vanban.org

Bản án 31

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 12/06/2018 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/06/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kh ng c o của ông Lê T, sửa b n n sơ thẩm.

Tu ên b bị c o Lê H phạm tội: “Trộm cắp t i s n”. Xử phạt bị c o Lê H 40 tháng tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính từ ngày ng bắt thi h nh n. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê H "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kh ng c o của ông Lê T, sửa b n n sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật t tụng hình sự
T
N NH N D N
T NH L M Đ N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

n n s : 31/2018/HS-PT
Ng : 12-6-2018

NHÂN DANH

N C C N H X H CH N H V T N M

TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH L M Đ NG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Hoàng Thị Minh Hương

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Phúc

Ông Ho ng Rung K’Nhơn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng, l Thư ký Tòa n nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Du, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa n nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử phúc thẩm vụ n hình sự thụ lý s 39/2018/TLPT-HS ngày 19-4-2018 đ i với bị c o Lê H do có kh ng c o của ông Lê T đ i với b n n hình sự sơ thẩm s 16/2018/HS-ST ngày 12-3-2018 của Tòa n nhân dân hu ện Lâm H , tỉnh Lâm Đồng.

Bị cáo:

Họ v tên: Lê H, sinh năm 1994 tại tỉnh Qu ng Ngãi; Nơi ĐKNKTT v cư trú: Thôn P, xã PS, hu ện LH, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Sửa xe m ; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Qu c tịch: Việt Nam; con ông Lê T, sinh năm 1969; con b Phạm Thị L (đã chết); Vợ: chưa có; Tiền n, tiền sự: Không; Nhân thân: Không; ị c o Lê H được tại ngoại. Có mặt.

Người đại diện hợp pháp, đồng thời là người bào chữa cho bị cáo và cũng là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kháng cáo: Ông Lê T, sinh năm 1969; Nơi cư trú: Thôn P, xã PS, hu ện LH, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Trong vụ án còn có người bị hại bà Lê Thị H, ông Lê Ngộ T, ông Nguyễn Duy L; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Mỹ L, bà Nguyễn Thị T không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị.

N DUN VỤ N:

Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ n v diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ n được tóm tắt như sau:

Lê H biết nh chị g i l Lê Thị H ở thôn P, xã PS, hu ện LH khóa cửa về quê nên H đã n sinh ý định trộm t i s n của chị H b n lấ tiền tiêu x i. V o kho ng 19 giờ 00 phút ngày 27/7/2016, Lê H đã chuẩn bị 01 búa đinh, 01 câ sắt đi đến nh chị H, H đã trèo lên câ cột m i vòm phía trước v lên m i tôn, H đã lấ búa gỡ tôn v chui v o trong nh v đi v o phòng ngủ. Tại đâ , H phát hiện 01 két sắt nên đã đi lại v lấ búa, câ sắt đục thủng két sắt th nh hình chữ nhật lấ 01 ví da, lấ to n bộ s v ng trong ví gồm: 05 thẻ v ng 9999, mỗi thẻ một lượng; 01 sợi dâ chu ền v ng 18k có trọng lượng 5.15 chỉ; 01 lắc ta bằng v ng loại 18k có trọng lượng 5.37 chỉ; 01 loại sợi dâ chu ền 24k, mặt hình tr i tim gắn đ có trọng lượng 5.43 chỉ; 01 sợi dâ chu ền v ng loại 18k có trọng lượng 3.47 chỉ; 01 sợi dâ chu ền v ng loại 18k có mặt hình phật, có trọng lượng 0.76 chỉ; 01 nhẫn v ng loại 18k có trọng lượng 0.39 chỉ; 01 nhẫn v ng 18k có trọng lượng 078 chỉ; 01 đôi bông tai v ng 18k có trọng lượng 0.09 chỉ. Sau đó, H mang s v ng n về nh cất giấu. Đến s ng ng y 28/7/2016, H mang 02 thẻ v ng đến b n cho b Ngu ễn Thị Thu V l Chủ doanh nghiệp tư nhân Kim Ngọc H o ở tổ dân ph ĐT, thị trấn ĐV, hu ện LH với s tiền l 70.000.000đ, khi có tiền H đến của h ng Viettel ở Đinh Văn mua 01 điện thoại Iphone 6S plus với gi 23.600.000đ, đến tiệm v ng Chính Tín ở thị trấn Đinh Văn mua 01 nhẫn v ng tango gi 4.000.000đ v 01 nhẫn v ng có gắn lông đuôi voi với gi 2.000.000đ v đến cửa h ng xe m Honda Linh ở Đức Trọng mua 01 xe mô tô hiệu Yamaha Execter biển s 49M7 – 6276 với gi 32.000.000đ. Sau đó, H điều khiển xe xu ng th nh ph Nha Trang, tỉnh Kh nh Hòa chơi với bạn, ở Nha Trang H tiếp tục mang 02 thẻ v ng đến b n cho tiệm v ng Kim Chung do b Ho ng Thị Phương T l m chủ được 73.000.000đ. Đến ng 01/8/2016, H về lại Lâm H mang 01 thẻ v ng đến b n cho tiệm Kim Ngọc H o ở thị trấn Đinh Văn b n được 35.100.000đ, H đặt cọc mua điện thoại I phone 6S plus v Ipad hết 5.000.000đ, đặt mua phụ tùng xe mô tô hết kho ng 35.000.000đ, sơn xe mô tô hết 2.000.000đ, cho bạn bè va 25.000.000đ, mua đồ phuộc nhún xe mô tô hết 20.500.000đ, s tiền còn lại H tr nợ v tiêu x i c nhân hết. Ngày 02/8/2016 gia đình chị H về nh ph t hiện nh bị mất v ng nên đã trình b o Công an.

Qua điều tra x c định được: 05 thẻ v ng 9999, mỗi thẻ một lượng; 01 sợi dâ chu ền v ng 18k có trọng lượng 5.15 chỉ; 01 lắc ta bằng v ng loại 18k có trọng lượng 5.37 chỉ l s v ng thuộc qu ền sỡ hữu của ông Lê T ( của bị can Lê H) gửi con g i l Lê Thị H cất giữ. 01 sợi dâ chu ền loại 24k, mặt hình tr i tim gắn đ có trọng lượng 5.43 chỉ; 01 sợi dâ chu ền v ng loại 18k có trọng lượng 3.47 chỉ; 01 sợi dâ chu ền v ng loại 18k có mặt hình phật, có trọng lượng 0.76 chỉ; 01 nhẫn v ng loại 18k có trọng lượng 0.39 chỉ; 01 nhẫn v ng 18k có trọng lượng 078 chỉ; 01 đôi bông tai v ng 18k có trọng lượng 0.09 chỉ l s v ng thuộc qu ền sở hữu của chị Lê Thị H.

Tang vật thu giữ gồm: 01 sợi dâ chu ền v ng 18k có trọng lượng 5.15 chỉ; 01 lắc ta bằng v ng loại 18k có trọng lượng 5.37 chỉ; 01 sợi dâ chu ền loại 24k, mặt hình tr i tim gắn đ có trọng lượng 5.43 chỉ; 01 sợi dâ chu ền v ng loại 18k có trọng lượng 3.47 chỉ; 01 sợi dâ chu ền v ng loại 18k có mặt hình phật, có trọng lượng 0.76; 01 nhẫn v ng loại 18k có trọng lượng 0.39 chỉ; 01 nhẫn v ng 18k có trọng lượng 078 chỉ; 01 đôi bông tai v ng 18k có trọng lượng 0.09 chỉ; 01 nhẫn v ng 18k trọng lượng 0.88 chỉ; 01 điện thoại di động Iphone 6S Plus; 01 xe mô tô hiệu Execter không biển s ; 01 biển s xe mô tô 49M7 – 6276; 01 đăng ký xe mô tô mang tên Vũ Văn T; 01 c i búa bằng sắt, c n búa tròn đường kính 03 cm d i 20 cm, đầu búa bằng kim loại hình chữ nhật; 01 câ xì rồ bằng sắt, dẹp một đầu, d i 23 cm, đường kính 1.5 cm.

Ng 12/8/2016, Hội đồng định gi hu ện Lâm H kết luận: 05 thẻ v ng 9999, mỗi thẻ một lượng; 01 sợi dâ chu ền v ng 18k có trọng lượng 5.15 chỉ; 01 lắc ta bằng v ng loại 18k có trọng lượng 5.37 chỉ; 01 loại sợi dâ chu ền 24k, mặt hình tr i tim gắn đ có trọng lượng 5.43 chỉ; 01 sợi dâ chu ền v ng loại 18k có trọng lượng 3.47 chỉ; 01 sợi dâ chu ền v ng loại 18k có mặt hình phật, có trọng lượng 0.76 chỉ; 01 nhẫn v ng loại 18k có trọng lượng 0.39 chỉ; 01 nhẫn v ng 18k có trọng lượng 078 chỉ; 01 đôi bông tai v ng 18k có trọng lượng 0.09 chỉ, có tổng gi trị l 246.749.110đ.

Ngoài ra vào ngà 08/5/2017, anh Ngu ễn Du L trình b o bị mất một lò nướng b nh mì v một c i xâ bột làm b nh mì tại nh ông Lê T. Qua điều tra x c định v o năm 2014, anh L có thuê nh của ông T để l m lò b nh mì được một thời gian thì tr lại nh v gửi lại một s vật dụng gồm: 01 lò nướng b nh mì đã th o rời v 01 c i xâ bột làm b nh mì ở nh của ông T. Vào ngày 04/5/2017 do không có tiền tiêu x i nên Lê H thuê xe m c của ông K chở lò b nh mì cùng c i xâ bột đến gửi tại nh ông K, H nói với ông K là dọn nh nên nhờ để ở nh ông K vài hôm thì được ông K đồng ý. Sau đó H tr tiền công chở cho ông K l 300.000đ. S ng ng 05/5/2017 H gọi K’C đến nh ông K chở chân đế v 02 ngăn của lò nướng b nh mì đến cửa h ng mua b n phế liệu của b Võ Thị Mỹ L b n được 1.478.000đ, H lấ 400.000đ trong s tiền n để tr tiền công chở cho K’C. Ngày 06/5/2017, H gọi chị Ngu ễn Thị T l người mua b n phế liệu hỏi b n s sắt còn lại của ló nướng b nh mì v c i xâ bột l m b nh mì thì chị T đồng ý mua với gi 760.000đ. To n bộ s tiền này H tiêu x i hết.

Tang vật vụ n thu giữ: 01 miếng sắt dẹp, mỏng, vuông nặng 06kg; 01 miếng sắt dẹp vuông nặng 62kg; 02 hộc sắt hình vuông nặng 156kg v 166kg; 01 c i xâ bột Inox không có động cơ nặng 59kg, kích thước đường kính 56cm, sâu 37cm; 03 khung sắt có trọng lượng 389kg gồm: 01 khung sắt d i 210cm, rộng 136cm, cao 56cm; 02 khung sắt d i 210cm, rộng 136cm, cao 38cm. Ng 16/5/2017, cơ quan điều tra đã tr lại cho anh Ngu ễn Du L to n bộ s tang vật trên.

Tại kết luận s 69/HĐĐG ng 23/5/2017 của Hội đồng định gi t i s n trong t tụng hình sự hu ện Lâm H kết luận tổng gi trị t i s n đưa ra định gi l 7.280.610đ.

Về tr ch nhiệm dân sự: Gia đình chị Lê Thị H, ông Lê T không êu cầu bị cáo Lê H bồi thường. Anh Ngu ễn Du L êu cầu bồi thường 10.000.000đ, chị Võ Thị Mỹ L êu cầu bồi thường s tiền 1.478.000đ.

V o năm 2015, Lê H bị thương tích với tỷ lệ thương tật l 79%. Tại phiên tòa ng 13/7/2017 gia đình êu cầu gi m định về tâm thần cho bị can. Ng 01/11/2017, Viện ph p tâm thần Trung ương iên Hòa kết luận gi m định ph p tâm thần s 477/KS-VPYTW kết luận: Về học: trước, trong, sau khi gâ n v hiện na : Lê H bị r i loạn nhân c ch v h nh vi thực tổn mức độ nặng/động kinh (F07.8/G40-ICD.10). Về năng lực nhận thức v điều khiển h nh vi tại thời điểm gâ n v hiện na : Lê H bị hạn chế năng lực nhận thức v điều khiển h nh vi.

Đ i với K’C và K l người đã dùng xe m c chở khung sắt lò b nh mì cho bị c o nhưng không biết s t i s n trên l do bị c o trộm cắp nên không xem xét trách nhiệm hình sự đ i với ông K’C và K.

Tại b n c o trạng s 06/CT-VKS ngày 25/12/2017 của Viện kiểm s t nhân dân hu ện Lâm H đã tru t ra trước Tòa n nhân dân hu ện Lâm H để xét xử bị c o Lê H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo qu định tại kho n kho n 3 Điều 138 ộ luật Hình sự năm 1999.

n n s 16/2018/HS-ST ngày 12-3-2018 của Tòa n nhân dân hu ện Lâm Hà tu ên b bị c o Lê H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm a kho n 3 Điều 138 ộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm q, s kho n 1, kho n 2 Điều 51; điểm g kho n 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 ộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Nghị qu ết 41/2017/QH14 ng 20/6/2017 của Qu c Hội.

Xử phạt bị c o Lê H 04 (b n) năm tù. Thời hạn tù tính từ ng ng bắt thi hành án.

n n còn tu ên về tr ch nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, n phí v qu ền kháng cáo.

Ngày 16-3-2018 ông Lê T kh ng c o xin gi m nhẹ hình phạt, cho bị c o hưởng n treo.

Tại phiên tòa, ông T giữ ngu ên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm s t nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo, gi m cho bị c o từ 06 đến 09 th ng tù.

NHẬN ĐỊNH C T

N:

Trên cơ sở nội dung vụ n, căn cứ v o c c t i liệu trong hồ sơ vụ n đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Kho ng 19 giờ 00 phút ng 27-7-2016 khi biết nh vợ chồng anh Lê Ngộ T, chị Lê Thị H vắng nh , bị c o Lê H đã chuẩn bị 01 búa đinh, 01 câ sắt đi đến nh chị H lén lút trèo lên câ cột m i vòm phía trước v lên m i tôn gỡ tôn v chui v o trong nh v đi v o phòng ngủ ph két sắt lấ trộm to n bộ s v ng có tổng gi trị l 246.749.110đ đem b n lấ tiền tiêu x i cho c nhân.

Ngoài ra vào ngày 04-5-2017, bị c o còn trộm cắp một lò nướng b nh mì đã th o rời cùng với c i xâ bột l m b nh của anh Ngu ễn Du L gửi tại nh bị c o với tổng gi trị t i s n bị chiếm đoạt l 7.280.000đ.

[2] Xét lời khai của bị c o tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai bị hại cùng c c t i liệu chứng cứ kh c có trong hồ sơ, đã có đủ căn cứ kết luận bị c o Lê H phạm tội “Trộm cắp t i s n” qu định tại kho n 3 Điều 138 ộ luật hình sự.

[3] Xét êu cầu kh ng c o của ông Lê T:

T i s n hợp ph p của công dân được ph p luật b o vệ, bị c o đã lợi dụng lúc chị H vắng nh ph két sắt lấ t i s n. H nh vi của bị c o l ngu hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến qu ền sở hữu t i s n của người kh c được ph p luật b o vệ m còn gâ mất an ninh trật tự tại địa phương thể hiện sự xem thường ph p luật. T i s n bị c o trộm cắp được l rất lớn, bị c o phạm tội nhiều lần. Cấp sơ thẩm đã đ nh gi đúng tính chất vụ n, xem xét c c tình tiết tăng nặng, gi m nhẹ, xử phạt bị c o mức n như trên l phù hợp. Tuy nhiên người bị hại trong vụ n n l chị ruột v b ruột của bị c o; b n thân bị c o bị hạn chế về kh năng nhận thức v điều khiển h nh vi do bị chấn thương sọ não; t i s n đã thu hồi v tại phiên tòa phúc thẩm, bị c o xuất trình đã bồi thường xong cho ông L, ông L có đơn xin bãi nại cho bị c o nên có căn cứ chấp nhận một phần kh ng c o của ông Lê T, gi m hình phạt như đề nghị của Viện kiểm s t.

Cấp sơ thẩm nhận định v p dụng Nghị qu ết 41/2017/QH14 ng 20/6/2017 của Qu c Hội trong trường hợp n l không đúng vì khung hình phạt của ộ luật hình sự năm 1999 v ộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 l như nhau.

[4] Về n phí: ị c o Lê H không ph i chịu n phí hình sự phúc thẩm.

Vì c c lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b kho n 1 Điều 355, điểm e kho n 1 Điều 357 Bộ luật t tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận một phần kh ng c o của ông Lê T, sửa b n n sơ thẩm.

Tu ên b bị c o Lê H phạm tội: “Trộm cắp t i s n”.

Áp dụng điểm a kho n 3 Điều 138 ộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm q, s kho n 1, kho n 2 Điều 51; điểm g kho n 1 Điều 52; Điều 54; Điều 38 ộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị c o Lê H 40 tháng tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính từ ngày ng bắt thi h nh n.

Áp dụng Điều 135, 136 ộ luật t tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị qu ết s 326/2016/U TVQH14 ng 30 th ng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Qu c hội về n phí v lệ phí Tòa n. ị c o Lê H không ph i chịu n phí hình sự phúc thẩm.

C c qu ết định kh c của b n n sơ thẩm không có kh ng c o, kh ng nghị đã có hiệu lực ph p luật kể từ ng hết thời hạn kh ng c o, kh ng nghị.

n n phúc thẩm có hiệu lực ph p luật kể từ ng tu ên n.

Cỡ chữ