- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Doãn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Hủy bản án hình sự sơ thʷm số 08/2017/HSST ngày 20/9/2017 của TAND huyện P đã xét x bị cáo Nguyễn Doãn T về t i “Tr m cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 250 Bộ luật Tố tụng hình sự; luật tố tụng hình sự…; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 319/2017/HSPT Ngày: 30/11/2017 |
NHÂN DANH
N ỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA N NH N D N TỈNH ĐỒNG NAI
V i thành phʵn H i đ˪ng xét x phúc thʷm g˪m có:
Thʷm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Hương
Các thʷm phán:
Ông Đinh Quang Nghĩa
Ông Nguyễn Văn Thành
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tài
Đại diện VKSND tỉnh Đ˪ng Nai: Ông Nguyễn Văn Hiền - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 30 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Đ˪ng Nai xét x phúc thʷm công khai vụ án hình sự thụ lý số 293/2017/HSPT ngày 27/10/2017 do có kháng cáo của bị cáo đối v i bản án sơ thʷm số 108/2017/HSST ngày 20/9/2017 của TAND huyện P.
Bị cáo: Nguyễn Doãn T, sinh năm 1985 tại Nghệ An; HKTT: Xóm 12, xã M, huyện N, tỉnh Nghệ An; Dân t c: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình đ học vấn: 09/12. Nghề nghiệp: Thợ m c; Họ và tên cha: Nguyễn Doãn N (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1953. Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình và chưa có vợ con.
Tiền án: Ngày 16/03/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố H˪ Chí Minh x phạt 02 năm tù về t i "Tàng trữ trái phép chất ma túy" (Bản án số 138/2016/HSPT ngày 16/3/2016). Chấp hành xong hình phạt ngày 22/5/2016.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
+ Ngày 10/9/2004 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An x phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian th thách 12 tháng về t i "Tr m cắp tài sản" (Bản án số 297/2004/HSST ngày 10/9/2004).
+ Ngày 23/12/2005 bị Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An x phạt 15 tháng tù về t i "Tr m cắp tài sản" (Bản án số 65/2005/HSST ngày 23/12/2005). Tổng hợp hình phạt v i Bản án số 297/2004/HSST ngày 10/9/2004 x phạt bị cáo 21 tháng tù. Chấp hành hình phạt xong ngày 09/3/2007.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 03/5/2017. (Có mặt)
NHẬN THẤY
Theo án hình sự sơ thʷm: Vào lúc 22 giờ 00 phút ngày 02/5/2017, trường Cảnh sát VI thu c ấp 7, xã An Phư c, huyện P phát hiện đối tượng Nguyễn Doãn T đ t nhập trái phép vào trường nên bắt giữ và giao cơ quan công an x lý. Tại cơ quan công an huyện P, Nguyễn Doãn T khai nhận: Bị cáo trư c đây làm thuê tại xưởng gỗ của anh Trʵn Quốc T thu c ấp 7, xã M1, huyện P, buổi tối Nguyễn Doãn T ngủ tại xưởng gỗ. Vì muốn có tiền tiêu xài nên vào khoảng giữa tháng 4/2017 lợi dụng lúc đêm tối không có người trông coi kho gỗ, Nguyễn Doãn T vào kho gỗ của anh Trʵn Quốc T lấy tr m 17 đoạn gỗ Gõ Đỏ hình trụ v i nhiều kích thư c khác nhau, sau đó bị cáo vứt qua tường rào xưởng gỗ và dùng xe mô tô biển kiểm soát 79K7-2887 chở đến nhà chị Phan Thị S là người quen của bị cáo ở ấp L, xã M2, thành phố N2 để g i. Khoảng m t tuʵn, cũng v i thủ đoạn trên, bị cáo tiếp tục lấy tr m 15 đoạn gỗ Gõ Đỏ và 06 đoạn gỗ Cʷm Lai nhưng chỉ m i chở được 15 đoạn gỗ Gõ Đỏ t i nhà chị S g i, còn lại 06 đoạn gỗ Cʷm Lai được bị cáo cất giấu tại bể nư c cũ ở vườn tràm cạnh xưởng gỗ. Lúc 22 giờ ngày 02/5/2017, bị cáo đến lấy số gỗ Cʷm Lai còn lại thì bị phát hiện và bắt giữ. Ngày 03/5/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tiến hành bắt giữ khʷn cấp Nguyễn Doãn T về hành vi tr m cắp tài sản.
Tại kết luận định giá tài sản số 34/KL.ĐGTSTT ngày 11/5/2017, H i đ˪ng địng giá tài sản tố tụng hình sự huyện P kết luận: Tài sản chiếm đoạt lʵn thứ nhất 17 đoạn gỗ Gõ Đỏ có giá trị 4.505.000 đ˪ng, tài sản chiếm đoạt lʵn thứ hai 15 đoạn gỗ Gõ Đỏ và 06 đoạn gỗ Cʷm Lai có giá trị 7.335.000 đ˪ng. Tổng c ng 11.840.000 đ˪ng.
Vật chứng vụ án: 32 đoạn gỗ Gõ Đỏ hình trụ và 06 đoạn gỗ Cʷm Lai hình trụ có kích thư c khác nhau đã được thu h˪i và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại cho người bị hại anh Trʵn Quốc T.
Tại bản án hình sự sơ thʷm số 108/2017/HSST ngày 20/9/2017 của TAND huyện P đã áp dụng khoản 1 Điều 138 BLHS; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS; điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS x phạt: bị cáo Nguyễn Doãn T 01 (M t) năm 04 (Bốn) tháng tù về t i “Tr m cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2017.
Ngoài ra án sơ thʷm còn tuyên về x lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 26/9/2017, bị cáo Nguyễn Doãn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thʷm, bị cáo tiếp tục đề nghị HĐXX xem xét kháng cáo của bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có quan điểm cho rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã h i, đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự công c ng tại địa phương. Vì thế cấp sơ thʷm x phạt bị cáo mức án 01 năm 04 tháng tù là phù hợp, đúng quy định. Tuy nhiên, m t số tài liệu trong h˪ sơ vụ án thể hiện tên cha và tên mẹ của bị cáo khác nhau. Nhằm xác định lại chính xác nhân thân lai lịch của bị cáo, đề nghị HĐXX hủy án sơ thʷm để điều tra xét x lại theo thủ tục chung.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thʷm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đʵy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY
Tại phiên tòa phúc thʷm, bị cáo Nguyễn Doãn T khai nhận: Bị cáo là người làm thuê trong xưởng gỗ của gia đình anh Trʵn Quốc T ngụ tại ấp 7, xã M1, huyện P từ đʵu năm 2016 và được anh Trʵn Quốc T giao ngủ tại xưởng gỗ để trông coi. Trong quá trình ở đây, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản, sự tin tưởng của chủ nhà, bị cáo đã hai lʵn thực hiện hành vi tr m cắp v i tổng c ng là 38 đoạn gỗ có kích thư c khác nhau (trong đó có 32 đoạn gỗ Gõ Đỏ và 06 đoạn gỗ Cʷm Lai) v i tổng giá trị tài sản là 11.840.000 đ˪ng. V i hành vi phạm t i nêu trên, bị cáo Nguyễn Doãn T đã bị Tòa án cấp sơ thʷm x phạt về t i “Tr m cắp tài sản” là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã h i, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự công c ng tại địa phương. Bị cáo là người đang có tiền án về t i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị TAND Thành phố H˪ Chí Minh x phạt 02 năm tù. Vừa chấp hành xong hình phạt tù, ra trại chưa bao lâu bị cáo lại tiếp tục phạm t i. Bản thân bị cáo cũng đã từng bị TAND tỉnh Nghệ An x phạt về t i “Tr m cắp tài sản” nhưng vẫn không chịu s a chữa, sống lương thiện để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã h i nên cʵn giành cho bị cáo mức án nghiêm, tương xứng v i tính chất, mức đ hành vi phạm t i mà bị cáo đã gây ra, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, theo tài liệu trong h˪ sơ vụ án thể hiện họ tên cha và mẹ của bị cáo có sự khác nhau, cụ thể: Theo Danh bản (bút lục 141), Trích lục tiền án, tiền sự (bút lục 87), thể hiện tên cha bị cáo là Nguyễn Doãn N1 và tên mẹ là Nguyễn Thị M1 nhưng tài liệu Cơ quan điều tra Công an huyện P yêu cʵu tra cứu tiền án, tiền sự (bút lục 88, 89), Thông báo kết quả tra cứu (Bút lục 91) lại thể hiện tên cha là Nguyễn Doãn N1 và tên mẹ là Nguyễn Thị M; Lý lịch bị can (BL 96, 97), Kết luận điều tra (Bút lục 137), Cáo trạng (bút lục 146) cùng các bản án đã có hiệu lực trư c đó đều thể hiện tên cha bị cáo là Nguyễn Doãn N, tên mẹ là Nguyễn Thị M. Riêng bản án hình sự sơ thʷm số 65/2005/HSST ngày 23/12/2005 của TAND huyện N, tỉnh Nghệ An lại ghi tên mẹ của bị cáo là Phạm Thị L.
Như vậy, Bản án hình sự sơ thʷm số 108/2017/HSST ngày 20/9/2017 của TAND huyện P ghi nhận phʵn lý lịch của bị cáo Nguyễn Doãn T là không chính xác, chưa được điều tra xác minh làm rõ trong quá trình điều tra, truy tố và xét x sơ thʷm. Đây là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà cấp phúc thʷm không thể khắc phục, bổ sung được. Do đó, cʵn hủy Bản án hình sự sơ thʷm để giao h˪ sơ cho cấp sơ thʷm điều tra, xác minh làm rõ lý lịch, nhân thân của bị cáo Nguyễn Doãn T. Do Bản án sơ thʷm bị hủy nên HĐXX không xem xét kháng cáo của bị cáo.
Ngoài ra, Biên bản nghị án (Bút lục 184), phʵn áp dụng điều luật ghi nhận: “Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 99 B luật tố tụng hình sự…”. Như vậy, Biên bản nghị án đã không ghi rõ áp dụng B luật nào để x phạt bị cáo là thiếu sót, cʵn rút kinh nghiệm.
Quan điểm của đại diện VKS tại phiên tòa phù hợp v i nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 248 BLTTHS; khoản 1, khoản 3 Điều 250 BLTTHS.
QUYẾT ĐỊNH
Hủy bản án hình sự sơ thʷm số 08/2017/HSST ngày 20/9/2017 của TAND huyện P đã xét x bị cáo Nguyễn Doãn T về t i “Tr m cắp tài sản”.
Chuyển h˪ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân huyện P để điều tra, xét x lại theo thủ tục chung.
Tiếp tục giam bị cáo Nguyễn Doãn T đến khi VKSND huyện P thụ lý vụ án.
Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thʷm.
Bản án phúc thʷm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đ˪ng Nai; - TAND huyện P (2); - VKSND huyện P; - Công an huyện P; - Chi cục THADS huyện P; - Phòng PV27 (Công an tỉnh); - Bị cáo – B5 (2); - Lưu HS (3). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Lê Hồng Hương |