- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lại Văn H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc Lại Văn H phải chịu 200.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 255 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2023/HS-PT Ngày 11-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Vinh
Các Thẩm phán:Ông Lê Quốc Hương và ông Lương Đức Dương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Trí - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tố Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông mở phiên toà xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 45/2023/TLPT-HS ngày 11 tháng 4 năm 2023 đối với Lại Văn H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 12/2023/HS-ST ngày 28-02-2023 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp.
Bị cáo có kháng cáo: Lại Văn H, sinh năm 1987 tại tỉnh Đồng Nai; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn 8, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; tạm trú: số 1103 N, tổ 7, khu phố Ô, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lại Văn C và bà Nguyễn Thị K; có vợ là Trần Thị M (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Bản án số 09/2005/HS-ST ngày 06-5-2005 của Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Đắk Nông, xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 38/2016/HS-ST ngày 05-7-2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, xử phạt 03 tháng 02 ngày tù về tội “Đánh bạc”; Bản án số 24/2018/HS-ST ngày 29-5-2018 của Tòa án nhân dân huyện Đắk G, tỉnh Đắk Nông, xử phạt 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”, đã chấp hành xong các bản án và đã xóa án tích; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01-5-2022 đến ngày 07-6-2022, tại ngoại; có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án có các bị cáo khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 01-5-2022, Trần Công C, Lại Văn H và Đặng Văn Th đang uống cà phê, H nghe điện thoại của Bùi Thiên T nói “anh đang ở đâu, còn ở Đắk Nông không, giờ em chuẩn bị đi Sài Gòn, anh em mình làm tí”. Nghe vậy, H ngầm hiểu Bùi Thiên T rủ sử dụng ma túy, nên nói cho C nghe, đồng thời, nói C tìm ma túy và địa điểm sử dụng. Sau đó, Th điều khiển xe ô tô chở H và C đến xã Đ, huyện Đ. Tại đây, C gặp tên B (không rõ nhân thân lai lịch), biết B có bán ma túy đá (Ketamine) và thuốc lắc (MDMA) nên hỏi mua 04 viên thuốc lắc và 01 gói ma túy đá với giá 5.000.000 đồng, B hẹn ra ngã ba xã Đ để giao. Sau khi đặt mua ma túy, C gọi cho Nguyễn Thị Thu H, quản lý quán xông hơi massage và karaoke H.A, thuộc thôn 9, xã N đặt phòng sử dụng ma túy và hát karaoke. Sau đó, C gọi điện rủ Vũ Thị H đến quán H.A chơi. C nói với H đã đặt mua 5.000.000 đồng ma túy và phòng hát. Đồng thời hỏi H trả tiền mua ma túy, H nói không mang nên C nói để mình chuyển khoản cho B. Nghe vậy, H nói C chuyển tiền, sau này anh em “chơi” hết bao nhiêu sẽ góp lại trả. Sau đó, Th điều khiển xe ô tô chở C và H chạy về. Đến khu vực ngã ba xã Đ, B đến giao cho C 01 lọ nhựa bên trong chứa ma túy và đi về hướng thị trấn K, huyện Đ.
Đến thị trấn K, huyện Đ, H và Bùi Thiên T gọi điện, Bùi Thiên T nói Bùi Thiên T chờ tại quán cà phê Gold, thuộc xã Đ, huyện Đ rồi cùng đi đến quán H.A. Sau đó, Th điều khiển xe ô tô chở C và H đến quán H.A theo chỉ dẫn của C. Trên đường đi, đến trước quán cà phê Gold thì gặp Bùi Thiên T và Nguyễn Đình N đang ngồi trên xe ô tô đỗ bên đường Quốc lộ 14, H ra hiệu cho Bùi Thiên T và N chạy theo đến quán H.A. Khoảng 18 giờ, C, H, Th, Bùi Thiên T và N vào phòng hát số 02 của quán H.A. H điều khiển xe ô tô trước đó Th điều khiển về nhà giải quyết công việc và hẹn quay lại quán chơi sau. Khoảng 10 phút sau, Trần Thể H được H hẹn tới với mục đích thanh toán tiền nợ. Tại đây C nhờ nhân viên trong phòng lấy 01 cái đĩa sứ, mục đích để chia ma túy cho mọi người sử dụng. Do Hoàng Thị Minh T từng sử dụng ma túy đá (Ketamine) nên khi nghe C nói lấy đĩa thì T hiểu lấy đĩa để sử dụng ma túy nên đã lấy 01 đĩa sứ màu trắng mang vào phòng hát, đặt trên bàn kính. Lúc này, C lấy lọ nhựa đựng và gói nilon chứa ma túy bỏ lên bàn trong phòng hát. Tiếp đến, C lấy 02 viên thuốc lắc trong lọ nhựa ra và bẻ thành nhiều mẫu nhỏ đưa cho Trần Thể H, Bùi Thiên T, Th và N để sử dụng, C sử dụng 1/2 viên, N không sử dụng, Trần Thể H dùng một tờ tiền polime, mệnh giá 20.000 đồng cuộn lại theo chiều dài tạo thành một đoạn ống hút hình trụ tròn, cố định lại bằng vỏ đầu lọc thuốc lá ở phía ngoài, nhằm mục đích để làm ống hít. Sau đó, C, Trần Thể H, Bùi Thiên T, Th và Hoàng Thị Minh T thay nhau sử dụng phần ma túy do C mang tới, đổ ra đĩa sứ do Hoàng Thị Minh T mang vào, bằng cách dùng ống hút do Trần Thể H cuộn, thay nhau hít qua đường mũi.
Sau đó, H quay lại quán thì C lấy 01 mẫu thuốc lắc trong lọ nhựa đưa cho H, H nhận lấy và uống. Tiếp đến, Vũ Thị H và Nguyễn Thị Minh Th tới, C lấy 01 mẫu thuốc lắc trong lọ nhựa đưa cho Nguyễn Thị Minh Th uống, biết Vũ Thị H không sử dụng ma túy nên C không đưa thuốc lắc cho Vũ Thị H. Sau khi vào phòng, H và Nguyễn Thị Minh Th sử dụng chung ma túy trên đĩa sứ bằng cách hít vào mũi qua ống hút làm bằng tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng do Trần Thể H cuộn. Một lúc sau, thấy mọi người trong phòng đã sử dụng hết ma túy trên đĩa sứ, Nguyễn Thị Minh Th lấy hết phần ma túy đá còn lại trong gói nilon do C mang đến để trên mặt bàn, đổ ra tờ tiền giấy có mệnh giá 1.000 đồng và gấp tờ tiền lại, rồi dùng chiếc quẹt gas cà nhuyễn số ma túy này, đổ ra đĩa sứ để mọi người tiếp tục sử dụng.
Quá trình sử dụng ma túy, khi Nguyễn Thị Thu H vào phòng hát, thấy những người trong phòng sử dụng ma túy nhưng H không phản ứng gì và để những người này tiếp tục sử dụng ma túy.
Khoảng 20 giờ, khi sử dụng hết ma túy mang đến, C gọi cho B mang tới quán karaoke thêm 5.000.000 đồng thuốc lắc và ma túy đá. Sau khi nhận, C để ma túy này lên bàn trong phòng hát, để ai có nhu cầu thì lấy sử dụng và tiếp tục bay lắc, hát hò. Lúc Nguyễn Thị Minh Th cầm gói ma túy mới, đi ra vị trí ghế gần màn hình điện tử chọn bài, định giã mịn số ma túy nhằm sử dụng thì Cơ quan Công an vào kiểm tra, lúc này Nguyễn Thị Minh Th thả ma túy đang cầm trên tay xuống nền gạch. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt quả tang và thu giữ ma túy cùng các đồ vật khác có liên quan.
Kiểm tra nhanh chất ma túy trong cơ thể của các đối tượng, kết quả Trần Công C, Lại Văn H, Đặng Văn Th, Trần Thể H, Bùi Thiên T, Hoàng Thị Minh Th, Nguyễn Thị Minh T và Nguyễn Minh T đều dương tính với chất ma túy tổng hợp; Nguyễn Đình N và Vũ Thị H âm tính với chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số 49/KL-KTHS ngày 13-5-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông, kết luận: Tinh thể màu trắng niêm phong trong bì thư ký hiệu “MẪU 1” gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng mẫu là 1,8317 gam; là Ketamine. Tinh thể màu trắng niêm phong trong bì thư ký hiệu “MẪU 2” gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng mẫu là 0,0066 gam; là Ketamine. Chất rắn màu hồng niêm phong trong hộp giấy carton gửi giám định là chất ma túy, có khối lượng mẫu là 0,3227 gam; là MDMA. Hoàn lại đối tượng sau giám định: Tinh thể màu trắng trong bì thư ký hiệu “MẪU 1” có khối lượng mẫu là 1,6531 gam; tinh thể màu trắng trong bì thư ký hiệu “MẪU 2” đã sử dụng hết cho công tác giám định; chất rắn màu hồng đựng trong hộp giấy carton có khối lượng mẫu là 0,21445 gam.
Bản án sơ thẩm số 12/2023/HS-ST ngày 28-02-2023 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp quyết định: Tuyên bố Lại Văn H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lại Văn H 08 năm tù. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.
Ngày 10-3-2023, Lại Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Lại Văn H thừa nhận Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp xử phạt bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan và giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của Lại Văn H, giữ nguyên bản án sơ thẩm về điều luật áp dụng và hình phạt. Đồng thời kiến nghị rút kinh nghiệm đối với Tòa án cấp sơ thẩm về việc không trích dẫn điều luật về hành vi phạm tội trong bản án.
Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 01-5-2022, tại phòng số 02 quán Karaoke H.A (địa chỉ: thôn 9, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông), Lại Văn H cùng Trần Công C, Trần Thể H và Hoàng Thị Minh Th có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho nhiều đối tượng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk R’Lấp bắt quả tang và lập biên bản về hành vi phạm tội. Do đó, Bản án sơ thẩm số 12/2023/HS-ST ngày 28-02-2023 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp kết án Lại Văn H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo của Lại Văn H, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt mức hình phạt 08 năm tù là tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi, hậu quả gây ra. Hơn nữa, về nhân thân: Bị cáo đã 03 lần bị kết án nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tình tiết xác nhận của chính quyền địa phương hiện đang nuôi con nhỏ, tuy nhiên đây không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông tại phiên tòa có căn cứ nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm ban hành bản án nhưng không trích dẫn điều luật trong bản án đối với hành vi phạm tội là thiếu sót nên Hội đồng xét xử phúc thẩm nêu ra để Tòa án cấp sơ thẩm nghiêm túc rút kinh nghiệm.
. Về án phí: Kháng cáo của Lại Văn H không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của Lại Văn H, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 12/2023/HS-ST ngày 28-02-2023 của Tòa án nhân dân huyện Đắk R’Lấp về điều luật áp dụng và hình phạt.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Lại Văn H 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01-5-2022 đến ngày 07-6-2022.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc Lại Văn H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC (Vụ I); - VKSND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh Đắk Nông; - CQTHAHS Công an tỉnh Đắk Nông; - TAND huyện Đắk R’Lấp; - VKSND huyện Đắk R’Lấp; - Chi cục THADS huyện Đ; - CQCSĐT Công an huyện Đắk R’Lấp; - CQTHAHS Công an huyện Đ; - Bị cáo; - Lưu: Tổ HCTP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Võ Văn Vinh |