- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thị X - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 248 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 32/2018/HS-PT Ngày: 09-4-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Th m phán - Ch t a phiên tòa: Ông Nguy n Hu nh Đ c.
Các Th m phán:
Ông Trần Văn Luông;
Ông Trương Văn Lộc.
Th ký phiên tòa: Bà Nguy n Thị Hồng Thắm – Thư k T a án nh n d n tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Ki m sát nhân dân t nh Bình D ng tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cơ – Kiểm sát viên.
Vào ngày 09 tháng 4 năm 2018, tại trụ s T a án nh n d n tỉnh Bình Dương, t
phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ l số: 30/2018/TLPT-HS ngày 12/02/2018 đối với các bị cáo Phan Thị X, Hu nh Thị T, Võ Thị Tuyết L, Đặng Thị Ngọc Tr do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2018/HS-ST ngày 03/01/2018 của T a án nh n dân huyện D, tỉnh Bình Dương.
H và tên các bị cáo có kháng cáo:
1. Phan Thị X (tên gọi khác: 9 Oanh), sinh năm 1968, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Ấp L, ã L, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; d n tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Ch (đã chết) và bà Nguy n Thị N (đã chết); bị cáo có chồng tên Phan Văn Đ (đã chết) và 02 người con, con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 1990; tiền án: 01 tiền án: Ngày 23/9/2014, bị T a án nhân dân huyện D, tỉnh Bình Dương phạt 08 tháng tù nhưng cho hư ng án treo, thời gian th thách 16 tháng, phạt bổ sung 3.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 86/2014/HS-ST, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/7/2017 đến ngày 13/11/2017 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
2. Hu nh Thị T, sinh năm 1985, tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: Ấp B, ã T, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nh n; trình độ học vấn: 10/12; d n tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hu nh Văn T1, không rõ năm sinh và bà Nguy n Thị H, sinh năm 1940; bị cáo có chồng tên Nguy n Mảnh X1, sinh năm 1986 (không đăng k kết hôn) và 01 người con sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/7/2017 đến ngày 06/9/2017 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
3. Đặng Thị Ngọc Tr (tên gọi khác: T2), sinh năm 1974, tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: Khu phố 5, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn Th, sinh năm 1954 và bà Nguy n Thị M (đã chết); bị cáo có chồng tên Trần Văn Th, sinh năm 1975 và 02 người con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/7/2017 đến ngày 06/9/2017 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
4. Võ Thị Tuyết L (tên gọi khác: Th3), sinh năm 1986, tại Bình Dương; nơi cư trú: Ấp T, ã L, huyện D, tỉnh Bình Dương; chỗ hiện nay: Ấp L, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn H, sinh năm 1962 và bà Lê Thị Bạch T3, sinh năm 1962; bị cáo có chồng tên Trần Quang T4, sinh năm 1983 và 01 người con sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/7/2017 đến ngày 06/9/2017 được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Trong vụ án c n có 08 bị cáo khác do không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên T a án không triệu tập.
NỘI DUNG V ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên t a, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 30/7/2017, Lê Tấn Th1 mang theo những dụng cụ dùng để lắc tài ỉu gồm: 5 hột í ngầu, một cái dĩa bằng sành, một cái nắp nhựa tr n hình trụ đến nhà Phan Thị X để tham gia đánh bạc. Tại nhà X đã có mặt: Nguy n Văn R, Đặng Thị Ngọc Tr, Nguy n Thanh T5, Võ Thị Tuyết L. Tất cả cùng nhau đi ra phía sau nhà của X để đánh bạc dưới hình th c lắc tài ỉu thắng thua bằng tiền. Phan Thị X mang một tấm bạt màu anh trải uống đất phục vụ cho các con bạc tham gia chơi lắc tài ỉu thắng thua bằng tiền. Sau khi trải bạt ong, X đi chợ mua đồ về nấu cơm. Tại chiếu bạc, Th1 mang ra các dụng cụ dùng để lắc tài ỉu gồm: Một cái dĩa sành, một cái nắp hình trụ và 3 hột í ngầu để làm cái. Th1 quy định phía bên tay trái của Th1 là “Xỉu”, phía bên tay phải của Th1 là “Tài”. Cách chơi như sau: Th1 bỏ 3 hột í ngầu vào trong dĩa rồi dùng nắp nhựa đậy lại lắc một cái rồi để uống sau đó các con bạc đặt cược vào bên tài hay ỉu thì tùy chọn, mỗi ván Th1 quy định đặt mỗi bên lớn nhất 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng), nhỏ nhất 50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng). Sau khi các con bạc đặt cược ong thì Th1 m nắp ra nếu tổng các điểm trên 3 hột í ngầu cộng lại từ 3 đến 10 thì các con bạc đặt bên “ ỉu” thắng, nếu m ra các điểm trên 3 hột í ngầu cộng lại từ 11 đến 18 thì các con bạc đặt bên “Tài” thắng. Nếu m ra 3 hột í ngầu giống nhau và có tổng số điểm 3, 6, 9 thì nhà cái “Bão ỉu” (có nghĩa là thắng bên tài và huề bên ỉu), nếu 3 hột í ngầu giống nhau và có tổng số điểm 12,15,18 thì nhà cái “Bão tài” (có nghĩa là thắng bên ỉu, huề bên tài). Nếu nhà cái “bão” (có nghĩa là thắng hết) thì đưa tiền u cho X mỗi ván từ 50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng) đến 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng) tùy theo số tiền thắng được trên chiếu bạc của nhà cái. Tại đ y Th1 làm cái lắc tài ỉu cho R, Tr, Tuyết L, T5 tham gia chơi trước. Đến khoảng 09 giờ 45 phút thì Phan Thị X, Hu nh Thanh Ph, Nguy n Thị Nh, Phan Thị U, Nguy n Thị Th2, Hu nh Thị T, Phan Thị L1 và đối tượng tên N1 (không ác định được nh n th n, lai lịch) đến cùng tham gia đánh bạc. Trong quá trình đánh bạc có một đối tượng tên C (không ác định được nh n th n, lai lịch) là bạn của Th1 đến em và Th1 nhờ C chung chi tiền thắng thua vì con bạc tham gia đánh bạc nhiều, sau khi chơi ong Th1 sẽ cho tiền C uống cà phê. C đồng giúp Th1 chung chi tiền thắng thua cho các con bạc và ngồi đối diện với Th1. Tất cả tham gia đánh bạc dưới hình th c lắc tài ỉu đến 10 giờ 30 phút thì lực lượng Công an huyện D bắt quả tang các đối tượng trên. Riêng đối tượng C và N1 đã chạy thoát.
Hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:
- Phan Thị X dùng số tiền 3.600.000 đồng và 150.000 đồng tiền u do Th1 đưa dùng để đánh bạc. X chơi được 4 ván thua số tiền 400.000 đồng và mua một tờ v số 10.000 đồng. Đến khi bị bắt thu giữ trên người X số tiền 3.340.000 đồng (ba triệu ba trăm bốn mươi ngàn đồng). X thu lợi bất chính từ việc gá bạc với số tiền là 150.000 đồng (một trăm năm mươi ngàn đồng).
- Đặng Thị Ngọc Tr đi e bu t, mang theo số tiền 10.834.000 đồng bỏ bên túi bên phải và 160.000 đồng (một trăm sáu mươi ngàn đồng) bỏ bên túi bên trái đến nhà X hỏi mua c y cao su, khi đến nhà X, X gọi Tr ra phía sau nhà, Tr thấy mọi người đang chơi đánh bạc, nên lấy số tiền 160.000 đồng (một trăm sáu mươi ngàn đồng) bên túi trái ra dùng 50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng) đặt một ván thì thua, đến khi Công an vào bắt Tr n m số tiền 110.000 đồng (một trăm mười ngàn đồng) cầm trên tay uống đất và bỏ chạy. Khi bị bắt thu trên người Tr số tiền 10.834.000 đồng (mười triệu tám trăm ba mươi bốn ngàn đồng).
- Hu nh Thị T đi cùng với một đối tượng tên N1 (không ác định được nhân thân, lai lịch), T mang theo số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng). N1 rủ và ch Tiền bằng e mô tô của N1 đến nhà Phan Thị X để chơi. Khi đến nhà Phan Thị X, thấy có đánh bạc, T lấy số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) ra để đánh bạc. T chơi được 3 ván, thắng 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng) và uống nước hết số tiền 70.000 đồng (bảy mươi ngàn đồng). Đến khi bị bắt thu giữ trên người T số tiền 30.030.000 đồng (ba mươi triệu không trăm ba mươi ngàn đồng).
- Võ Thị Tuyết L: L quá giang người đi đường đến quán Phan Thị X để giao áo (bán hàng qua mạng, khách hẹn quán X). Khi đi, L mang theo 3.600.000 đồng. Sau khi giao hàng ong, L gh quán X để uống nước, L nghe ồn ào phía sau nhà X và đi ra em thì thấy có đánh bạc nên lấy 100.000 đồng để tham gia đánh bạc, đặt được 2 ván, mỗi ván 50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng) và thua hết 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng). Khi Công an vào bắt quả tang, thu giữ trên người L số tiền 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm ngàn đồng).
Ngoài ra, R s dụng số tiền 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng), Th2 s dụng số tiền 600.000 đồng (sáu trăm ngàn đồng), Th1 s dụng số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng), Nh s dụng số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng), Phan Thị L1 s dụng số tiền 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng), U s dụng số tiền 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng), Ph s dụng số tiền 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng), Nguy n Thanh T5 s dụng số tiền 50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng) để tham gia đánh bạc.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2018/HS-ST ngày 03/01/2018 của T a án nhân dân huyện D đã quyết định:
- Áp dụng khoản 1 Điều 248; khoản 1 Điều 249; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 50, Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999 được s a đổi, bổ sung năm 2009; Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội khóa 13; khoản 3 Điều 7; điểm khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:
X phạt bị cáo Phan Thị X 12 (mười hai) tháng tù về tội “Gá bạc”; 05 (năm) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/7/2017 đến ngày 13/11/2017.
- Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1, khoản 2, Điều 46; Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999 được s a đổi, bổ sung năm 2009:
X phạt bị cáo Hu nh Thị T 04 (bốn) tháng tù về tội đánh bạc. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/7/2017 đến ngày 06/9/2017.
X phạt bị cáo Đặng Thị Ngọc Tr 03 (ba) tháng tù về tội đánh bạc. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/7/2017 đến ngày 06/9/2017.
X phạt bị cáo Võ Thị Tuyết L 03 (ba) tháng tù về tội đánh bạc. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/7/2017 đến ngày 06/9/2017.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm c n tuyên các bị cáo Nguy n Văn R, Lê Tấn Th1, Nguy n Thị Nh, Hu nh Thanh Ph, Nguy n Thanh T5từ 03 tháng tù đến 08 tháng tù, các bị cáo Nguy n Thị Th2, Phan Thị L1, Phan Thị U từ 03 đến 04 tháng tù nhưng cho hư ng án treo. X phạt bị cáo Nguy n Thanh T5 số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng); về l vật ch ng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 14/01/2018 bị cáo Hu nh Thị T kháng cáo in chuyển sang hình phạt khác hoặc in được hư ng án treo
Ngày 15/01/2018 bị cáo Phan Thị X kháng cáo in giảm nhẹ hình phạt, bị cáo Đặng Thị Ngọc Tr kháng cáo in được hư ng án treo, bị cáo Võ Thị Tuyết L kháng cáo in chuyển sang hình phạt khác hoặc in được hư ng án treo (đơn kháng cáo trong hạn luật định).
Tại phiên t a:
Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên t a phúc thẩm phát biểu quan điểm giải quyết đối với vụ án: Các bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định. Việc ác định tội danh, điều luật T a án cấp sơ thẩm t và áp dụng đối với các bị cáo là có căn c , đúng người, đúng tội. Tại phiên t a, bị cáo X kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới theo quy định pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng t không chấp nhận kháng cáo của bị cáo X giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo X. Các bị cáo Tr, T, L kháng cáo in được hư ng án treo hoặc in phạt tiền và cung cấp được các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới như đang nuôi con nhỏ, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, mẹ của bị cáo T có công với Cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Do đó, đề nghị chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, s a bản án sơ thẩm áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo Tr, T, L từ 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) đến 9.000.000 đồng (chín triệu đồng).
Bị cáo Phan Thị X đưa ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới như: Bị cáo bị bệnh cắt 01 quả thận, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo có cha mẹ và anh là người có công với Cách mạng và in Hội đồng t cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo Hu nh Thị T đưa ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới như: Gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo có mẹ là người có công với Cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, đang nuôi con nhỏ và in Hội đồng t cho bị cáo hư ng án treo hoặc phạt tiền.
Bị cáo Võ Thị Tuyết L đưa ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới như: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn và đang nuôi con nhỏ in Hội đồng t
cho bị cáo hư ng án treo hoặc phạt tiền.
Bị cáo Đặng Thị Ngọc Tr đưa ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới như: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đang nuôi con nhỏ và bị cáo hiện đang bị bệnh suy n, cao huyết áp in Hội đồng t cho bị cáo hư ng án treo hoặc phạt tiền.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng t nhận định như sau:
[1] Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 30/7/2017 tại phía sau nhà bị cáo Phan Thị X, bị cáo X chuẩn bị tấm bạt để cho các bị cáo Lê Tấn Th1, Nguy n Văn R, Hu nh Thị T, Nguy n Thị Nh, Hu nh Thanh Ph, Nguy n Thanh T5, Võ Thị Tuyết L, Đặng Thị Ngọc Tr, Phan Thị U, Nguy n Thị Th2, Phan Thị L1 và Phan Thị X đánh bạc thắng thua bằng tiền với hình th c lắc tài ỉu, mỗi ván thắng thua với số tiền lớn nhất từ 500.000 đồng (năm trăm ngàn đồng), nhỏ nhất là 50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng), bị cáo X thu tiền u với số tiền 50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng) đến 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng) nếu nhà cái thắng hết, đến khoảng 10 giờ 30 phút Công an huyện D bắt quả tang và thu giữ được tại chiếu bạc và trên người các bị cáo với tổng số tiền là 16.010.000 đồng (mười sáu triệu không trăm mười ngàn đồng). Trong đó, bị cáo X s dụng số tiền 3.600.000 đồng (ba triệu sáu trăm ngàn đồng), bị cáo Tr s dụng số tiền 160.000 đồng (một trăm sáu mươi ngàn đồng), bị cáo T s dụng số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), bị cáo L s dụng số tiền 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng), R s dụng số tiền 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng), Th2 s dụng số tiền 600.000 đồng (sáu trăm ngàn đồng), Th1 s dụng số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng), Nh s dụng số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng), Phan Thị L1 s dụng số tiền 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng), U s dụng số tiền 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng), Ph s dụng số tiền 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng), Nguy n Thanh T5 s dụng số tiền 50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng) để tham gia đánh bạc
Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 1999 s a đổi, bổ sung năm 2009 quy định: Ng ời nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép với quy mô lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này và Điều 248 c a Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, ch a đ ợc xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ m ời triệu đồng đến ba m i triệu đồng hoặc phạt tù từ một đến năm năm. Bị cáo Phan Thị X s dụng địa điểm là tại phía sau nhà của mình để các đối tượng khác đánh bạc thắng thua bằng tiền để thu tiền u với số tiền từ 50.000 đồng (năm mươi ngàn đồng) đến 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng) cho mỗi ván khi nhà cái thắng hết, đồng thời bị cáo Phan Thị X cũng trực tiếp tham gia đánh bạc. Do đó, T a án cấp sơ thẩm t bị cáo Phan Thị X phạm tội “Gá bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 1999 s a đổi, bổ sung năm 2009 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999 s a đổi, bổ sung năm 2009 thì “Ng ời nào đánh bạc trái phép d ới bất kỳ hình thức nào đ ợc thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến d ới năm m i triệu đồng hoặc d ới hai triệu đồng nh ng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 c a Bộ luật này, ch a đ ợc xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm m i triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm”. Do đó, T a án cấp sơ thẩm t các bị cáo Phan Thị X, Hu nh Thị T, Võ Thị Tuyết L, Đặng Thị Ngọc Tr phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999 s a đổi, bổ sung năm 2009 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2] Bị cáo X nhận th c được hành vi “Gá bạc và đánh bạc” là trái pháp luật, các bị cáo L, Tr, T nhận th c được hành vi “Đánh bạc” là trái pháp luật, bị Nhà nước cấm nhưng vì động cơ tư lợi mà các bị cáo cố tình thực hiện tội phạm, em thường pháp luật và bất chấp hậu quả g y ra cho ã hội.
[3] Tại phiên t a: Các bị cáo L, T, Tr giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin hư ng án treo hoặc phạt tiền. Đồng thời các bị cáo đưa ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới như: Có mẹ là người có công với Cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (đối với bị cáo T), các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đang nuôi con nhỏ, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. X t thấy, bị cáo Đặng Thị Ngọc Tr s dụng số tiền 160.000 đồng (một trăm sáu mươi ngàn đồng), bị cáo Hu nh Thị T s dụng số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), bị cáo Võ Thị Tuyết L s dụng 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng) để tham gia đánh bạc, số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc không lớn. Ngoài ra, các bị cáo có nh n th n tốt (không có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng); các bị cáo đang phải nuôi con nhỏ; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đối với bị cáo T có mẹ là người có công với Cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có đủ điều kiện để Hội đồng t phạt tiền là hình phạt chính cho các bị cáo. Do đó, Hội đồng t chấp nhận kháng cáo của các bị cáo s a bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo Tr, T, L.
Đối với bị cáo Phan Thị X kháng cáo in được giảm nhẹ hình phạt, đồng thời bị cáo đưa ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Bị cáo thành khẩn khai báo, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có cha mẹ là người có công với cách mạng, t thấy, các tình tiết giảm nhẹ trên đã được T a án cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; khoản 3 Điều 7; điểm khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Mặt khác, bị cáo Phan Thị X có tiền án về tội đánh bạc chưa được óa án tích nay lại tiếp tục thực hiện hai hành vi gá bạc và đánh bạc, đ y là trường hợp tái phạm được quy định tại Điều 49 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được s a đổi, bổ sung năm 2009 và là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được s a đổi, bổ sung năm 2009. Do đó, T a án cấp sơ thẩm phạt bị cáo X 01 (một) năm về tội gá bạc và 05 (năm) tháng về tội đánh bạc là phù hợp nên không có cơ s chấp nhận kháng cáo của bị cáo X. Tuy nhiên, T a án cấp sơ thẩm áp dụng Nghị quyết 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội khóa 13 là chưa phù hợp vì đã hết hiệu lực kể từ khi Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa 14 có hiệu lực thi hành, do đó, T a án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
Viện Kiểm sát đề nghị chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Tr, T, L và s a bản án sơ thẩm là phù hợp. Viện Kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo X là có cơ s chấp nhận.
Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Án phí hình sự phúc thẩm: Do Hội đồng t chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Hu nh Thị T, Võ Thị Tuyết L, Đặng Thị Ngọc Tr nên các bị cáo không phải nộp án phí. Đối với bị cáo Phan Thị X, Hội đồng t không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo nên bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT Đ NH:
Căn c điểm a, b khoản 1 Điều 355; điểm đ, khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Thị X; chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Hu nh Thị T, Đặng Thị Ngọc Tr, Võ Thị Tuyết L; s a Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2018/HSST ngày 03/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện D về phần quyết định hình phạt đối với các bị cáo: Hu nh Thị T, Đặng Thị Ngọc Tr, Võ Thị Tuyết L.
1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 248; khoản 1 Điều 249; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48, Điều 50, Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999 được s a đổi, bổ sung năm 2009; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa 14; khoản 3 Điều 7; điểm khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:
- X phạt bị cáo Phan Thị X 01 (một) năm tù về tội “Gá bạc”; 05 (năm) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 05 (năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/7/2017 đến ngày 13/11/2017.
1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm h, p khoản 1, khoản 2, Điều 46; Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 1999 được s a đổi, bổ sung năm 2009:
- X phạt bị cáo Hu nh Thị T 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.
- X phạt bị cáo Đặng Thị Ngọc Tr 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.
- X phạt bị cáo Võ Thị Tuyết L 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) về tội “Đánh bạc”.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm:
Các bị cáo Hu nh Thị T, Đặng Thị Ngọc Tr, Võ Thị Tuyết L không phải nộp.
Bị cáo Phan Thị X phải nộp 200.000 đồng.
3. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh BD;
THẨM PHÁN - CHỦ T A PHI N TÒA
- Ph ng PV 27 CA tỉnh BD;
- TAND huyện D;
- VKSND huyện D;
(đã k )
- Chi cục THADS huyện D; 1
- Công an huyện D;
- Các bị cáo;
- UBND ã; UBND thị trấn;
- Tổ HCTP;
Nguyễn Hu nh Đức
- S Tư pháp tỉnh BD;
- Lưu HS.
1 CÁC THẨM PHÁN THÀNH VI N
THẨM PHÁN - CHỦ T A Trần Văn Luông Trƣơng Văn Lộc
Nguyễn Hu nh Đức
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh BD; - Ph ng PV 27 CA tỉnh BD; - TAND huyện D; - VKSND huyện D; - Chi cục THADS huyện D; 1 - Công an huyện D; - Các bị cáo; - Tổ HCTP; - S Tư pháp tỉnh BD; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ T A PHI N TÒA Nguyễn Hu nh Đức 1 |