vanban.org

Bản án 31

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên bố: Lương Văn L, Lê Thanh Thủy, Cao Viết Thuần, Quách Văn

Thi, Lục Đình Dũng và Nguyễn Văn Hoàn phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý ”; Lê Xuân Tg, Trần Văn X phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "vụ án hình sự số 31/2023-HSST ngày 6-4-2023 của TAND thị xã Nghi Sơn - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi…"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Lương Văn L, Lê Thanh Thủy, Cao Viết Thuần, Quách Văn
  • Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N -TỈNH T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 31/2023-HSST

Ngày: 06/04/2023

THỊ XÃ N

§éc lËp - Tù do - H¹nh phóc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N -TỈNH T

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mai Đình Thuận Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Mai Văn Thông Ông: Nguyễn Duy Biên - Thư ký phiên toà: Ông: Phạm Viết Chiến - Thư ký Toà án nhân dân thị xã N, tỉnhThanh Hoá. - Đại diện VKSND thị xã N tham gia phiên toà: Ông: Nguyễn Khắc Duyến - chức vụ: Kiểm sát viên Ngày 06/4/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh T, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 02/2023/TLST- HS ngày 09/01/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2023/QĐXXST-HS ngày 10/3/2023 đối với các bị cáo: 1. Họ và tên: Lương Văn L; sinh năm 1988; tại phường Hải Thượng, thị xã Ntỉnh T. Nơi cư trú: TDP Liên Hải, phường Hải Thượng, thị xã N - T. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tich: Việt Nam; con ông Lương Văn Minh (đã chết) và bà Nguyễn Thị Hoa; Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 31/8/2009 bị Công an huyện Tĩnh Gia (nay là công an thị xã N) xử phạt hành chính về hành vi Xâm hại sức khỏe người khác. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/7/2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa. 2. Họ và tên: Lê Thanh T - Sinh năm 1985; tại phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T; Nơi cư trú: Tổ dân phố Bắc Hải, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thanh Vinh (đã chết) và bà Lê Thị Thảo; có vợ: Nguyễn thị X, có 1 con, sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 29/5/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia (nay là Tòa án nhân dân thị xã N) xử phạt 18 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; Ngày 13/8/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố T xử phạt 4 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, hiện bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và đã được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ tạm giam từ ngày 21/7/2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa. 3. Họ và tên: Cao Viết Th- Sinh ngày 24/3/2002; tại xã Cao Thịnh, huyện Ngọc Lặc, tỉnh T; HKTT: Thôn Khang Ninh, xã Cao Thịnh, huyện Ngọc Lặc - T; Nơi tạm trú: TDP Bắc Hải, phường Hải Thượng, thị xã N - T Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Viết Hải, con bà Lê Thị Thu; Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 08/02/2019 bị Công an, huyện Ngọc Lặc, tỉnh T, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh nhau; Ngày 08/3/2021 bị Công an, xã Cao Thịnh - Công an huyện Ngọc Lặc, tỉnh T, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/7/2022 cho đến nay có mặt tại phiên tòa. 4. Họ và tên: Lục Đình D - Sinh ngày 11/02/2005; tại xã Cao Thịnh, huyện Ngọc Lặc, tỉnh T; Nơi cư trú: Thôn Cao Khánh, xã Cao Thịnh, huyện Ngọc Lặc - T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lục Đình Bắc (đã chết) và bà Nguyễn Thị Yến; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/7/2022 cho đến nay có mặt tại phiên tòa. 5. Họ và tên: Quách Văn Thi – Sinh năm 1999; tại xã Cao Thịnh, huyện Ngọc Lạc, tỉnh T; Nơi cư trú: Thôn Khang Ninh, xã Cao Thịnh, huyện Ngọc Lặc -T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Mường; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách Văn Tuấn và bà Lê Thị Thức; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/7/2022 cho đến nay có mặt tại phiên tòa. 6. Họ và tên: Nguyễn Văn H – Sinh năm 1994; tại phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T; Nơi cư trú: TDP Liên Sơn, P. Hải Thượng, thị xã N, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Thành và bà Đặng Thị Phương; Tiền án: Năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia (nay là Tòa án nhân dân thị xã N) xử phạt 7 năm 6 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù táng 01/2022; Tiền sự: không Nhân thân: Ngày 15/12/2016 bị Công an huyện Tĩnh Gia (Nay là Công an thị xã N) xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác” Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/7/2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa. 7. Họ và tên: Lê Xuân Tg – Sinh ngày 16/02/2002; tại thị trấn Triệu Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh T; Nơi thường trú:Tổ dân phố 3, thị trấn Triệu Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh T; Nơi ở hiện tại: TDP Kim Phú, phường Mai Lâm, thị xã N, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân Chiến và bà Lê Thị Thoa; vợ: Lê Thị Mai Anh, có 01 con sinh năm 2022; Tiền sự, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/7/2022 cho đến nay có mặt tại phiên tòa. 8. Họ và tên: Trần Văn X - Sinh ngày 01/3/2003; tại: xã Hợp Thành, huyện Triệu Sơn, tỉnh T; Nơi cư trú: Thôn Đồng Khang, xã Hợp Thành, huyện Triệu Sơn, tỉnh T; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Tuấn và bà Trịnh Thị Vinh; Tiền sự, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 10/5/2021, bị Công an xã Hợp Thành, huyện Triệu Sơn, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/7/2022 cho đến nay có mặt tại phiên tòa. - Người bào chữa cho bị cáo Lê Thanh T: Ông Lê Khắc Hải - là Trợ giúp viên pháp lý của Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 3, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T (vắng mặt) -Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị Tiến - sinh năm: 1992; nơi cư trú: Làng Me, xã Đồng Thịnh, huyện Ngọc Lặc, tỉnh T (vắng mặt) - Người làm chứng: Anh Phạm Văn Kim - sinh năm: 1992; nơi cư trú: Tổ dân phố Liên Trung, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh Thanh Hoá (vắng mặt) Anh Nguyễn Hữu Dương - sinh năm: 1987; nơi cư trú: Phố 5, phường Quảng Hưng, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt) Anh Nguyễn Minh Tâm - sinh năm: 2001; nơi cư trú: Phố Hàm L, phường Hàm Rồng, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt) Chị Trương Thị Ngọc - sinh năm: 1998; nơi cư trú: Phố Tây Nam, phường Quảng Vinh, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt) Chị Nguyễn Thị Ngọc nh - sinh năm: 2004; nơi cư trú: Thôn Vĩnh Gia 1, xã Hg Phượng, huyện Ho ng Hóa, tỉnh T (vắng mặt) Chị Lương Thị Bình - sinh năm: 2004; nơi cư trú: Bản Cắm, xã Chi Lễ, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An (vắng mặt) Chị Quách Thị Mai - sinh năm: 2000; nơi cư trú: Làng Nghiện, xã Cao Ngọc, huyện Ngọc Lặc, tỉnh T (vắng mặt) Chị Dương Thu Hà - sinh ngày: 07/01/2007; nơi thường trú: Xóm Sấu, xã Lạc Thịnh, huyện Yên T, tỉnh Hòa Bình; nơi ở hiện tại: Tổ dân phố Bắc Hải, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt) Anh Nguyễn Đình Đức - sinh năm: 1997; nơi cư trú: Thôn Ngọc Tân, xã Ngọc Trung, huyện Ngọc Lặc, tỉnh T (vắng mặt) + Anh Lê Duy Tùng - sinh năm: 1991; nơi cư trú: Tổ dân phố Liên Trung, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh Thanh Hoá (vắng mặt) Chị Lê Thị Mai Anh - sinh năm: 2000; nơi cư trú: Tổ dân phố Kim Phú, phường Mai Lâm, thị xã N, tỉnh T (vắng mặt) Ông Dương Văn Lọc - sinh năm: 1955; nơi cư trú: Tổ dân phố Liên Đình, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh Thanh Hoá (vắng mặt) - i ại di n h p pháp củ n i àm ch n n Th Hà: Bà Bùi Thị Vi (là m của chị Hà) - sinh năm: 1984 (vắng mặt) Nơi cư trú: Xóm Sấu, xã Lạc Thịnh, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 05 giờ 00 phút, ngày 21/7/2022, tại uán Karaoke Ngọc Sơn 2 thuộc tổ dân phố Liên Đình, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thị xã N phối hợp với Công an phường Hải Thượng kiểm tra, phát hiện, bắt uả tang tại phòng 04 tầng 02 của uán có 10 đối tượng, gồm: Phạm Văn Kim, trú tại tổ dân phố Liên Trung, phường Hải Thượng, thị xã N), Nguyễn Hữu Dương, trú tại phố 5, phường Quảng Hưng, thành phố T), Nguyễn Minh Tâm, trú tại phố Hàm L, phường Hàm Rồng, thành phố T, Trương Thị Ngọc, trú tại khu phố Tây Nam, phường Quảng Vinh, thành phố Sầm Sơn; Nguyễn Thị Ngọc nh, trú tại thôn Vĩnh Gia 1, xã Hg Phượng, huyện Ho ng Hóa, Lương Thị Bình, trú tại Bản Cắm, xã Chi Lễ, huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An), Lê Thanh T, trú tại tổ dân phố Bắc Hải, phường Hải Thượng, thị xã N, Lương Văn L, trú tại tổ dân phố Liên Sơn, phường Hải Thượng, thị xã N, Phạm Thị Tiến, trú tại Làng Me, xã Đồng Thịnh, huyện Ngọc Lặc, tỉnh T và Quách Thị Mai, trú tại Làng Nghiện, xã Cao Ngọc, huyện Ngọc Lặc, tỉnh T, đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Cùng thời điểm trên tổ công tác Công an thị xã N còn phát hiện, bắt uả tang tại phòng 02 tầng 01 của uán có 05 đối tượng, gồm: Quách Văn Thi, trú tại thôn Khang Ninh, xã Cao Thịnh, huyện Ngọc Lặc, tỉnh T, Lục Đình D, trú tại thôn Cao Khánh, xã Cao Thịnh, huyện Ngọc Lặc, tỉnh T), Nguyễn Văn H, trú tại tổ dân phố Liên Sơn, phường Hải Thượng, thị xã N; Dương Thu Hà, trú tại Xóm Sấu, xã Lạc Thịnh, huyện Yên T, tỉnh Hòa Bình và Nguyễn Đình Đức, trú tại thôn Ngọc Tân, xã Ngọc Trung, huyện Ngọc Lặc, tỉnh T cũng đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình bắt uả tang, lực lượng Công an đã thu giữ tang vật tại phòng 04 tầng 02, gồm: 01 đĩa sứ màu trắng, bên dưới đĩa có bám dính muội khói màu đen, trên mặt đĩa có bám dính chất bột màu trắng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn thành dạng ống có bám dính chất bột màu trắng, 01 thẻ nhựa màu đen loại thẻ Visa trên thẻ có dòng chữ “PHAM THI TIEN” có bám dính chất bột màu trắng, 01 bật lửa ga đã ua sử dụng; thu giữ tại phòng 02 tầng 01, gồm: 01 đĩa sứ màu trắng có hoa văn, bên dưới đĩa có bám dính muội khói màu đen, bên trên đĩa có bám dính chất bột màu trắng, 01 thẻ ATM có in số 4089041053902920 và dòng chữ “PHAM THI TIEN” trên thẻ có bám dính chất bột màu trắng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn thành dạng ống có bám dính chất bột màu trắng, 01 túi nilon màu trắng bên trong có bám dính chất bột màu trắng, 01 bật lửa gas màu đỏ đã ua sử dụng, 01 thẻ căn cước công dân số 038097017761 mang tên “Nguyễn Đình Đức”, 01 điện thoại di động SamSung Galaxy A10 màu đỏ của Lục Đình D và 01 điện thoại di động Iphone 11 Promax, màu vàng của Quách Văn Thi. Kết uả xét nghiệm mẫu nước tiểu của các đối tượng sử dụng ma túytại phòng 04 tầng 2, xác định: Các đối tượng Lê Thanh T, Phạm Văn Kim, Nguyễn Minh Tâm, Lương Văn L, Nguyễn Hữu Dương, Phạm Thị Tiến, Cao Viết Thdương tính với ma túy, loại MDMA, Methamphetamine, Ketamine; đối tượng Trương Thị Ngọc, Quách Thị Mai dương tính với ma túy loại MDMA, Methamphetamine; đối tượng Lương Thị Bình, Nguyễn Thị Ngọc nh âm tính với các chất ma túynêu trên. Kết uả xét nghiệm mẫu nước tiểu của các đối tượng sử dụng ma túytại phòng 02 tầng 1, xác định: Các đối tượng Nguyễn Đình Đức, Lục Đình D, Quách Văn Thi, Nguyễn Văn H, Dương Thu Hà đều dương tính với ma túy, loại Methamphetamine, MDMA và Ketamine. Tại kết luận giám định số 2541/PC09 ngày 26/7/2022 (BL 837->838), giám định chất ma túy trên các vật chứng thu giữ tại phòng 04 tầng 2, Phòng K thuật Hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: "- Chất bột mà trắn bám dính trên bề mặt ĩ s mà trắn củ hộp iấy niêm phon ửi iám ịnh à m túy, oại: Ket mine, khôn xác ịnh c khối n chất m ma túy - Chất bột mà trắn bám dính trên bề mặt t tiền m nh iá 10.000 ồn củ phon bì kí hi T1 niêm phon ửi iám ịnh à ma túy, oại: Ket mine, khôn xác ịnh c khối n chất m ma túy - Chất bột màu trắng bám dính trên bề mặt thẻ nhựa màu đen loại thẻ Visa trên thẻ có dòng chữ “PHAM THI TIEN” của phong bì kí hiệu T2 niêm phong gửi giám định là ma túy loại: Ketamine, không xác định được khối lượng chất ma túy." Tại kết luận giám định số 2540/KL-KTHS, ngày 26/7/2022 (BL: 50->51), giám định chất ma túy trên các vật chứng thu giữ tại phòng 02 tầng 1, Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh T kết luận: "- Chất bột mà trắn bám dính trên bề mặt ĩ s mà trắn có ho văn củ hộp iấy ký hi Q1 niêm phon ửi iám ịnh à ma túy, oại: Ket mine, khôn xác ịnh c khối n chất ma túy. - Chất bột mà trắn bám dính trên bề mặt thẻ ATM có in số 4089041053902920 và chữ “PHAM THI TIE ” củ phon bì ký hi Q2 niêm phon ửi iám ịnh à ma túy, oại: Ket mine, khôn xác ịnh c khối n chất ma túy. - Chất bột mà trắn bám dính trên bề mặt t tiền m nh iá 10.000 (M i n hìn ồn ) củ phon bì ký hi Q3 niêm phon ửi iám ịnh à ma túy, oại: Ket mine, khôn xác ịnh c khối n chất ma túy. - Chất bột mà trắn bám dính bên tron túi ni ôn mà trắn củ phòn bì ký hi Q4 niêm phon ửi iám ịnh à ma túy, oại: Ket mine, không xác ịnh c khối n chất ma túy." Quá trình điều tra đã xác định diễn biến sự việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túynêu trên cụ thể như sau: (1) Hành vi của nhóm đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túytại phòng 04 tầng 2 quán Karaoke Ngọc Sơn 2: Vào khoảng 22 giờ ngày 20/7/2022, Phạm Văn Kim, Nguyễn Hữu Dương, Nguyễn Minh Tâm, Trương Thị Ngọc, Nguyễn Thị Ngọc nh và Lương Thị Bình đi hát tại uán Karaoke Ngọc Sơn 2. Sau khi hát xong, các đối tượng đến uầy lễ tân thanh toán, thì gặp Lê Thanh T (Chủ uán Karaoke) và Lương Văn L. Do có mối uan hệ uen biết từ trước, nên T rủ nhóm của Kim lên phòng số 04 tầng 2 của uán để tiếp tục hát và uống bia. Trong uá trình hát, thì L nảy sinh ý định mua ma túy để bản thân và mọi người cùng sử dụng, L nói ý định này với T thì được T đồng ý. Sau đó, L nhờ Cao Viết Thuần, trú tại thôn Khang Ninh, xã Cao Thịnh, huyện Ngọc Lặc, tỉnh T) mua hộ 05 viên ma túy k o (MDMA) và 01 chỉ ma túyke (Ketamine). Th đồng ý và gọi điện thoại cho Lê Xuân Tg, trú tại tổ dân phố 3, thị trấn Triệu Sơn, huyện Triệu Sơn, tỉnh T) để hỏi mua 05 viên ma túyk o và 01 chỉ ma túyke với giá là 5.600.000 đồng, sau đó Ththông báo lại cho L số tiền mua ma túylà 5.800.000 đồng. Do không có tiền mua ma túynên L hỏi vay của Dương 6.000.000 đồng, Dương đồng ý và chuyển khoản cho L 6.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, L chuyển đến tài khoản của Thuần 5.800.000đồng, thì Thchuyển đến tài khoản của Tg 4.800.000 đồng để mua ma túy. Sau đó, Thnhờ Lục Đình D (sinh năm 2005, trú tại thôn Cao Khánh, xã Cao Thịnh, huyện Ngọc Lặc, tỉnh T) đi lên uán Karaoke Gió Núi ở tổ dân phố Kim Phú, phường Mai Lâm, thị xã N gặp Tg để lấy ma túy và đưa cho D số tiền 1.000.000 đồng để thanh toán cho Tg 800.000 đồng tiền mua ma túy, còn lại 200.000 đồng Thuần trả công cho Dũng. Về phần Tg sau khi nhận lời bán ma túycho Thuần, Tg bảo Trần Văn X, ở thôn Đồng Khang, xã Hợp Tg, huyện Triệu Sơn, tỉnh T, là bạn của Tg đi đến thành phố Sầm Sơn mua ma túy về cho Tg, X đồng ý ngồi theo xe taxi của anh Lê Duy Tùng do Tg thuê đi xuống thành phố Sầm Sơn. Sau khi mua được ma túy, X mang về quán Karaoke Gió Núi đưa cho Tg, tại đây D đưa cho Tg 800.000 đồng và nhận túi nilon màu trắng chứa ma túy K o và Ketamine từ Tg. Khi về uán Karaoke Ngọc Sơn 2, D đưa Xi ma túycho Thuần, nhưng Thbảo đưa cho L nên D cầm túi ma túy nhét vào túi uần sau của L, L sau đó đã đưa Xi ma túy cho T để mang lên phòng hát cho mọi người cùng sử dụng. T đi lại bàn lễ tân lấy từ trong túi xách của Tiến một thẻ nhựa, loại thẻ Visa và lấy trên giá đĩa của uán một đĩa sứ màu trắng cầm lên phòng hát số 04 tầng 2. Khi vào phòng, T lấy 01 viên ma túyk o ra sử dụng, số ma túy k o còn lại T để xuống mặt bàn phòng hát cho Phạm Văn Kim, Trương Thị Ngọc, Nguyễn Minh Tâm, Nguyễn Hữu Dương sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy k o, T lấy bật lửa hơ nóng đĩa sứ rồi đổ ma túyke vào đĩa, lấy thẻ nhựa xào ma túy và lấy tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuốn thành ống hút để sử dụng ma túy ke. T kẻ ma túy đã xào thành các đường ke, rồi sử dụng một đường sau đó để đĩa ma túy lên mặt bàn phòng hát cho các đối tượng khác sử dụng. Phạm Văn Kim lấy đĩa ma túy và sử dụng một đường ke, tiếp đến có L, Mai, Tiến vào phòng hát, L và Tiến sử dụng ma túy k o và ma túy ke cùng mọi người, còn Mai do trước đó đã sử dụng ma túy k o tại uầy lễ tân nên không tham gia sử dụng ma túytrong phòng nữa. Đến khoảng 03 giờ ngày 21/7/2022, Cao Viết Th đi đến phòng hát số 04 tầng 2, thấy còn 01 miếng nhỏ ma túy k o để trên bàn, Th đã lấy sử dụng và lấy thẻ nhựa kẻ đường ke sử dụng, sau đó bê đĩa ma túy đến cho Dương và Tâm, mỗi người sử dụng một đường ke. Sử dụng ma túy xong, Th đi về phòng trọ của mình ngủ. Đến khoảng 05 giờ ngày 21/7/2022 khi các đối tượng còn lại đang sử dụng trái phép chất ma túythì bị tổ công tác Công an thị xã N kiểm tra, phát hiện bắt uả tang như đã nêu trên. Đến 13 giờ 00 phút cùng ngày Cao Viết Th đến cơ uan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đầu thú, khai nhận về hành vi tham gia tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý của bản thân tại quán Karaoke Ngọc Sơn 2. (2) Hành vi của nhóm đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túytại phòng 02 tầng 1 quán Karaoke Ngọc Sơn 2: Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 21/7/2022, tại uán Karaoke Ngọc Sơn 2, do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên Quách Văn Thi bảo Lục Đình D rủ mọi người góp tiền mua ma túy về sử dụng. Sau đó, Thi rủ Quách Thị Mai, còn D rủ Phạm Thị Tiến, Nguyễn Văn H, Dương Thu Hà cùng góp tiền mua ma túy; Mai đồng ý góp 200.000 đồng, Thi góp 200.000 đồng, H góp 1.000.000 đồng, D, Tiến và Hà mỗi người góp 500.000 đồng. Tuy nhiên, do Tiến bận đi làm nên không tham gia nữa và sau đó có cho Thi vay 600.000 đồng. Sau khi góp được số tiền 3.000.000 đồng, Thi liên hệ với Thắng hỏi mua 03 viên ma túyk o và nửa chỉ ma túyke, rồi bảo D đi đến uán Karaoke Gió Núi gặp Thắng để lấy ma túy. Tại đây, D đưa cho Tg 3.000.000 đồng và được Thắng đưa cho 03 viên ma túyk o và nửa chỉ ma túy ke. Sau khi mua được ma túy, D đi về uán Karaoke Ngọc Sơn 2, đến uầy lễ tân D bẻ số ma túyk o ra các phần nhỏ, rồi bản thân sử dụng một phần và đưa cho Mai nửa viên sử dụng. Số còn lại D đưa cho Quách Văn Thi, Nguyễn Văn H, Nguyễn Đình Đức cùng sử dụng. Sau đó, D, Thi, H, Đức và Hà cùng vào phòng hát số 2 tầng 1 của uán Karaoke Ngọc Sơn 2 để hát và sử dụng ma túy. Khi vào phòng hát, còn nửa viên ma túyK o D đưa cho Hà sử dụng. Sau đó, Thi lấy một đĩa sứ màu trắng dưới gầm loa đặt lên bàn rồi ra uầy lễ tân mượn Tiến 01 chiếc thẻ ATM cầm vào phòng hát, dùng bật lửa ga đốt nóng đĩa, D đổ nửa Xi ma túyke vào đĩa cho Thi xào. Tiếp đó, D ra bàn thờ thổ địa của uán lấy 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng đưa cho Hà uấn thành ống hút đế sử dụng ma túyke. Sau khi xào ma túyxong, Thi đưa cho Hà và Đức sử dụng, Thi cũng sử dụng một đường ke, rồi để đĩa ma túylên mặt bàn cho mọi người cùng sử dụng. Sau khi sử dụng hết số ma túyke trên đĩa, D lấy bật lửa ga đốt nóng đĩa sứ rồi đổ số ma túyke còn lại vào đĩa, Thi lấy thẻ ATM tiếp tục xào ma túysau đó để đĩa ma túyxuống bàn cho D và H sử dụng. Đến khoảng 05 giờ cùng ngày khi các đối tượng đang sử dụng trái phép chất ma túythì bị tổ công tác Công an thị xã N kiểm tra, phát hiện, bắt uả tang như đã nêu trên. Đến 17 giờ 00 phút, ngày 21/7/2022, Lê Xuân Tg đến cơ uan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đầu thú, khai nhận về hành vi bán trái phép chất ma túycho Cao Viết Thuần, Quách Văn Thi và Lục Đình D. Tiếp đó đến ngày 24/7/2022, Trần Văn X cũng ra đầu thú, khai nhận hành vi đi mua ma túygiúp Lê Xuân Tg để bán cho người khác. Về nguồn gốc ma túy, uá trình điều tra Lê Xuân Tg và Trần Văn X khai báo số ma túymà Tg đã bán cho Cao Viết Thuần, Lục Đình D và Quách Văn Thi là mua của Trịnh Văn L, trú tại thôn Đà Trung, xã Quảng Minh, thành phố Sầm Sơn, tỉnh T vào tối ngày 20/7/2022. Tuy nhiên, uá trình làm việc với Cơ uan điều tra, Trịnh Văn L không thừa nhận sự việc này. Cơ uan điều tra đã tiến hành cho Tg và X đối chất với L nhưng không có kết uả, nên chưa đủ căn cứ để xử lý đối với L về hành vi bán trái phép chất ma túy. Đối với Lục Đình D ngoài hành vi tham gia tổ chức sử dụng trái phép chất ma túytại phòng hát số 02 tầng 1 của uán Karaoke Ngọc Sơn 2, D còn có hành vi mua hộ ma túycho Cao Viết Thuần. Tuy nhiên, khi mua hộ số ma túytrên D chỉ biết là mua hộ cho Thvà L sử dụng, không biết Thvà L sử dụng vào mục đích tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó Lục Đình D không đồng phạm với Cao Viết Thuần, Lương Văn L về hành vi này. Ngoài ra, số ma túyD mua hộ về, Thvà các đối tượng khác đã sử dụng hết nên không xác định được khối lượng ma túy D đã mua hộ Thđể làm căn cứ xử lý đối với D về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Đối với hành vi của Nguyễn Hữu Dương cho Lương Văn L mượn số tiền 6.000.000 đồng, uá trình điều tra xác định Dương không biết mục đích L vay tiền để mua ma túy nên hành vi của Dương vi pham pháp luật. Đối với Dương Thu Hà có hành vi tham gia tổ chức sử dụng trái phép chất ma túytại phòng hát số 02 tầng 1 của uán Karaoke Ngọc Sơn 2, tuy nhiên tại thời điểm này, Hà mới 15 tuổi 06 tháng 14 ngày nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túytheo uy định tại Điều 255 BLHS nên không xem xét xử lý. Đối với Quách Thị Mai đã có hành vi góp 200.000 đồng cho Lục Đình D đi mua ma túyvề sử dụng. Tuy nhiên, khi góp tiền đưa cho Thi và D đi mua ma túy, Mai không biết được ngoài Mai ra, còn có những ai tham gia góp tiền mua ma túy. Mai không biết các đối tượng mua ma túy về tổ chức sử dụng chung trong phòng hát, mà nhận thức là đưa 200.000 đồng để nhờ D mua ma túyhộ về cho mình Mai sử dụng nên khi D mua ma túyvề đưa cho Mai ở uầy lễ tân Mai đã sử dụng hết số ma túynhờ mua và không cho ai cùng sử dụng số ma túyđó. Bản thân Mai không tham gia sử dụng trái phép chất ma túytại phòng hát số 02 tầng 1 của uán cùng với D, Thi, H, Hà và Đức. Do đó Mai không đồng phạm với Dũng, Hoàn và Thi về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Đối với thẻ ATM Lê Thanh T lấy từ túi xách của Phạm Thị Tiến để tổ chức sử dụng ma túytại phòng 4 tẩng 2, Tiến không biết. Ngoài ra Phạm Thị Tiến còn cho Quách Văn Thi vay số tiền 600.000 đồng và cho Thi mượn thẻ ATM, nhưng Tiến không biết Thi đã sử dụng tiền và thẻ của mình để tổ chức sử dụng ma túynên Tiến không đồng phạm với Dũng, Hoàn và Thi về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Đối với Lê Duy Tùng, là người lái taxi chở Trần Văn X đi mua ma túy, tuy nhiên Tùng không biết mục đích X đi thành phố Sầm Sơn để mua ma túy, nên Tùng không vi phạm pháp luật. Đối với bà Cao Thị Tới là chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ Karaoke Ngọc Sơn 2, nhưng bà Tới đã cho Lê Thanh T thuê cơ sở kinh doanh, bà Tới không biết, cũng không chịu trách nhiệm về việc T sử dụng phòng hát uán Karaoke để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Đối với số tiền mà Lê Xuân Tg đã bán ma túycho Cao Viết Thuần, Lục Đình D và Quách Văn Thi là 8.600.000 đồng, Tg khai đã tiêu xài cá nhân hết nên Cơ uan điều tra không thu giữ được. Đối với số tiền 200.000 đồng, Lục Đình D thu lợi bất chính từ việc đi mua hộ ma túycho Cao Viết Thuần, D khai đã tiêu xài cá nhân hết nên Cơ uan điều tra cũng không thu giữ được. Đối với Nguyễn Hữu Dương, Nguyễn Minh Tâm, Trương Thị Ngọc, Phạm Văn Kim, Phạm Thị Tiến và Quách Thị Mai, Nguyễn Đình Đức, uá trình điều tra xác định các đối tượng chỉ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, không tham gia tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an thị xã N đã xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng này thepo uy định của pháp luật. Đối với Nguyễn Thị Ngọc nh và Lương Thị Bình không tham gia sử dụng ma túyvà tổ chức sử dụng trái phép chất ma túynên không xem xét xử lý. * Việc thu giữ, tạm giữ và xử lý vật chứng, đồ vật, tài liệu: Quá trình điều tra, cơ uan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N đã tạm giữ các đồ vật sau: - Th iữ tại phòn 04 tần 02 củ q án K r oke ọc S n 2 ồm: +01 đĩa sứ màu trắng trên mặt đĩa có bám dính chất bột màu trắng, mặt dưới bám muội khói màu đen; + 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn thành dạng ống có bám dính chất bột màu trắng; +01 thẻ nhựa màu đen loại thẻ Visa, trên thẻ có dòng chữ “PHAM THI TIEN” và có bám dính chất bột màu trắng; 01 bật lửa gas màu đỏ đã ua sử dụng. Thu giữ của Lương Văn L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu ghi, số Imei 1: 352810098974849, số Imei 2: 352811098974896, bên trong không lắp sim, điện thoại đã ua sử dụng. Thu giữ của Cao Viết Th 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu Gold, số Imei 354434068408536, bên trong lắp sim số 0862183002, điện thoại bị vỡ màn hình khi Th ra đầu thú. - Th iữ tại tại phòn 02 tần 01 q án K r oke ọc S n 2: 01 đĩa sứ màu trắng có hoa văn, bên dưới đĩa có bám dính muội khói màu đen, bên trên đĩa có: 01 thẻ nhựa ATM có in số: 4089041053902920 và chữ “PHAM THI TIEN”, 01 tờ tiền Polymer mệnh giá 10.000 đồng, trên bề mặt đĩa sứ, thẻ ATM và tờ tiền đều bám dính chất bột màu trắng. + 01 túi ni lông màu trắng, bên trong túi có bám dính chất bột màu trắng. 01 bật lửa gas màu đỏ đã ua sử dụng. Thu giữ của Quách Văn Thi 01 (một) điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, số Imei 1: 353904102167240, số Imei 2: 353904102323785, bên trong lắp sim số: 0387.090.564, điện thoại đã ua sử dụng. Thu giữ của Lục Đình D 01 (một) điện thoại A10 màu đỏ, có số Imei 1: 357186100353693, số Imei 2: 357187100353691, bên trong lắp sim số: 0868.482.230, điện thoại đã ua sử dụng. Thu giữ của Nguyễn Đình Đức 01 (một) căn cước công dân số: 038097017761, mang tên Nguyễn Đình Đức. - Th iữ củ Lê X ân Tg: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redme Note 5, màu xanh, số Imei 1: 869722039186118, số Imei 2: 869722039186126, bên trong lắp sim số: 0704655554 và 0868280015, điện thoại đã ua sử dụng và 01 túi ni lông màu trắng, bên trong túi ni lông có 75 túi ni lông màu trắng đều có viền màu xanh. - Th iữ củ Trần Văn X 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu trắng, số Imei: 355876061228577, đã ua sử dụng, có gắn số sim: 0326153948. - Th iữ củ Trịnh Văn L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, màu trắng, số Imei: 354380069707840, lắp sim số: 0971314789, đã ua sử dụng. * ử lý v t chứng, tài liệu, đồ v t: Quá trình điều tra, nhận thấy không làm ảnh hưởng đến uá trình giải uyết vụ án, Cơ uan điều tra tiến hành xử lý các vật chứng sau: -Trả lại 01 điện thoại A10 màu đỏ, có số Imei 1 357186100353693, số Imei 2: 357187100353691, bên trong lắp sim số 0868.482.230 (khôn iên q n ến vụ án) cho ông Nguyễn Văn Thoán, sinh năm: 1954 trú tại thôn Cao Khánh, xã Cao Thịnh, huyện Ngọc Lặc, tỉnh T là người được Lục Đình D ủy uyền nhận lại tài sản. - Trả lại 01 căn cước công dân số 038097017761 cho Nguyễn Đình Đức. - Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, màu trắng, số Imei 354380069707840, lắp sim số: 0971314789 cho Trịnh Văn L. Các vật chứng còn lại hiện đang được bảo uản chờ xử lý theo uy định của pháp luật. Tại Bản Cáo trạng số 15/CT-VKSNS ngày 06/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã N truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Hoàn về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” uy định tại điểm b, c, h khoản 2 Điều 255 BLHS; Quách Văn Thi, Lục Đình D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo uy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 BLHS; Lương Văn L, Lê Thanh T, Cao Viết Thvề tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo uy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS; Lê Xuân Thắng về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo uy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS và Trần Văn Tú về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” uy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên uyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điề 255, iểm s khoản 1 Điề 51 ( khoản 2 Điề 51 BLHS ối với C o Viết Th ần), Điề 17, Điề 58, Điề 38 BLHS. Đề n hị xử phạt - Lương Văn L từ 7 năm 6 tháng đến 7 năm 9 tháng tù. - Lê Thanh T từ 7 năm 3 tháng đến 7 năm 6 tháng tù. - Cao Viết Thtừ 7 năm 3 tháng đến 7 năm 6 tháng tù. * Áp dụn : Điểm b,c khoản 2 Điề 255 ( iểm h khoản 2 Điề 255 ối với yễn Văn H); iểm s khoản 1 Điề 51 ( Điề 91, khoản 1 Điề 101 BLHS ối với Lục Đình D), Điề 17, Điề 58, Điề 38 BLHS. Đề n hị xử phạt - Quách Văn Thi từ 7 năm 6 tháng đến 7 năm 9 tháng tù. - Nguyễn Văn H từ 7 năm 9 tháng đến 8 năm tù. - Lục Đình D từ 5 năm đến 5 năm 6 tháng tù. * Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điề 251, iểm s khoản 1, khoản 2 Điề 51, Điề 17, Điề 58, Điề 38 BLHS. Đề nghị xử phạt Lê Xuân Tg từ 7 năm đến 7năm 3 tháng tù.l * Áp dụng: Khoản 1 Điề 251, iểm s khoản 1, khoản 2 Điề 51, Điề 17, Điề 58, Điề 38 BLHS. Đề nghị xử phạt Trần Văn X từ 2 năm 6 tháng đến 3 năm tù. * Về Xử lý vật chứng: Áp dụn iề 47 BLHS, iề 106 BLTTHS. Đề n hị: Tịch thu xung công u nhà nước: 2 tờ tiền 10.000 đồng các bị cáo sử dụng làm ống hút ma túy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu ghi thu giữ của Lương Văn L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu Gold, điện thoại bị vỡ màn hình thu giữ của Cao Viết Thuần; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng của Quách Văn Thi; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redme Note 5, màu xanh thu giữ của Lê Xuân Tg; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu trắng thu giữ của Trần Văn X. - Tịch thu tiêu hủy: 01 đĩa sứ màu trắng trên mặt đĩa có bám dính chất bột màu trắng, mặt dưới bám muội khói màu đen; 01 bật lửa gas màu đỏ đã ua sử dụng (Thu giữ tại phòng 04 tầng 02 của uán Karaoke Ngọc Sơn 2); 01 đĩa sứ màu trắng có hoa văn, bên dưới đĩa có bám dính muội khói màu đen; 01 túi ni lông màu trắng, bên trong túi có bám dính chất bột màu trắng; 01 bật lửa gas màu đỏ đã ua sử dụng (Thu giữ tại tại phòng 02 tầng 01 uán Karaoke Ngọc Sơn 2); 01 túi ni lông màu trắng, bên trong túi ni lông có 75 túi ni lông màu trắng đều có viền màu xanh (thu giữ của Lê Xuân Tg) là công cụ phương tiện thực hiện tội phạm. - Trả lại cho chị Phạm Thị Tiến: 01 thẻ nhựa màu đen loại thẻ Visa, trên thẻ có dòng chữ “PHAM THI TIEN”; 01 thẻ nhựa ATM có in số: 4089041053902920 và chữ “PHAM THI TIEN” - Truy thu của Lê Xuân Tg số tiền 8.600.000 đồng, truy thu của Lục Đình D số tiền 200.000 đồng để sung công u nhà nước. * Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Tại phiên tòa các bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nh hình phạt cho các bị cáo. * Ý kiến của người người bào chữa cho bị cáo T: Thống nhất với uan điểm của Viện kiểm sát về tội danh, về áp dụng điều luật và đề nghị Hội đồng xét xử, xử bị cáo với mức án theo uy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hôi đồng xét xử nhận định như sau: [1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, uyết định tố tụng của Cơ uan CSĐT Công an Thị xã N, Điều tra viên Cơ uan CSĐT Công an Thị xã N, Viện kiểm sát nhân dân Thị xã N, Kiểm sát viên VKSND Thị xã N trong uá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm uyền, trình tự, thủ tục theo uy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, uyết định tố tụng của Cơ uan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, uyết định tố tụng của Cơ uan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp. Bị cáo Lục Đình D khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi, cơ uan điều tra đã chỉ định người bào chữa cho bị cáo, đến ngày xét xử bị cáo đã đủ tuổi chịu TNHS, bị cáo không mời người bào chữa, căn cứ Điều 76 BLTTHS, Hội đồng xét xử không chỉ định người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa. [2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo Vào hồi 05 giờ ngày 21/7/2022 tại phòng hát số 04 tầng 02 của uán Karaoke Ngọc Sơn 2, thuộc tổ dân phố Liên Đình, phường Hải Thượng, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, Lương Văn L, Lê Thanh Thủy, Cao Viết Thuần đã có hành vi tổ chức cho bản thân và 05 người khác là Trương Thị Ngọc, Phạm Văn Kim, Nguyễn Minh Tâm, Nguyễn Hữu Dương, Phạm Thị Tiến sử dụng trái phép chất ma túy. Cùng thời điểm này tại phòng hát số 02 tầng 01 uán Karaoke Ngọc Sơn 2, Quách Văn Thi, Lục Đình Dũng và Nguyễn Văn Hoàn có hành vi tổ chức cho bản thân và 02 người khác là Dương Thu Hà, Nguyễn Đình Đức sử dụng trái phép chất ma túy, trong đó tại thời điểm sử dụng trái phép chất ma túy, Dương Thu Hà mới 15 tuổi 06 tháng 14 ngày. Lục Đình D mới 17 tuổi 5 tháng 10 ngày. Khi các đối tượng trong 2 phòng hát đang tổ chức sử dụng trái phép chất ma túythì bị tổ công tác Công an thị xã N phối hợp cùng Công an phường Hải Thượng phát hiện, bắt uả tang. Quá trình điều tra còn xác định số ma túy các bị cáo sử dụng trong 02 phòng hát là mua của Lê Xuân Tg. Trong khoảng thời gian từ 22 giờ ngày 20/7/2022 đến 02h ngày 21/7/2022 Lê Xuân Tg đã 02 lần bán ma túy cho Cao Viết Thuần, Lục Đình D, Quách Văn Thi để sử dụng. Trong lần bán ma túy lúc 22 giờ ngày 20/7/2022, Trần Văn X là người được Tg nhờ đi mua ma túy về đưa cho Tg bán lại cho Lục Đình D. Tại phiên tòa, các bị cáo nhận tội, lời nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với biên bản bắt người phạm tội uả tang, tang vật thu giữ, kết luận giám định, phù hợp với lời khai tại Cơ uan điều tra, cùng nhiều tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với kết uả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa. Quyết định truy tố và lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát ND Thị xã N, Tỉnh T là có căn cứ pháp luật. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Lương Văn L, Lê Thanh Thủy, Cao Viết Thuần, Quách Văn Thi, Lục Đình Dũng và Nguyễn Văn Hoàn đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túyvà đưa trái phép chất ma túyvào cơ thể người khác. Trong đó đối với nhóm Lương Văn L, Lê Thanh Thủy, Cao Viết Thuần, ngoài bản thân, các bị cáo đã đưa ma túyvào cơ thể 5 người khác. Do đó các bị cáo Lương Văn L, Lê Thanh Thủy, Cao Viết Thuần phải chịu trách nhiệm hình sự về tội“Tổ ch c sử dụn trái phép chất m t ý” với tình tiết định khung tăng nặng:" ối với 2 n i trở ên" theo uy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS. Đối với nhóm Quách Văn Thi, Lục Đình Dũng và Nguyễn Văn Hoàn, ngoài bản thân, các bị cáo đã đưa ma túy vào cơ thể 2 người khác, trong đó có 2 người chưa đủ 18 tuổi. Do đó các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tổ ch c sử dụn trái phép chất m t ý” với tình tiết định khung tăng nặng:" ối với 2 n i trở ên" và " Đối với n i từ ủ 13 t ổi ến d ới 18 t ổi" theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 BLHS. Đối với Nguyễn Văn H trước đó năm 2017 đã bị kết án 7 năm 6 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” (tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý) chưa được xóa án tích nay lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý nên bị cáo còn phải chịu thêm tình tiết định khung tăng nặng “tái phạm n y hiểm” uy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 BLHS Lê Xuân Tg có hành vi 02 lần bán ma túy cho Cao Viết Thuần, Lục Đình D, Quách Văn Thi để sử dụng. Trần Văn X 01 lần tham gia đi mua ma túy về đưa cho Tg bán lại cho Lục Đình D. Do đó Lê Xuân Tg phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “M bán trái phép chất m t ý” với tình tiết định khung tăng nặng: “phạm tội 02 ần trở ên” uy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS. Trần Văn X phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “M bán trái phép chất m tuý” uy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS. [3]. Tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của các bị cáo Các bị cáo Lương Văn L, Lê Thanh Thủy, Cao Viết Thuần, Quách Văn Thi, Lục Đình Dũng và Nguyễn Văn Hoàn đã có hành vi chuẩn bị mua ma túy, tìm người sử dụng ma túyđể cùng sử dụng ma túyvà đưa trái phép chất ma túyvào cơ thể người khác. Mục đích của các bị cáo là ngoài việc sử dụng trái phép chất ma túycho bản thân, các bị cáo còn mong muốn đưa chất ma túy vaò cơ thể người khác, do đã tích cực trong việc rủ rê tìm người sử dụng ma túy và trực tiếp đưa ma túyvào cơ thể của họ. Hành vi của các bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật. Mặc dù nhận thức hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện bất chấp hậu uả xảy ra. Bị cáo Lê Xuân Tg, Trần Văn X vì động cơ mục đích tư lợi nên đã cố ý thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Ma túylà một tệ nạn xã hội làm xói mòn đạo đức, hủy hoại con người về thể chất, tinh thần và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác...việc đấu tranh và bài trừ tệ nạn ma túyđang là mối uan tâm của toàn xã hội, do đó Đảng và nhà nước ta đã có những biện pháp rất nghiêm khắc để đấu tranh, trừng trị và ngăn chặn loại tội phạm này. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ uản lý về ma túycủa nhà nước và ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an xã hội.Do đó cần phải xử lý ngiêm tương xứng với tính chất mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo. [4]. Xét vai trò của các bị cáo: * Đối với vụ án:“Tổ ch c sử dụn trái phép chất m túy”. Các bị cáo Lương Văn L, Lê Thanh Thủy, Cao Viết Thuần, Quách Văn Thi, Lục Đình Dũng và Nguyễn Văn Hoàn cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên đây là 2 nhóm đồng phạm. Vụ án mang tính đồng phạm giản đơn, không có sự phân công vai trò 1 cách chặt chẽ, các bị cáo đồng thời là những người thực hành tích cực hành vi phạm tội. Trong nhóm bị cáo Lương Văn L, Lê Thanh Thủy, Cao Viết Thuần. Lương Văn L là người khởi xướng hành vi phạm tội, là người đưa tiền cho Cao Viết Thđi mua ma túy, chuẩn bị ma túycho mọi người sử dụng, do đó bị cáo giữ vai trò thứ nhất trong vụ án. Cao Viết Thlà người liên lạc hỏi mua ma túy, đưa tiền nhờ người mua ma túy bê đĩa ma túymời mọi người sử dụng, Lê Thanh T sử dụng địa điểm mình thuê để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, chuẩn bị đĩa sứ, thẻ nhựa, ống hút, xào ma túyKetamine cho mọi người sử dụng nên cả 2 giữ vai trò ngang nhau thứ 2 trong vụ án. Đối với nhóm Quách Văn Thi, Lục Đình Dũng và Nguyễn Văn Hoàn, Quách Văn Thi là người khởi xướng hành vi phạm tội, rủ các đối tượng Mai, D góp tiền mua ma túysử dụng, liên hệ mua ma túy, chuẩn bị đĩa sứ, bật lửa, mượn thẻ ATM làm công cụ xào ma túydạng “Ke” cho mọi người sử dụng nên bị cáo giữa vai trò thứ nhất trong vụ án, Lục Đình Dũng là người góp tiền và rủ Hà, H góp tiền mua ma túysử dụng, là người trực tiếp đi mua ma túy, là người bẻ ma túydạng “K o” đưa cho mọi người sử dụng, cung cấp tờ tiền làm công cụ sử dụng trái phép chất ma túy, hơ đĩa để thực hiện hành vi xào ma túy“Ke” nên D giữ vai trò thứ 2 trong vụ án. Nguyễn Văn Hoàn là người tham gia góp tiền để mua ma túyvề cho bản thân và người khác cùng sử dụng nên giữ vai trò thứ 3 trong vụ án. *Đối với vụ án:“M bán trái phép chất m túy”. Lê Xuân Tg giữ vai trò là người khởi xướng, trực tiếp thực hiện mua bán trái phép chât ma túy02 lần nên Tg giữ vai trò thứ nhất trong vụ án. Trần Văn X tham gia mua bán trái phép chất ma túy01 lần nên giữ vai trò thứ 2 sau Tg. [5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. * Xét các tình tiết tăn nặn trách nhi m hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tuy nhiên các bị cáo Lương Văn L, Lê Thanh T, Cao Viết Thuần, Nguyễn Văn H, Trần Văn X đều có nhân thân xấu, nhiều lần bị kết án hoặc xử phạt vi phạm hành chính. * Xét các tình tiết iảm nhẹ trách nhi m hình sự: Trong uá uá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo. Do đó cả 8 bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nh uy định tại điểm s khoản 1 điều 51 BLHS. Bị cáo Cao Viết Thuần, Lê Xuân Tg và Trần Văn X sau khi phạm tội đã đến cơ uan điều tra đầu thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nh theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Lục Đình D khi phạm tội mới 17 tuổi 5 tháng 10 ngày, tinh thần và thể chất chưa phát triển H thiện làm ảnh hưởng đến khả năng nhận thức của bị cáo. Do đó bị cáo được áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội. Căn cứ vào các uy định của Bộ luật hình sự, căn cứ vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo. Xét thấy cần thiết phải cách ly cả 8 bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo có thể giáo dục cải tạo sớm trở thành người lương thiện. Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét cá thể hóa hình phạt đối với các bị cáo. Thời gian các bị cáo bị tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt. [6]. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ uan điều tra đã trả lại 01 điện thoại A10 màu đỏ (khôn iên q n ến vụ án) cho ông Nguyễn Văn Thoán là người được Lục Đình D ủy uyền nhận lại tài sản. Trả lại 01 căn cước công dân số 038097017761 cho Nguyễn Đình Đức. Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, màu trắng cho Trịnh Văn L do không chứng minh được hành vi phạm tội. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu ghi, số Imei 1: 352810098974849, số Imei 2: 352811098974896, bên trong không lắp sim, điện thoại đã ua sử dụng thu giữ của Lương Văn L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu Gold, số Imei 354434068408536, bên trong lắp sim số 0862183002, điện thoại bị vỡ màn hình thu giữ của Cao Viết Thuần; 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, số Imei 1: 353904102167240, số Imei 2: 353904102323785, bên trong lắp sim số: 0387.090.564, điện thoại đã ua sử dụng của Quách Văn Thi; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redme Note 5, màu xanh, số Imei 1: 869722039186118, số Imei 2: 869722039186126, bên trong lắp sim số: 0704655554 và 0868280015, điện thoại đã ua sử dụng thu giữ của Lê Xuân Tg; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu trắng, số Imei: 355876061228577, đã ua sử dụng, có gắn số sim: 0326153948 thu giữ của Trần Văn X. Quá trình điều tra và kết uả thẩm vấn tại phiên tòa xác định là phương tiện các bị cáo sử dụng liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công u nhà nước 5 chiếc điện thoại trên. Đối với 2 tờ tiền 10.000 đồng các bị cáo sử dụng làm ống hút ma túy, thu giữ tại 2 phòng hát cần tịch thu sung công u nhà nước. Đối với 01 đĩa sứ màu trắng trên mặt đĩa có bám dính chất bột màu trắng, mặt dưới bám muội khói màu đen; 01 bật lửa gas màu đỏ đã ua sử dụng (Thu giữ tại phòng 04 tầng 02 của uán Karaoke Ngọc Sơn 2); 01 đĩa sứ màu trắng có hoa văn, bên dưới đĩa có bám dính muội khói màu đen; 01 túi ni lông màu trắng, bên trong túi có bám dính chất bột màu trắng; 01 bật lửa gas màu đỏ đã ua sử dụng (Thu giữ tại tại phòng 02 tầng 01 uán Karaoke Ngọc Sơn 2); 01 túi ni lông màu trắng, bên trong túi ni lông có 75 túi ni lông màu trắng đều có viền màu xanh (thu giữ của Lê Xuân Tg) là công cụ phương tiện thực hiện tội phạm nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 thẻ nhựa màu đen loại thẻ Visa, trên thẻ có dòng chữ “PHAM THI TIEN” (Thu giữ tại phòng 04 tầng 02 của uán Karaoke Ngọc Sơn 2); 01 thẻ nhựa ATM có in số: 4089041053902920 và chữ “PHAM THI TIEN” (Thu giữ tại tại phòng 02 tầng 01 uán Karaoke Ngọc Sơn 2), kết uả điều tra và thẩm vấn tại phiên tòa xác định là của chị Phạm Thị Tiến, chị Tiến không biết các bị cáo sử dụng thẻ để xào ma túy. Do đó cần trả lại 02 chiếc thẻ này cho chị Phạm Thị Tiến là phù hợp. Đối với số tiền 8.600.000 đồng Lê Xuân Tg thu được từ 02 lần mua bán ma túy, số tiền 200.000 đồng Lục Đình D được trả công đi mua ma túycần truy thu sung công u nhà nước. [7]. Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. [8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo uy định của pháp luật Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

* Tuyên bố: Lương Văn L, Lê Thanh Thủy, Cao Viết Thuần, Quách Văn Thi, Lục Đình Dũng và Nguyễn Văn Hoàn phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý ”; Lê Xuân Tg, Trần Văn X phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” * Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điề 255, iểm s khoản 1 Điề 51 ( khoản 2 Điề 51 BLHS ối với C o Viết Th ần), Điề 17, Điề 58, Điề 38 Bộ ật hình sự. Xử phạt: - Lương Văn L 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 21/7/2022. -Lê Thanh T 7 (bảy) năm 3 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 21/7/2022. - Cao Viết Th7 (bảy) năm 3 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 21/7/2022. * Áp dụn : Điểm b,c khoản 2 Điề 255 ( iểm h khoản 2 Điề 255 ối với yễn Văn H); iểm s khoản 1 Điề 51 ( Điề 91, khoản 1 Điề 101 Bộ ật hình sự ối với Lục Đình D), Điề 17, Điề 58, Điề 38 Bộ ật hình sự. Xử phạt: - Quách Văn Thi 8 (tám) năm tù giam. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 21/7/2022. - Nguyễn Văn H 7 (bảy) năm 9 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 21/7/2022. - Lục Đình D 5 (năm) năm 7 (bảy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 21/7/2022. * Áp dụn : Điểm b khoản 2 Điề 251, iểm s khoản 1, khoản 2 Điề 51, Điề 17, Điề 58, Điề 38 Bộ ật hình sự. Xử phạt: Lê Xuân Tg 7 (bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 21/7/2022. * Áp dụn : Khoản 1 Điề 251, iểm s khoản 1, khoản 2 Điề 51, Điề 17, Điề 58, Điề 38 Bộ ật hình sự. Xử phạt: Trần Văn X 27 (hai bảy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 24/7/2022). * Về Xử lý vật chứng: Áp dụn iề 47 Bộ ật hình sự; Điề 106 Bộ ật tố tụn hình sự. - Tịch thu xung công u nhà nước: + 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ (mười nghìn đồng) chứa trong phong bì ký hiệu Q3 và 01 phong bì niêm phong mẫu vật ký hiệu T2 được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký và các hình dấu của phòng k thuật hình sự Công an tỉnh T. 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ (mười nghìn đồng) chứa trong phong bì ký hiệu T1 và 01 phong bì niêm phong mẫu vật ký hiệu M2 được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký và các hình dấu của phòng k thuật hình sự Công an tỉnh T. - Tịch thu để phát mại xung u nhà nước: + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redme Note 5, màu xanh, số Imei1: 869722039186118, số Imei2: 869722039186126, bên trong lắp sim số: 0704655554 và 0868280015, điện thoại đã ua sử dụng, được đựng trong phong bì màu trắng, dán kín niêm phong bởi các chữ ký và có các hình dấu của cơ uan cảnh sát điều tra Công an thị xã N. + 01 điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng, số Imei1: 353904102167240, số Imei2: 353904102323785, bên trong lắp sim số: 0387.090.564, điện thoại đã ua sử dụng, được đựng trong phong bì màu trắng, dán kín niêm phong bởi các chữ ký và có các hình dấu của cơ uan cảnh sát điều tra Công an thị xã N. + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu Gold, số Imei 354434068408536, bên trong lắp sim số 0862183002, đã ua sử dụng và bị vỡ màn hình, được đựng trong phong bì màu trắng, dán kín niêm phong bởi các chữ ký và có các hình dấu của cơ uan cảnh sát điều tra Công an thị xã N. + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu trắng, đã ua sử dụng có gắn số sim: 0326153948, số Imei: 355876061228577, mật khẩu màn hình “000000”, được đựng trong phong bì màu trắng, dán kín niêm phong bởi các chữ ký và có các hình dấu của cơ uan cảnh sát điều tra Công an thị xã N + 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J7 Prime, màu ghi, số Imei1: 352810098974849, số Imei 2: 352811098974896, bên trong không lắp sim, đã ua sử dụng, được đựng trong phong bì màu trắng, dán kín niêm phong bởi các chữ ký và có các hình dấu của cơ uan cảnh sát điều tra Công an thị xã N. -Tịch thu tiêu hủy: + 01 phong bì bên trong có 01 túi ni lông màu trắng, bên trong túi ni lông có 75 (bảy mươi lăm) túi ni lông màu trắng đều có viền màu xanh được dán kín niêm phong bởi chữ ký và có các hình dấu của Công an phường Mai Lâm, ký hiệu K1. + 01 phong bì màu trắng ký hiệu Q5 được dán kín niêm phong bởi chữ ký và có các hình dấu của Công an phường Hải Thượng- Công an thị xã N. Bên trong có 01 bật lửa ga màu đỏ đã ua sử dụng. + 01 phong bì màu trắng ký hiệu T3 được dán kín niêm phong bởi chữ ký và có các hình dấu của Công an phường Hải Thượng- Công an thị xã N. Bên trong có 01 bật lửa ga màu đỏ đã ua sử dụng. + 01 hộp giấy ký hiệu M1, được dán kín niêm phong bởi các chữ ký và các hình dấu của phòng k thuật hình sự Công an tỉnh T, bên trong chứa toàn bộ vỏ bao gói niêm phong của hộp giấy, phong bì ký hiệu T2 và đĩa sứ màu trắng. 01 hộp giấy ký hiệu T1, được dán kín niêm phong bởi các chữ ký và các hình dấu của phòng k thuật hình sự Công an tỉnh T, bên trong chứa toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong ký hiệu Q1, phong bì ký hiệu Q2, Q4 và đĩa sứ màu trắng có hoa văn, 01 Xi ni lông màu trắng. - Trả lại cho chị Phạm Thị Tiến: + 01 thẻ nhựa màu đen loại thẻ Visa, trên thẻ có dòng chữ “PHAM THI TIEN” được đựng trong hộp giấy ký hiệu M1, được dán kín niêm phong bởi các chữ ký và các hình dấu của phòng k thuật hình sự Công an tỉnh T, bên trong chứa toàn bộ vỏ bao gói niêm phong của hộp giấy, phong bì ký hiệu T2. + 01 thẻ nhựa ATM có in số: 4089041053902920 và chữ “PHAM THI TIEN” được đựng trong 01 hộp giấy ký hiệu T1, được dán kín niêm phong bởi các chữ ký và các hình dấu của phòng k thuật hình sự Công an tỉnh T, bên trong chứa toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong ký hiệu Q1, phong bì ký hiệu Q2, Q4. Số tang vật trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự Thị xã N theo biên bản giao nhận vật chứng số 20 ngày 06/02/2023 và phiếu nhập kho số 20/2023, ngày 06/02/2023 giữa Công an Thị xã N và Chi cục Thi hành án dân sự Thị xã N. - Truy thu của Lê Xuân Tg số tiền 8.600.000đ (Tám triệu sáu trăm nghìn đồng) và truy thu của Lục Đình D số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) để sung công u nhà nước. * Về án phí: Áp dụn Điề 135, 136 Bộ ật tố tụn hình sự; Điề 21, Điề 23 hị q yết số 326/2016 n ày 30/12/2016 củ UBTVQH: Buộc các bị cáo Lương Văn L, Lê Thanh Thủy, Cao Viết Thuần, Quách Văn Thi, Lục Đình Dũng, Nguyễn Văn Hoàn, Lê Xuân Tg, Trần Văn X mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có uyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bào chữa cho bị cáo Lê Thanh T, người có uyền lợi nghĩa vụ liên uan vắng mặt tại phiên tòa có uyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết. Trường hợp bản án này được thi hành theo uy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có uyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nh n: T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - TAND tỉnh T; - VKSND thị xã N; - VKSND tỉnh T; - CQĐT Công an thị xã N; - CQ THAHS TX N; - CCTHADS TX N; - Bị cáo;Người TGTT khác; - Lưu HS. THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Đình Thuận

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Đình Thuận

Cỡ chữ