- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn B phạm tội vận chuyển gỗ trái phép - phạm tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (điều 232 Luật sử…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản,”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮK NÔNG Bản án số: 25/2018/HS-ST Ngày 30-5-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Vinh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Xuân Đức và bà HMhêl
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đình Hưng-Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tham gia phiên tòa: Ông Trần Việt Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2018/HSST ngày 16-5-2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2018/QĐXXST-HS ngày 17-5-2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn B, sinh năm 1979 tại Thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Thôn 5, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị D; có vợ là Nguyễn Thị H (đã chết) và có 02 con; tiền án: Không, tiền sự: 01 tiền sự, cụ thể: ngày 12-01-2018 bị Hạt kiểm lâm huyện Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển gỗ trái phép, hình thức xử phạt là phạt tiền với số tiền 15.000.000 đồng; bị bắt tạm giam ngày 23-02-2018 đến ngày 30-3-2018 được tại ngoại, bị cáo có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1954; địa chỉ: Thôn 5, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.
+ Anh Võ Đình T, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 12-01-2018, Hạt kiểm lâm huyện Đ ra Quyết định số 18/QĐ-XPVPHC, xử phạt vi phạm hành chính Nguyễn Văn B về hành vi vận chuyển gỗ trái phép; hình thức xử phạt là phạt tiền với số tiền 15.000.000 đồng.
Khoảng 21 giờ ngày 21-02-2018, Nguyễn Văn B gọi điện thoại cho Võ Đình T để nhờ khiêng giúp gỗ do trước đây Nguyễn Văn B khai thác rồi cất giấu ở vườn nhà lên xe ô tô tải thì Võ Đình T đồng ý. Nguyễn Văn B và Võ Đình T cùng khiêng 06 hộp gỗ xẻ lên xe ô tô tải nhãn hiệu Huyndai, biển kiểm soát 29C-030.60, xe này Nguyễn Văn B thuê của ông Nguyễn Văn H để chở hàng thuê. Khoảng 23 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn B điều khiển xe đi vào trung tâm xã Q để tìm xưởng gỗ xẻ lấy ván. Trên xe có Võ Đình T ngồi bên ghế phụ. Khi đi đến thôn 1B, xã Q thì bị lực lượng Công an huyện Đắk Glong phát hiện.
Vật chứng: 06 hộp gỗ xẻ khối lượng 2,979m3; 01 xe ô tô tải nhãn hiệu Huyndai, biển kiểm soát: 29C - 030.60; thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giữ nên ngày 20-4-2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong ra Quyết định xử lý vật chứng số 08 trả lại xe ô tô biển kiểm soát: 29C - 030.60 cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn H.
Tại Kết luận giám định số 05/2018/KL-GĐ ngày 23-2-2018 của Giám định viên tư pháp thuộc Hạt kiểm lâm huyện Đ kết luận: Sắc mộc, chủng loại gỗ: 06 hộp gỗ cần giám định là loài Re gừng; nhóm gỗ (nhóm thực vật) thuộc nhóm IV; về quy đổi khối lượng gỗ xẻ thành gỗ tròn: 4,766m3; về giá trị khối lượng gỗ: 7.435.200 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 24/CTr-VKS ngày 14-5-2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản,” theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong giữ nguyên quyết định truy tố, sau khi xem xét, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị: Về hình phạt: Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232, các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn B từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, thời gian bị tạm giam sẽ được trừ vào thời gian cải tạo không giam giữ; về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng số 08, ngày 20-4-2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong, trả lại xe ô tô biển kiểm soát: 29C - 030.60 cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn H và tịch thu, sung quỹ Nhà nước 06 khúc gỗ.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng, bị cáo ăn năn hối cải và xin hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Glong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 23 giờ ngày 21-02-2018, tại thôn 1B, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Nguyễn Văn B đã có hành vi vận chuyển trái phép 4,766m3 gỗ Re gừng, nhóm IV. Trước đó ngày 12-01-2018, Nguyễn Văn B đã bị Hạt kiểm lâm huyện Đ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền về hành vi vận chuyển gỗ trái phép nên đã phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản,” theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản,” theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự là đúng tội, đúng pháp luật, cụ thể: tại khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 243 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…
k) Tàng trữ, vận chuyển, chế biến hoặc mua bán trái phép…từ 20 mét khối (m3) đến dưới 40 mét khối (m3) gỗ loài thực vật rừng thông thường;
…
m) Khai thác, tàng trữ, vận chuyển, chế biến hoặc mua bán trái phép gỗ hoặc thực vật rừng ngoài gỗ có khối lượng hoặc giá trị dưới mức quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm l khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về môt trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.”
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, quy định của nhà nước trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ rừng. Bị cáo nhận thức được hành vi vận chuyển lâm sản khi không đủ điều kiện theo quy định là vi phạm pháp luật nhưng do muốn sử dụng số lượng gỗ trên vào mục đích cá nhân nên cố ý vi phạm để vận chuyển gỗ trái phép. Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo bị Hạt kiểm lâm huyện Đ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển gỗ trái phép, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân còn tiếp tục phạm tội nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt đủ nghiêm để răn đe và phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử cần xem xét khi quyết định hình phạt.
Xét hành vi của bị cáo lẽ ra cần cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhưng vì bị cáo có hoàn cảnh gia đình rất éo le: Khoảng đầu tháng 9 năm 2017, vợ bị cáo trên đường đưa con đi mua dụng cụ học tập về, thì bị cây đổ đè chết hai mẹ con, bị cáo là lao động chính trong gia đình, một mình bị cáo nuôi hai con nhỏ còn lại (có xác nhận của chính quyền địa phương). Hơn nữa, mục đích vận chuyển gỗ trái phép của bị cáo cũng vì để xẻ lấy ván đem về làm nhà cho các con nhỏ ở nên Hội đồng xét xử xét thấy hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là không mang tính nhân văn nên cần áp dụng khoản 1 Điều 36 Bộ luật Hình sự cho bị cáo tự cải tạo ngoài xã hội để có điều kiện bù đắp những tổn thất về tinh thần cho các con của bị cáo mới đảm bảo tính khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Đối với thời gian bị cáo bị tạm giam từ ngày 23-02-2018 đến ngày 30-3-2018 (36 ngày) được trừ vào thời gian cải tạo không giam giữ, 01 ngày tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ nên 36 ngày tạm giữ x 3 = 108 ngày cải tạo không giam giữ (03 tháng 18 ngày).
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng số 08 ngày 20-4-2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong, trả lại xe ô tô biển kiểm soát: 29C - 030.60 cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn H và tịch thu, sung quỹ Nhà nước đối với 06 thanh gỗ xẻ.
Đối với hành vi của Võ Đình T tham gia vận chuyển gỗ cùng Nguyễn Văn B, do khối lượng gỗ chưa đủ căn cứ để khởi tố về hình sự nên xử lý hành chính là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản,”.
Áp dụng điểm m khoản 1 Điều 232; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 36 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn B 09 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 23-02-2018 đến ngày 30-3-2018; bị cáo còn phải chấp hành 05 tháng 12 ngày cải tạo không giam giữ, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày chính quyền địa phương nơi bị cáo sinh sống nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng số 08 ngày 20-4-2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong và tịch thu, sung quỹ Nhà nước 06 khúc gỗ vuông. Đặc điểm vật chứng như Biên bản bàn giao ngày 18-5-2018 của cơ quan CSĐT và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm về phần có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án nếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm về phần có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - VKSND tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk Glong; - Công an huyện Đắk Glong; - Bộ phận HSNVCS Công an huyện Đắk Glong; - Chi cục THADS huyện Đ; - UBND xã (phường) nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Võ Văn Vinh |