạt đã thực hiện hành vi mua 03 (Ba) khối pháo nổ với tổng khối lư ng là 5,283 kg N m phẩy hai tr m tám mươi ba kil gam của các bị cáo Thái Doãn C và bị cáo Nguyễn Thị L chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ Lương đã chuyển Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Đ Lương để xử phạt vi phạm h nh ch nh đối với Nguyễn Đức C, Ho ng Đ c Q và Trần Đ ng Đ theo đúng thẩm quyền quy định.

Đối với ngư i đ n ng đã bán pháo nổ cho bị cáo C tại thành phố Đ ng Hà, tỉnh Quảng Trị vào giữa tháng 01 n m 2024. Do bị cáo C không quen biết, không thấy r đặc điểm hình dáng của ngư i đ n ng nay. Hiện tại Cơ quan CSĐT C ng an huyện Đ Lương chưa đủ c n cứ để xác định đối tư ng đã bán pháo nổ cho bị cáo Thái Doãn C nên chưa có c n cứ để xử lý. Khi n o điều tra xác minh đư c sẽ xử lý theo quy định pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị L, bị cáo Thái Doãn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ Lương tỉnh Nghệ An về việc giải quyết to n diện vụ án l có c n cứ phù h p với nhận định của Hội đ ng xét xử nên đư c chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

C n cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 47; Điều 65 của BLHS; Điều 136 Điều 102 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14.

Tuyên bố: Bị cáo Thái Doãn C bị cáo Nguyễn Thị L phạm tội “Bu n bán h ng cấm”.

Về hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Thái Doãn C 18 Mư i tám tháng tù nhưng cho hưởng án treo th i gian thử thách l 36 tháng kể từ ng y tuyên án ng y 26/4/2024 .

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 15 Mư i l m tháng tù nhưng cho hưởng án treo th i gian thử thách l 30 tháng kể từ ng y tuyên án ng y 26/4/2024 .

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bố sung cho bị cáo Thái Doãn C bị cáo Nguyễn Thị L.

Giao các bị cáo Thái Doãn C bị cáo Nguyễn Thị L cho Ủy ban nhân dân xã Hòa Sơn huyện Đ Lương tỉnh Nghệ An giám sát, giao dục các bị cáo trong th i gian chấp hành án treo. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối h p với Ủy ban nhân dân xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trư ng h p ngư i đư c hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định khoản 3 Điều 92; Điều 68 Luật thi hành án hình sự n m 2019.

Trong th i gian thử thách ngư i đư c hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngư i đư c hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về vật chứng: Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Sam Sung Galaxy J4 m u đen số seri R58M21Z6JGB, IMEI 1: 355021104358848, IMEI2: 355022104358846 máy đã qua sử dụng cho anh Nguyễn Đức C ng; Trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda lead, màu vàng biển kiểm soát 37D1-737.08 cho chị Ho ng Thị Châu; Tịch thu hóa giá sung c ng quỹ Nh nước 01 một điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus m u v ng seri: FCGSD01FHFM5, số imei: 353330079606921 máy cũ đã qua sử dụng; 01 một điện thoại nhãn hiệu Nokia m u đen số IMEI1: 353482151281428, số IMEI2: 353482153281426, g n sim số: 0393844624, đã qua sử dụng. (Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 16/4/2024 giữa Công an huyện Đô Lương với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An).

- Về án phí: Buộc bị cáo Thái Doãn C, bị cáo Nguyễn Thị L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ng y tuyên án ngư i có quyền l i nghĩa vụ liên quan v ng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đư c bản án hoặc bản án đư c tống đạt h p lệ.

Cỡ chữ