- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lâm Văn T - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lâm Văn T;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 322 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2022/HS-PT Ngày 30-6-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thùy;
Các Thẩm phán: Ông Chu Long Kiếm;
Ông Cao Đức Chiến
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Cẩm Nhung, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Tống Văn Giang, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 44/2022/TLPT-HS ngày 07 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo Lâm Văn T do có kháng cáo của bị cáo Lâm Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2022/HS-ST ngày 27 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
- Bị cáo có kháng cáo: Lâm Văn T, sinh ngày 01 tháng 5 năm 1980 tại huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Sán Chỉ; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T (đã chết) và bà Lâm Thị V; có vợ là Lưu Thị M và có 02 con sinh năm 2001 và 2005; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Tại Quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 28-3-2007 bị Công an huyện Hữu Lũng xử phạt 7.500.000 đồng về hành vi Tổ chức đánh bạc; Quyết định số 47/QĐ-XPHC ngày 16-02-2009 bị Công an huyện Hữu Lũng xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc; Quyết định số 237/QĐ-XPHC ngày 28-8-2020 bị Công an huyện Hữu Lũng xử phạt 350.000 đồng về hành vi Đánh bạc (đều đã được xóa). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23-01-2022 đến ngày 25-01-2022 được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Ngoài ra, còn có 04 bị cáo khác không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 18h 45 phút ngày 22-01-2022, Cơ quan chức năng tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở và kiểm tra điện thoại của Lâm Văn T phát hiện có dấu hiệu liên quan đến việc đánh bạc với hình thức lô đề.
Kết quả điều tra đã xác định được:
Các bị cáo Lâm Văn T, Hoàng Văn B, Hoàng Văn C, Chu Văn S, Luân Thị T dựa vào kết quả sổ số Miền Bắc mở thưởng hằng ngày để đánh bạc với hình thức lô đề; các bị cáo tổng hợp thắng thua và thanh toán tiền cho nhau vào ngày hôm sau.
Ngày 22-01-2021, Lâm Văn T nhận được tin nhắn mua số lô số đề của Hoàng Văn B, Lăng Văn C, Chu Văn S và Luân Thị T; cụ thể: Chu Văn S, Lăng Văn C là người ghi số lô số đề cho khách chơi rồi chuyển lại cho Lâm Văn T để được hưởng tiền hoa hồng; ngoài việc ghi số lô số đề cho khách, các bị cáo Lăng Văn C, Hoàng Văn B, Luân Thị T còn trực tiếp mua số lô số đề với Lâm Văn T.
Hành vi của các bị cáo bị phát hiện sau giờ mở thưởng; căn cứ kết quả sổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng ngày 22-01-2022 và tài liệu thu thập được; xác định số tiền đánh bạc của các bị cáo vào ngày 22-02-2022 cụ thể như sau:
- Lăng Văn C ghi số lô, số đề cho 07 người khách vãng lai không rõ danh tính với tổng số tiền là 8.695.000 đồng rồi sử dụng số thuê bao 0382.135.043 nhắn tin cho Lâm Văn T số lô số đề khách mua; theo thỏa thuận Lăng Văn C được hưởng 1.019.000 đồng tiền hoa hồng nên số tiền theo bảng cáp của Lăng Văn C chuyển cho Lâm Văn T là 7.676.000 đồng; số tiền trúng thưởng của khách chơi là 3.200.000 đồng; tổng số tiền đánh bạc Lăng Văn C ghi cho khách là 11.895.000 đồng.
Ngoài ra, Lăng Văn C còn trực tiếp đánh bạc với Lâm Văn T qua việc nhắn tin mua số lô số đề với số tiền là 2.520.000 đồng; Lăng Văn C đã trúng thưởng là 16.000.000 đồng; tổng số tiền Lăng Văn C đánh bạc trực tiếp với Lâm Văn T là 18.520.000 đồng.
- Chu Văn S ghi số lô, số đề cho những người chơi với tổng số tiền là 4.869.000 đồng rồi sử dung thuê bao số 0385.304.*** nhắn tin cho Lâm Văn T; theo thỏa thuận Chu Văn S được hưởng 401.000 đồng tiền hoa hồng nên số tiền theo bảng cáp của Chu Văn S chuyển cho Lâm Văn T là 4.468.000; số tiền trúng thưởng là 4.800.000 đồng; tổng số tiền đánh bạc của Chu Văn S là 9.268.000 đồng.
- Hoàng Văn B nhắn tin từ số thuê bao 0385.108.*** cho Lâm Văn T để mua số lô đề với tổng số tiền là 9.532.000 đồng, Hoàng Văn B trúng thưởng là 28.000.000 đồng; tổng số tiền đánh bạc của Hoàng Văn B là 37.532.000 đồng
- Luân Thị T nhắn tin từ số thuê bao 0988.680.*** cho Lâm Văn T để mua số lô số đề với tổng số tiền là 6.010.000 đồng, Luân Thị T trúng thưởng là 3.380.000 đồng; tổng số tiền đánh bạc, thắng bạc của Luân Thị T là 9.390.000 đồng.
- Tổng số tiền đánh bạc của bị cáo Lâm Văn T là 87.006.000 đồng, (trong đó số tiền trả thưởng lớn hơn số tiền thu được từ việc bán số lô số đề).
Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2022/HS-ST ngày 27-4-2022 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã căn cứ vào điểm c khoản 1, 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lâm Văn T 02 (hai) năm tù về tội Tổ chức đánh bạc và phạt bổ sung đối với bị cáo Lâm Văn T 25.000.000 đồng.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên phạt 04 bị cáo khác với mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 04 tháng tù cho hưởng án treo về tội Đánh bạc; tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc và tuyên nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo đối với các bị cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, bị cáo Lâm Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo Lâm Văn T thay đổi nội dung kháng cáo, cụ thể bị cáo Lâm Văn T xin được giảm hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Bản án sơ thẩm tuyên bố bị cáo Lâm Văn T phạm tội Tổ chức đánh bạc là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; xem xét, áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và xử phạt bị cáo 02 năm tù là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã thi hành xong khoản tiền án phí sơ thẩm và tiền phạt bổ sung là 25.000.000 đồng; ngoài ra bị cáo còn nộp tài liệu thể hiện bị cáo tích cực tham gia các hoạt động thiện nguyện tại địa phương nơi bị cáo sinh sống như ủng hộ phòng chống dịch Covid-19, làm đường giao thông liên thôn…Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới mà bị cáo được hưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo; cụ thể giảm hình phạt đối với bị cáo Lâm Văn T từ 02 năm tù xuống còn 01 năm 06 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lâm Văn T thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Bản án sơ thẩm đã tuyên. Do vậy, việc truy tố và xét xử bị cáo Lâm Văn T về tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, thấy rằng:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá đúng nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; áp dụng đúng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; mức hình phạt mà Bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là phù hợp.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã thi hành xong khoản tiền phạt bổ sung là 25.000.000 đồng và nộp 01 giấy xác nhận của Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã H thể hiện bị cáo đã có nhiều đóng góp tích cực trong công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn xã; 01 giấy xác nhận của trưởng thôn Đ, xã H thể hiện bị cáo Lâm Văn T luôn nhiệt tình tham gia, hưởng ứng các hoạt động công ích của địa phương như ủng hộ làm đường giao thông liên thôn, tổ chức tết trung thu cho các cháu thiếu nhi... Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới mà bị cáo được hưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên; Hội đồng xét xử thấy có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Lâm Văn T.
Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
1. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lâm Văn T;
Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 25/2022/HS-ST ngày 27-4-2022 của Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn về phần hình phạt tù đối với bị cáo Lâm Văn T, cụ thể như sau:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Lâm Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc, được trừ đi 03 ngày tạm giữ (23-01-2022 đến 25-01-2022); thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
2. Xác nhận bị cáo Lâm Văn T đã thi hành xong hình phạt bổ sung là khoản tiền 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng, theo biên lai thu tiền số AA/2021/0004705 ngày 05-5-2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Lạng Sơn.
3. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Lâm Văn T không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Phòng PV06 Công an tỉnh Lạng Sơn; - TAND H. Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; - VKSND H. Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADS H. H, tỉnh Lạng Sơn; - CA H. Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; - Lưu: HS; Tòa HS; HCTP, KTNV&THA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Thùy |