- Tranh chấp gì? án hình sự — "Triệu Quầy K - 232 - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (điều 232 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng xử lý vật chứng
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2023/HS-ST Ngày: 11-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mã Nguyệt Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Lê.
Bà Hoàng Thị Tuyết.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hồng Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Bà Nông Thùy Diệu - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2023/HSST-QĐ ngày 25 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Triệu Quầy K, tên gọi khác: Không. Sinh ngày 14 tháng 6 năm 1994, tại huyện N, tỉnh Cao Bằng. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Xóm Y, xã Q, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ học vấn: 6/12. Dân tộc: Dao. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Triệu Sồng Q (đã chết) và bà Triệu Mùi C (đã chết). Có vợ tên Triệu Mùi K, sinh năm 1993, có 02 con sinh năm 2012 và năm 2014. Bị cáo có 09 anh, chị em, bị cáo là con thứ chín. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29-4-2023 đến nay, hiện đang tại ngoại tại xóm Y, xã Q, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Ban quản lý rừng đặc dụng Phia Oắc - Phia Đén huyện Nguyên Bình.
Địa chỉ trụ sở: Xóm Pù Vài, xã Thành Công, huyện N, tỉnh Cao Bằng.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Bế Quốc V, sinh năm 1966; Chức vụ: Giám đốc Ban quản lý rừng đặc dụng Phia Oắc - Phia Đén huyện Nguyên Bình; Địa chỉ: Tổ 01 phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Có mặt.
+ Ông Triệu Quầy C, sinh năm 1985.
+ Ông Đặng Quầy P, sinh năm 1981.
+ Ông Triệu Quầy P1, sinh năm 1992.
Cùng địa chỉ: Xóm Y, xã Q, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Ông C, ông P vắng mặt; ông P1 có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 29-12-2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CQCSĐT) Công an huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng tiếp nhận kiến nghị khởi tố của Ban quản lý rừng đặc dụng Phia Oắc - Phia Đén huyện Nguyên Bình về việc có nhiều cây gỗ bị chặt hạ, khai thác trái phép tại lô 49 khoảnh 1 tiểu khu 334, trạng thái rừng đặc dụng TXG, thuộc xóm Y, xã Q, huyện N, tỉnh Cao Bằng, chủ rừng là Ban quản lý rừng đặc dụng Phia Oắc - Phia Đén huyện Nguyên Bình. Ngày 05-01-2023 và ngày 15-02-2023, CQCSĐT Công an huyện Nguyên Bình tiến hành khám nghiệm hiện trường tại khu vực rừng bị khai thác trái phép trên, kết quả xác định được có 35 gốc cây bị chặt hạ khai thác trái phép, tại hiện trường còn lại nhiều đoạn cây của 35 gốc cây bị chặt hạ. CQCSĐT Công an huyện Nguyên Bình tiến hành đánh số các cây bị khai thác trái phép theo thứ tự lần lượt từ 01 đến 34 và 01 gốc cây đánh số “1.C” đồng thời lập Bảng kê lâm sản bị khai thác, thu thập mẫu gỗ để phục vụ công tác điều tra.
Ngày 08-3-2023, CQCSĐT Công an huyện Nguyên Bình phân nhóm các mẫu gỗ thu thập được tại hiện trường, theo đó 35 gốc cây và các đoạn cây tại hiện trường có 05 nhóm gỗ giống nhau, CQCSĐT trích lấy mỗi nhóm đại diện một mẫu để giám định. Ngày 10-3-2023, CQCSĐT Công an huyện Nguyên Bình Quyết định trưng cầu giám định, gửi đến Viện nghiên cứu công nghiệp rừng, trưng cầu giám định 05 mẫu vật trích lấy từ đại diện 05 nhóm cây gỗ bị khai thác nêu trên. Tại bản kết luận giám định số 138/CNR-VP ngày 27-3-2023 của Viện nghiên cứu công nghiệp rừng kết luận: 05 mẫu vật gửi giám định là gỗ và có 04 chủng loại gỗ khác nhau: Dung thuộc nhóm gỗ "~ VIII "; Vối thuốc và Xoài rừng thuộc nhóm gỗ " ~ VI"; Xoan mộc thuộc nhóm gỗ “VI”. 04 loại gỗ trên không có tên trong “Danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm” ban hành theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22-9-2021 của Chính phủ và “Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” ban hành theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16-7-2019 của Chính Phủ. Như vậy, các loại gỗ bị khai thác trái phép trên là gỗ thông thường.
Ngày 15-6-2023 CQCSĐT Công an huyện Nguyên Bình yêu cầu định giá tài sản đối với khối lượng gỗ bị khai thác trái phép. Theo Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐG ngày 23-6-2023 của Hội đồng định giá tài sản hình sự huyện Nguyên Bình kết luận: Giá trị 01m3 gỗ tròn loại thông thường tại thời điểm định giá (tháng 6/2023) là 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng). Tổng giá trị 18,366m3 gỗ tròn loại thông thường là 33.058.800đ (Ba mươi ba triệu không trăm năm mươi tám nghìn đồng).
Quá trình điều tra xác định được như sau: Vào khoảng đầu tháng 12-2022, Triệu Quầy K, sinh ngày 14-6-1994, trú tại xóm Y, xã Q, huyện N, tỉnh Cao Bằng có kế hoạch làm nhà ở nên nảy sinh ý định lấy gỗ tại khu rừng đặc dụng thuộc xóm Y, xã Q. Một mình K mang theo 01 máy cưa xích đi đến rừng đặc dụng khai thác gỗ trong ba ngày: Ngày thứ nhất chặt hạ 02 cây, ngày thứ hai chặt hạ 02 cây, ngày thứ ba chặt hạ 01 cây. K lấy gỗ tốt của 05 cây đã chặt hạ xẻ được 74 tấm ván và vận chuyển về làm nhà, những đoạn gỗ khác của 05 cây trên K không lấy mà để lại hiện trường.
Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 05-01-2023, ngày 15-02-2023 và lời khai của Triệu Quầy K xác định được 05 cây gỗ K đã chặt hạ là các cây được đánh số thứ tự 30, 31, 32, 33, 34. Gốc cây 30 có đường kính 40cm, cao 40cm, bên cạnh có 02 đoạn gỗ của gốc cây này có đường kính và chiều dài lần lượt là 40x500cm và 30x30cm. Gốc cây 31 có đường kính 50cm, cao 70cm, bên cạnh có 01 đoạn gỗ của gốc cây này có đường kính 30cm và chiều dài 160cm. Gốc cây 32 có đường kính 38cm, cao 70cm, bên cạnh có 02 đoạn gỗ của gốc cây này có đường kính và chiều dài lần lượt là 30x80cm và 24x760cm. Gốc cây 33 có đường kính 45cm, cao 40cm, bên cạnh có 01 đoạn gỗ của gốc cây này có đường kính 30cm và chiều dài 300cm. Gốc cây 34 có đường kính 53cm, cao 30cm. Tổng khối lượng 05 cây gỗ mà K bỏ lại hiện trường là 1,545m3. Theo bảng kê lâm sản ngày 05-4-2023, 74 tấm gỗ mà K khai thác thu được ở nhà của K có khối lượng là 1,682m3. Tổng khối lượng gỗ K đã khai thác là 3,227m3.
Quá trình điều tra, Triệu Quầy K thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và có đơn tố giác Triệu Quầy C, sinh năm 1985 và Đặng Quầy P, sinh năm 1981 cùng trú tại xóm Y xã Q, huyện N, tỉnh Cao Bằng cũng có hành vi chặt hạ cây tại khu rừng K chặt cây. Căn cứ đơn tố giác của K CQCSĐT Công an huyện Nguyên Bình xác minh làm rõ được như sau:
Đặng Quầy P, sinh ngày 10-01-1981 cần gỗ để làm nhà nên P nảy sinh ý định lấy gỗ tại khu vực rừng đặc dụng thuộc xóm Y, xã Q. Một mình P mang theo 01 máy cưa xích đi đến rừng đặc dụng khai thác gỗ trong hai ngày: Ngày thứ nhất chặt hạ 02 cây và xẻ thành 09 tấm gỗ. Ngày thứ hai P nhờ Triệu Quầy C, sinh ngày 12-10-1985 và Triệu Quầy P1, sinh ngày 17-01-1992 cùng trú tại xóm Y, xã Q đến giúp P mang những tấm gỗ đã xẻ được về nhà. 02 cây gỗ P đã chặt hạ là các cây được đánh số thứ tự số 09 và số 10. Gốc cây số 09 có đường kính 42cm, cao 35cm. Gốc cây số 10 có đường kính 50cm, cao 35cm, bên cạnh có 02 đoạn gỗ của gốc cây này có đường kính và chiều dài lần lượt là 45x100cm và 40x160cm. Tổng khối lượng 02 cây gỗ mà P bỏ lại hiện trường là 0,477m3. Theo bảng kê lâm sản ngày 05-4-2023, 09 tấm gỗ mà P khai thác thu được ở nhà của P có khối lượng là 1,099m3. Tổng khối lượng gỗ P đã khai thác là 1,576m3.
Triệu Quầy C đang làm nhà ở nên mượn máy cưa của P để cưa xẻ gỗ cũ. Do thiếu gỗ nên C nảy sinh ý định lấy gỗ tại khu vực rừng đặc dụng xóm Y, xã Q. Một mình C mang theo máy cưa mượn của P đi đến rừng đặc dụng khai thác gỗ trong ba ngày: Ngày thứ nhất chặt hạ 01 cây và xẻ thành nhiều đoạn gỗ rồi vận chuyển về nhà. Ngày thứ hai C dùng máy cưa tiếp tục cưa cây đã chặt thành nhiều đoạn gỗ rồi vận chuyển về nhà. Ngày thứ ba, C nhờ P và P1 đến giúp vận chuyện những đoạn gỗ đã cắt xẻ mang về nhà. Từ những khúc gỗ vận chuyển về nhà P xẻ được 53 tấm gỗ. Cây gỗ C đã chặt hạ được đánh số thứ tự “1.C” có đường kính 75cm, cao 130cm, bị rỗng lõi, phần rỗng có đường kính 32,5cm. Bên cạnh gốc cây C chặt hạ có 01 khúc gỗ của gốc cây này có chiều dài 3,1m, đường kính 55cm, phần rỗng có đường kính 30cm. Tổng khối lượng gỗ mà C bỏ lại hiện trường là 0,983m3 (đã trừ khối lượng khúc bị rỗng của cây). Theo bảng kê lâm sản ngày 05-4-2023, 53 tấm gỗ mà C khai thác thu giữ tại nhà của C có khối lượng là 0,523m3. Tổng khối lượng gỗ C đã khai thác là 1,506m3.
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm có: 02 máy cưa xăng thu giữ của Triệu Quầy K và Đặng Quầy P hiện đang tạm giữ tại kho của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nguyên Bình theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 29a ngày 21-7-2023. 18,366m3 gỗ trong đó Ban quản lý rừng đặc dụng Phia Oắc - Phia Đén huyện Nguyên Bình đang quản lý, bảo quản 15,062m3 theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 29b ngày 27-7-2023; gia đình Triệu Quầy K đang quản lý 1,682m3 (74 tấm ván), gia đình Đặng Quầy P đang quản lý 1,099m3 (09 tấm ván), gia đình Triệu Quầy C đang quản lý 0,523m3 (53 tấm ván) theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 29c ngày 27-7-2023.
Với hành vi nêu trên, Cáo trạng số 23/CT-VKSNB ngày 12-7-2023 của Viện kiểm sát nhân huyện Nguyên Bình truy tố bị cáo Triệu Quầy K về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 232 của Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, sau khi đánh giá nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Triệu Quầy K phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
- Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm e khoản 1 Điều 232; điểm i, s, t khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Triệu Quầy K từ 12 (Mười hai) đến 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 (Hai mươi tư) cho đến 36 (Ba mươi sáu) tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng: Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước số gỗ thu giữ được trong vụ án và chiếc máy cưa.
- Về trách nhiệm dân sự: Ban quản lý rừng đặc dụng Phia Oắc - Phia Đén không yêu cầu nên không đề nghị xem xét.
- Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo, thuộc trường hợp được miễn án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.
- Đối với hành vi khai thác trái phép gỗ của Đặng Quầy P và Triệu Quầy C, chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với P và C.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản kiểm đếm lâm sản, bản kết luận giám định và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tự bào chữa. Khi nói lời sau cùng, bị cáo ăn năn hối hận và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, ông Bế Quốc V khai, Ban quản lý rừng đặc dụng Phia Oắc - Phia Đén huyện Nguyên Bình luôn cố gắng thực hiện tốt chức năng quản lý và bảo vệ rừng đối với Vườn Quốc gia Phia Oắc - Phia Đén. Tuy nhiên, do diện tích rừng lớn, lực lượng cán bộ của đơn vị mỏng, không thể tiến hành tuần tra, kiểm soát thường xuyên được hết các khu vực rừng thuộc quyền quản lý. Tháng 12-2022, Ban quản lý rừng phát hiện tại lô 49 khoảnh 1 tiểu khu 334, trạng thái rừng đặc dụng TXG, thuộc xóm Y, xã Q, huyện N, tỉnh Cao Bằng bị khai thác gỗ trái phép nên đã có đơn kiến nghị đề nghị CQCSĐT Công an huyện Nguyên Bình điều tra để làm rõ. Qua phiên tòa xét xử ngày hôm nay, Ban quản lý rừng đề nghị Hội đồng xét xử có mức hình phạt nghiêm khắc để xử lý bị cáo cũng như răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung đối với hành vi khai thác trái phép rừng đang diễn ra trên địa bàn huyện Nguyên Bình. Về thiệt hại đối với khối lượng gỗ đã khai thác, Ban quản lý không yêu cầu gì.
Tại phiên tòa, ông Triệu Quầy P1 khai, ông P1 có họ hàng với Triệu Quầy C và Đặng Quầy P. Khi C và P nhờ ông P1 vào rừng vận chuyển gỗ, ông P1 đã đồng ý giúp C và P vận chuyển gỗ về nhà nhưng ông P1 không được giúp C và P chặt hạ cây. Ông P1 cũng không được khai thác cây gỗ nào trong số các cây gỗ bị chặt hạ.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, ý kiến của người bào chữa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Nguyên Bình, Điều tra Viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa ngày 25-8-2023, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Triệu Quầy C, Đặng Quầy P được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ nhất không có lý do. Căn cứ Điều 292, Điều 297 của Bộ Luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa ngày 25-8-2023 và ấn định mở lại phiên tòa vào ngày 11-9-2023. Tại phiên tòa ngày 11-9-2023, ông Triệu Quầy C, Đặng Quầy P được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án.
Về hành vi phạm tội và tình tiết định khung:
Tại phiên tòa, bị cáo Triệu Quầy K thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo khai như sau: Do có nhu cầu làm nhà nên K một mình mang máy cưa vào khu vực rừng đặc dụng thuộc xóm Y, xã Q, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng chặt hạ 05 cây gỗ. K lấy gỗ tốt của 05 cây đó xẻ được 74 tấm ván và vận chuyển về để làm nhà, những đoạn gỗ khác của 05 cây trên K không lấy mà để lại hiện trường. Xét thấy, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường về địa điểm cây đã chặt hạ, trùng khớp với biên bản kiểm đếm gỗ về khối lượng gỗ đã khai thác. Theo bản đồ trích lục của Hạt kiểm lâm huyện Nguyên Bình, số cây bị cáo K đã khai thác thuộc lô 49 khoảnh 1 tiểu khu 334, trạng thái rừng đặc dụng TXG là rừng tự nhiên, thuộc xóm Y, xã Q, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Tổng khối lượng gỗ K đã chặt hạ quy đổi ra gỗ tròn là 3,227m3. Theo kết luận giám định số 138/CNR-VP ngày 27-3-2023 của Viện nghiên cứu công nghiệp rừng kết luận: 05 mẫu vật gửi giám định là gỗ và có 04 chủng loại gỗ khác nhau: Dung thuộc nhóm gỗ "~ VIII "; Vối thuốc và Xoài rừng thuộc nhóm gỗ " ~ VI"; Xoan mộc thuộc nhóm gỗ “VI”. 04 loại gỗ trên không có tên trong “Danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm” ban hành theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP ngày 22-9-2021 của Chính phủ và “Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” ban hành theo Nghị định số 64/2019/NĐ-CP ngày 16-7-2019 của Chính Phủ. Như vậy, 05 cây gỗ K khai thác là gỗ thông thường.
Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản quy định tại điểm e khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự.
" Điều 232. Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 243 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) …
e) Khai thác trái phép rừng đặc dụng là rừng tự nhiên từ 03 mét khối (m3) đến dưới 08 mét khối (m3) gỗ loài thực vật thông thường hoặc từ 01 mét khối (m3) đến dưới 03 mét khối (m3) gỗ thuộc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA;
...”.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình truy tố bị cáo về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 232 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất mức độ của vụ án:
Đây là vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, tuy nhiên hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, quy định của Nhà nước trong lĩnh vực khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản, xâm phạm tài nguyên rừng, xâm hại đến hệ sinh thái, ảnh hưởng đến sự bền vững, ổn định của môi trường, ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị ở địa phương. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với mức độ, hành vi của bị cáo để giáo dục riêng đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung đối với hành vi khai thác rừng trái phép.
Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân tốt, sinh sống ở nơi điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, gia đình thuộc hộ nghèo.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo tích cực hợp tác với CQCSĐT tố giác hành vi vi phạm pháp luật của Đặng Quầy P và Triệu Quầy C. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Quyết định hình phạt
Hình phạt chính: Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhẹ hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của bộ luật Hình sự. Xét thấy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội mà tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo, tu dưỡng tại địa phương sửa chữa sai lầm trở thành công dân có ích cho xã hội. Mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.
Hình phạt bổ sung: Khoản 4 Điều 232 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành hình phạt tiền bổ sung nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Các vấn đề khác: Đối với hành vi khai thác gỗ trái phép của Đặng Quầy P, Triệu Quầy C và Triệu Quầy P1 chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự do đó Ủy ban nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng đã quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với P, C, P1 theo các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1861/QĐ-XPVPHC; 1862/QĐ-XPVPHC; 1863/QĐ-XPVPHC ngày 19-7-2023 là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
Đối với 27 gốc cây còn lại chưa xác định được người chặt hạ, CQCSĐT Công an huyện Nguyên Bình đang tiếp tục xác minh, làm rõ. Khi có căn cứ sẽ được xử lý bằng một vụ án khác.
Về xử lý vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng xử lý vật chứng vụ án như sau:
Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 máy cưa xăng màu đỏ nhãn hiệu CHANIN SAW 5900, lưỡi lam dài khoảng 65cm, trên lưỡi lam có in chữ HUSQVNA, lưỡi lam đã tháo rời máy là công cụ bị cáo K dùng để khai thác gỗ. Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại kho của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nguyên Bình theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản số 29a ngày 21-7-2023.
Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 15,284m3 gỗ trong đó Ban quản lý rừng đặc dụng Phia Oắc - Phia Đén huyện Nguyên Bình đang quản lý, bảo quản 13,062m3 theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 29b ngày 27-7-2023; gia đình bị cáo Triệu Quầy K đang quản lý 1,682m3 theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 29c ngày 27-7-2023.
Đối với 1,576m3 gỗ do Đặng Quầy P khai thác (trong đó Ban quản lý rừng đặc dụng Phia Oắc - Phia Đén huyện Nguyên Bình đang quản lý, bảo quản 0,477m3 theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 29b ngày 27-7-2023; gia đình Đặng Quầy P đang quản lý 1,099m3 theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 29c ngày 27-7-2023) và 01 máy cưa xích màu cam có in chữ “SPANDA” có tay cầm màu đen có 01 lưỡi cưa có in chữ “HUSQVNA” (hiện đang tạm giữ tại kho của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 29a ngày 21-7-2023) được xử lý theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1863/QĐ-XPVPHC ngày 19-7-2023 của Ủy ban nhân dân huyện Nguyên Bình.
Đối với 1,506m3 gỗ do Triệu Quầy C khai thác (trong đó Ban quản lý rừng đặc dụng Phia Oắc - Phia Đén huyện Nguyên Bình đang quản lý, bảo quản 0,983m3 theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 29b ngày 27-7-2023; gia đình Triệu Quầy C đang quản lý 0,523m3 theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 29c ngày 27-7-2023) được xử lý theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1861/QĐ-XPVPHC ngày 19-7-2023 của Ủy ban nhân dân huyện Nguyên Bình.
Về án phí: Bị cáo K thuộc hộ nghèo, có đơn xin miễn nộp tiền án phí. Do đó, miễn án phí cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Triệu Quầy K phạm tội "Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.
Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 232; điểm i, s, t khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Triệu Quầy K 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban ban nhân dân xã Q, huyện N, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong thời gian bị cáo chấp hành án. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Q trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc phải chấp hành hình phạt tù, phạm tội mới thì phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 máy cưa xăng màu đỏ nhãn hiệu CHANIN SAW 5900, lưỡi lam dài khoảng 65cm, trên lưỡi lam có in chữ HUSQVNA, lưỡi lam đã tháo rời máy đang tạm giữ tại kho của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nguyên Bình theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 29a ngày 21-7-2023.
Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 15,284m3 gỗ trong đó Ban quản lý rừng đặc dụng Phia Oắc - Phia Đén huyện Nguyên Bình đang quản lý, bảo quản 13,062m3 theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 29b ngày 27-7-2023; gia đình bị cáo Triệu Quầy K đang quản lý 1,682m3 theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 29c ngày 27-7-2023.
Đối với 1,576m3 gỗ do Đặng Quầy P khai thác (trong đó Ban quản lý rừng đặc dụng Phia Oắc - Phia Đén huyện Nguyên Bình đang quản lý, bảo quản 0,477m3 theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 29b ngày 27-7-2023; gia đình Đặng Quầy P đang quản lý 1,099m3 theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 29c ngày 27-7-2023) và 01 máy cưa xích màu cam có in chữ “SPANDA” có tay cầm màu đen có 01 lưỡi cưa có in chữ “HUSQVNA” (hiện đang tạm giữ tại kho của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 29a ngày 21-7-2023) được xử lý theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1863/QĐ-XPVPHC ngày 19-7-2023 của Ủy ban nhân dân huyện Nguyên Bình.
Đối với 1,506m3 gỗ do Triệu Quầy C khai thác (trong đó Ban quản lý rừng đặc dụng Phia Oắc - Phia Đén huyện Nguyên Bình đang quản lý, bảo quản 0,983m3 theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 29b ngày 27-7-2023; gia đình Triệu Quầy C đang quản lý 0,523m3 theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 29c ngày 27-7-2023) được xử lý theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1861/QĐ-XPVPHC ngày 19-7-2023 của Ủy ban nhân dân huyện Nguyên Bình.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Triệu Quầy K.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa
- VKSND tỉnh;
- Sở Tư pháp;
- VKSND huyện;
- Công an huyện;
- Chi cục THADS huyện;
- Bị cáo;
- UBND xã Q;
- Lưu HS;
- Lưu AV.
Mã Nguyệt Thu
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒÀ
Hoàng Thị Lê Hoàng Thị Tuyết
Mã Nguyệt Thu
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - Sở Tư pháp; - VKSND huyện; - Công an huyện; - Chi cục THADS huyện; - Bị cáo; - UBND xã Q; - Lưu HS; - Lưu AV. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Mã Nguyệt Thu |