- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bế Xuân C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bế Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2022/HS-ST Ngày: 30-11-2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Anh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Lý Anh Dũng.
Ông: Nông Ngọc Hóa.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ưu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Ma Thế Thiện và bà Hoàng Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2022/TLST-HS, ngày 01 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Bế Văn C, (Tên gọi khác: không) sinh ngày 12/12/1963, tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bế Văn L và bà Hoàng Thị Đ (Đã chết); Vợ Mã Thị L và có 03 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/6/2022 đến ngày 01/7/2022 thì được tại ngoại cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đinh Xuân Diệu - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Mã Thị L, sinh năm 1962; Nơi cư trú: Thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
* Những người chứng kiến:
- Bà Phùng Thị Nh, sinh năm 1987. Vắng mặt.
- Anh Triệu Văn L, sinh năm 1993.Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 23/6/2022, bị cáo Bế Văn C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B1-354.37 đi từ nhà ở thôn N, xã M, huyện B đến thị trấn Ch, huyện B với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến ngã tư gần Trung tâm y tế huyện B thuộc T 2, thị trấn Ch, huyện B, bị cáo C nhìn thấy một người đàn ông không quen biết có biểu hiện là người nghiện chất ma túy đứng ở cạnh đường nên dừng xe vào hỏi mua ma túy, bị cáo C đưa cho người đàn ông số tiền 500.000 đồng được 10 gói ma túy để trong túi nilon. Mua được ma túy, bị cáo C cầm ở trên tay rồi điều khiển xe mô tô đi về, trên đường đến thôn Kh, xã Ph, huyện B thì bị tổ công tác Công an huyện B cùng Công an xã Ph, huyện B dừng xe kiểm tra, bị cáo C đã tự nguyện đem số ma túy đang cầm trên tay ra nộp. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 10 gói chứa chất dạng cục, bột màu trắng nghi là ma túy của bị cáo C niêm phong vào phong bì A1. Ngoài ra, còn tạm giữ của bị cáo Bế Văn C 01 bật lửa màu đỏ; 01 mảnh giấy một mặt màu vàng, 01 mặt màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen; 01 xe mô tô biển kiểm soát 97B1-354.37. Đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở và các công trình phụ cận liên quan của bị cáo Bế Văn C (tại thôn N, xã M, huyện B), kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ thêm đồ vật, tài liệu gì có liên quan đến hành vi vi phạm của bị cáo C.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể đã tiến hành mở niêm phong phong bì ký hiệu A1 để cân xác định khối lượng 10 gói chứa chất dạng cục, bột màu trắng thu giữ của bị cáo Bế Văn Cừu được 1,02 gam (niêm phong trong phong bì ký hiệu B1). Sau đó tiến hành bàn giao cho Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn để trưng cầu giám định.
Tại Kết luận giám định số: 126/KL-KTHS ngày 01/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 1,02 g (Một phẩy không hai gam). Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại là 0,95 g (không phẩy chín năm gam) cùng phong bì, bao gói cũ được niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T131 và hoàn trả lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể quản lý theo quy định.
Bản Cáo trạng số: 30/CT-VKSBB ngày 31/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Bế Văn Cừu về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bế Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể duy trì quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo Bế Văn C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Bế Văn C từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án được trừ đi số ngày bị cáo bị tạm giữ.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc hộ nghèo, không có tài sản nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 29, Điều 33, Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 244 Bộ luật Dân sự để xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, bao gói cũ vụ Bế Văn C; 01 phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T131, bên trong phong bì có chứa: Mẫu vật còn lại sau giám định và phong bì, giấy gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi “Vụ Bế Văn C (1963) tàng trữ trái phép chất ma túy”, ký hiệu “T131”, mặt sau có 04 chữ ký không đọc được, cùng 02 dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bật lửa màu đỏ, 01 (một) mảnh giấy một mặt màu vàng, 01 mặt màu trắng (dạng giấy bạc) của bị cáo Bế Văn C do có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo C.
- Trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng cho bị cáo Bế Văn C do không liên quan đến hành vi phạm tội.
* Đối với 01 (một) xe mô tô BKS: 97B1 - 354.37, xe đã qua sử dụng; đây là chiếc xe bị cáo sử dụng để đi mua ma túy. Chiếc xe này hình thành trong thời kỳ hôn nhân, là tài sản chung của vợ chồng bị cáo Bế Văn C và bà Mã Thị L. Việc bị cáo C sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy bà L không biết. Chiếc xe mô tô trên là tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu hóa giá, một phần hai giá trị chiếc xe được sung vào ngân sách Nhà nước và một phần hai giá trị chiếc xe trả lại cho bà Mã Thị L.
Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo và bị cáo có đơn xin miễn án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Trong phần tranh luận bị cáo, người bào chữa đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt áp dụng và không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; quyết định tố tụng được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử những người tham gia tố tụng không ai khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (có đơn xin xét xử vắng mặt) và những người chứng kiến. Tuy nhiên, họ đã có đầy đủ lời khai tại giai đoạn điều tra, việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án của Tòa án. Căn cứ vào Điều khoản 1 Điều 292 và Điều 296 của Bộ luật tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Về căn cứ định tội, định khung hình phạt:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định: Vào hồi 11 giờ 20 phút ngày 23/6/2022, tại thôn Kh, xã Ph, huyện B, tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B phối hợp với công an xã Ph, huyện B bắt quả tang bị cáo Bế Văn C về hành vi tàng trữ trái phép 10 gói ma túy, loại Heroine có tổng khối lượng 1,02 g (Một phẩy không hai gam). Mục đích bị cáo C mua ma túy về chỉ để sử dụng cho bản thân.
Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi nhưng bị cáo vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến cùng tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bế Văn C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Trong các giai đoạn tố tụng bị cáo đều "Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải", bị cáo được tặng thưởng huân chương chiến sĩ vẻ vang, kỷ niệm chương cựu chiến binh Việt Nam nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội là người có công với cách mạng” đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo có bố đẻ là ông Bế Văn L được tặng Huân chương kháng chiến chống mỹ cứu nước hạng ba nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mặt khác góp phần tiếp tay làm gia tăng tệ nạn sử dụng ma tuý và tội phạm khác ở địa phương, gây mất an ninh trật tự, khiến quần chúng nhân dân bất bình lên án, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, do đó cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người công dân lương thiện, có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc hộ nghèo, bản thân nghiện ma túy không có tài sản gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng:
- Đối với vật chứng 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, bao gói cũ vụ Bế Văn C; 01 phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T131, bên trong phong bì có chứa: Mẫu vật còn lại sau giám định và phong bì, giấy gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi “Vụ Bế Văn C (1963) tàng trữ trái phép chất ma túy”, ký hiệu “T131”, mặt sau có 04 chữ ký không đọc được, cùng 02 dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn; 01 (một) bật lửa màu đỏ, 01 (một) mảnh giấy một mặt màu vàng, 01 mặt màu trắng (dạng giấy bạc) của bị cáo Bế Văn C không có giá trị sử dụng, cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng của bị cáo Bế Văn C do không liên quan đến hành vi phạm tội trả lại cho bị cáo C.
- Đối với 01 (một) xe mô tô HONDA WAVE BKS: 97B1 - 354.37, màu đỏ đen, xe đã qua sử dụng; đây là chiếc xe bị cáo sử dụng để đi mua ma túy. Chiếc xe này hình thành trong thời kỳ hôn nhân, là tài sản chung của vợ chồng bị cáo Bế Văn C và bà Mã Thị L. Việc bị cáo C sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy bà L không biết. Chiếc xe mô tô trên là tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu hóa giá, một phần hai giá trị chiếc xe được sung vào ngân sách Nhà nước và một phần hai giá trị chiếc xe trả lại cho bà Mã Thị L.
Về vấn đề khác: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bế Văn C có khai mua ma túy của người đàn ông không rõ danh tính, họ tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với bà Mã Thị L là vợ của bị cáo Bế Văn C, ngày 23/6/2022 bị cáo Cừu đã sử dụng xe mô tô HONDA WAVE BKS: 97B1 - 354.37 để đi mua ma túy, bà L không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể không xử lý là có căn cứ pháp luật.
Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo và bị cáo có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 47; Điều 50; điểm s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 29, Điều 33, Điều 37 của Luật hôn nhân và Gia đình; Điều 244 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Bế Văn C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Bế Văn C 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án được trừ đi số ngày bị cáo bị tạm giữ (từ ngày 23/6/2022 đến ngày 01/7/2022).
3. Về vật chứng:
* Tịch thu, tiêu hủy vật chứng không có giá trị sử dụng, cấm tàng trữ, cấm lưu hành gồm: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, bao gói cũ vụ Bế Văn C; 01 phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T131, bên trong phong bì có chứa: Mẫu vật còn lại sau giám định và phong bì, giấy gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi “Vụ Bế Văn C (1963) tàng trữ trái phép chất ma túy”, ký hiệu “T131”, mặt sau có 04 chữ ký không đọc được, cùng 02 dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn; 01 (một) bật lửa màu đỏ, 01 (một) mảnh giấy một mặt màu vàng, 01 mặt màu trắng (dạng giấy bạc) của bị cáo Bế Văn C.
* Tịch thu hóa giá 01 (Một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE BKS: 97B1 - 354.37 màu đỏ đen, xe đã qua sử dụng là tài sản chung của vợ chồng bị cáo Bế Văn C và bà Mã Thị L. Trong đó: sung vào ngân sách Nhà nước ½ (Một phần hai) giá trị của chiếc xe và trả lại cho bà Mã Thị L ½ (Một phần hai) giá trị chiếc xe.
* Trả lại 01 (một) điện thoại di động có bàn phím, nhãn hiệu NOKIA, màu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng cho bị cáo Bế Văn C.
(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/10/2022 giữa Công an huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn).
4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Bế Văn C.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - VKSND huyện Ba Bể ; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Người có QL, NVLQ; - Chi cục THADS huyện Ba Bể; - Công an huyện Ba Bể; - Sở tư pháp tỉnh Bắc Kạn; - THAHS; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Anh Tuấn |