- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Lương Công - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Lương C, Thân Vĩnh Đ phạm tội: “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ––––––––––––––– Bản án số: 32/2021/HS-ST Ngày 11/6/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN - TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Quốc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trường Sơn và ông Ngô Tình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Bình - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Sinh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm Công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2021/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2021 đối với:
1. Bị cáo: Nguyễn Lương C - sinh năm 2002, tại thị xã ĐB, tỉnh Quảng Nam. Trú tại: khối phố NT, phường ĐA, thị xã ĐB, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Tiền án, Tiền sự: Không.
Con ông Nguyễn Lương Tiến, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị Hiền, sinh năm 1975, bị cáo chưa có vợ con.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2020 đến ngày 26/12/2020
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. Bị cáo: Thân Vĩnh Đ - sinh năm 2002, tại thị xã ĐB, tỉnh Quảng Nam. Trú tại: khối phố BAT, phường ĐA, thị xã ĐB, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Tiền án, Tiền sự: Không.
Con ông Thân Vĩnh Tuất, sinh năm 1970 và bà Đinh Thị Hoa, sinh năm 1970, bị cáo chưa có vợ con.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2020 đến ngày 26/12/2020
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Lê Viết T, sinh năm 1991, (có đơn xin xử vắng mặt)
Trú tại: KP. CNĐ, phường ĐA, thị xã ĐB, Quảng Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu tháng 12/2020, Nguyễn Lương C nảy sinh ý định buôn bán pháo để bán kiếm lời. Ngày 15/12/2020, có một người không rõ lai lịch dùng nickname facebook ảo nhắn tin cho C đặt mua 20 (hộp) pháo thì C đồng ý bán với giá là 22.000.000đ (hai mươi hai triệu đồng). Sau đó, C nhắn tin cho một người không rõ lai lịch qua ứng dụng messenger có nickname “Vương Khánh” ở Gia Lai để hỏi mua 20 (hai mươi) hộp pháo với giá 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), C đã chuyển khoản trước cho người này 9.500.000đ (Chín triệu năm trăm nghìn đồng) và hẹn giao pháo tại Bệnh viện Vĩnh Đức (thuộc thị xã ĐB, tỉnh Quảng Nam). Khoảng 19h00 ngày 16/12/2020, C gọi rủ Thân Vĩnh Đ "khoảng 03h00 ngày mai – tức ngày 17/12/2020, qua chở ta đi lấy hàng rồi đi giao "hàng" – tức pháo nổ" thì Đ đồng ý. Đến khoảng 03h30' ngày 17/12/2020, Đ điều khiển xe mô tô BKS 92D1-061.99 (xe này Đ mượn của Lê Viết T) chở C đi nhận số pháo nổ trên tại bệnh viện Vĩnh Đức, rồi cả hai cùng vận chuyển vào thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên để bán số pháo trên. Khoảng 04h15phút ngày 17/12/2020, tại kiệt 10, tổ 10, khối phố Mỹ Hòa, thị trấn Nam Phước, Duy Xuyên, C và Đ bị tổ Công tác Công an huyện Duy Xuyên bắt quả tang và thu giữ 20 (hai mươi) hộp pháo nổ, có tổng khối lượng 35kg, trong đó: 13 (mười ba) hộp pháo được bọc bằng giấy có hình hoa văn ghi dòng chữ A8417, mỗi hộp có kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên trong mỗi hộp có chứa 49 (bốn chín) viên pháo hình trụ tròn được liên kết với nhau, có khối lượng 23kg và 07(bảy) hộp pháo được bọc bằng giấy màu xanh có hình hoa văn ghi chữ số A8424, mỗi hộp có kích thước 17cm x 17cm x 10cm, bên trong mỗi hộp có 49 (bốn chín) viên pháo hình trụ tròn được liên kết với nhau có khối lượng 12kg.
* Tại Bản kết luận giám định số 1321/C09C(Đ2) ngày 21/12/2020 của Phân viện khoa học kỹ thuật hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận:
-13 (mười ba) khối hộp (mỗi khối có kích thước 17cm x 17cm x 10cm; bên ngoài mỗi khối hộp bọc giấy màu có in hoa văn, chữ nước ngoài, chữ số A8417; bên trong mỗi khối hộp có 49 ống giấy hình trụ tròn liên kết với nhau) đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), tổng khối lượng là 23,2kg.
- 07 (bảy) khối hộp (mỗi khối có kích thước 17cm x 17cm x 10cm; bên ngoài mỗi khối hộp bọc giấy màu có in hoa văn, chữ nước ngoài, chữ số A8424; bên trong mỗi khối hộp có 49 ống giấy hình trụ tròn liên kết với nhau) đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), tổng khối lượng là 12kg.
Tổng khối lượng là 35,2kg.
Bị cáo Nguyễn Lương C và Thân Vĩnh Đ thừa nhận hành vi buôn bán hàng cấm như cáo trạng của VKSND huyện Duy Xuyên truy tố bị cáo là đúng, thống nhất về tội danh và khung hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên tham gia phiên tòa giữ nguyên Bản cáo trạng số 22/CT-VKSDX-HS ngày 16/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên truy tố bị cáo Nguyễn Lương C và Thân Vĩnh Đ về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự năm 2015. Và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cho 2 bị cáo, xử phạt bị cáo Nguyễn Lương C từ 15 đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng. Bị cáo Thân Vĩnh Đ từ 12 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số pháo còn lại sau giám định, tịch thu nộp ngân sách nhà nước 1 điện thoại di động Oppo F9 màu xanh có gắn thẻ sim số 0762.527.214 của Nguyễn Lương C.
Các bị cáo nói lời sau cùng thể hiện sự ăn năn, hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang, lời khai người chứng kiến, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án có cơ sở khẳng định:
Vào khoảng 04h15' ngày 17/12/2020, tại kiệt 10, tổ 10, khối phố Mỹ Hòa, thị trấn Nam Phước, Duy Xuyên, Nguyễn Lương C và Thân Vĩnh Đ đang có hành vi buôn bán hàng cấm là 35,2kg pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ) thì bị tổ tuần tra C tác C an huyện Duy Xuyên bắt quả tang.
Do đó hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của Nguyễn Lương C và Thân Vĩnh Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của BLHS năm 2015.
Vì vậy cáo trạng số 22/CT-VKSDX-HS ngày 16/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Các loại pháo nổ có số thứ tự 05, thuộc danh mục hàng hóa cấm kinh doanh, ban hành kèm theo Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 của Chính phủ. Các bị cáo biết rõ việc Buôn bán hàng cấm là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm; gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo một mức án tương xứng hành vi của mỗi bị cáo mới có tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo, đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm.
Xét vai trò, nhân thân của các bị cáo: Trong vụ án này, các bị cáo C và Đ không có sự bàn bạc, phân C vai trò cụ thể nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Bị cáo C là người trực tiếp liên hệ giao dịch bỏ tiền ra để mua bán pháo nên giữ vai trò chính, bị cáo Đ cùng C đi nhận pháo và mang pháo đi bán nên bị cáo Đ giữ vai trò thấp hơn. Vì vậy bị cáo C phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Đ. Tuy nhiên, sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo tuổi đời còn trẻ, lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, có nhân thân tốt, nên chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số pháo còn lại sau giám định, tịch thu nộp ngân sách nhà nước 1 điện thoại di động Oppo F9 màu xanh có gắn thẻ sim số 0762.527.214 của Nguyễn Lương C.
Đối với người có tên là Trần Khánh Vương (sinh năm 1995, trú tại: thôn 76, xã Hà Bầu, huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai) – người C khai đã bán 20 hộp pháo cho C, hiện Vương không có mặt tại địa phương, không rõ đi đâu, làm gì nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý sau là phù hợp.
Đối với người thanh niên mua pháo của Nguyễn Lương C, quá trình điều tra không xác định được lai lịch cụ thể của người này nên không có cơ sở để xử lý.
Tại phiên tòa cả 02 bị cáo khai nhận trước đây có mua bán khoản 7-10 hộp pháo tại Hội An, nhưng không biết cụ thể khối lượng, không xác định được có phải đặc tính, tính năng như loại pháo đã bị bắt quả tang hay không nên không đủ yếu tố và căn cứ xác định các bị cáo phạm tội.
Đối với chiếc xe mô tô 92D1-061.99, Đ mượn của ông Lê Viết T - sinh năm 1991, trú: trú tại: khối Câu Nhi Đông, phường ĐA, thị xã ĐB, tỉnh Quảng Nam, ông T không biết Đ mượn xe để đi buôn bán hàng cấm nên Cơ quan điều tra trả lại cho ông T là phù hợp.
Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra C an huyện Duy Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Lương C, Thân Vĩnh Đ phạm tội: “Buôn bán hàng cấm”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Lương C 18 (mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án (11/6/2021).
Giao bị cáo Nguyễn Lương C về Ủy ban nhân dân phường ĐA, thị xã ĐB, tỉnh Quảng Nam để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt Thân Vĩnh Đ 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án (11/6/2021)
Giao bị cáo Thân Vĩnh Đ về Ủy ban nhân dân phường ĐA, thị xã ĐB, tỉnh Quảng Nam để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ Luật này.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số pháo thu giữ còn lại sau giám định gồm: 13 (mười ba) khối hộp (mỗi khối có kích thước 17cm x 17cm x 10cm; bên ngoài mỗi khối hộp bọc giấy màu có in hoa văn, chữ nước ngoài, chữ số A8417; bên trong mỗi khối hộp còn 48 ống giấy hình trụ tròn liên kết với nhau) với khối lượng là 22,8kg. Và 07 (bảy) khối hộp (mỗi khối có kích thước 17cm x 17cm x 10cm; bên ngoài mỗi khối hộp bọc giấy màu có in hoa văn, chữ nước ngoài, chữ số A8424; bên trong mỗi khối hộp còn 48 ống giấy hình trụ tròn liên kết với nhau) với khối lượng là 11,8kg (đã được niêm phong theo quy định).
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Oppo F9 màu xanh có gắn thẻ sim số 0762.527.214 của Nguyễn Lương C. Vật chứng hiện C an huyện Duy Xuyên quản lý.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Lương C và Thân Vĩnh Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm các bị cáo có quyền kháng cáo bản án để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Duy Xuyên; - Chi cục THADS huyện Duy Xuyên; - Bị cáo, những người TGTT khác; - TAND tỉnh Quảng Nam; - VP C an huyện Duy Xuyên; - Lưu HS-AV. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Minh Quốc |