vanban.org

Bản án 31/ST-HS — Hình sự

TAND huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 31/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/- Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T (Tên gọi khác: Không) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T (tên gọi khác: Không) 18 tháng tù thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam (Ngày 01/02/2023 ) 2/- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? 1/- Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T (Tên gọi khác: Không) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DẤT ĐỎ
TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án
Số 31/2023/HS-ST
Ngày 31-5-202

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤT ĐỎ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hùng.

Ông Nguyễn Văn Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Hoàn thư ký Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ tham gia phiên toà: Bà Trần Minh Quế, Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đất Đỏ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 33/2023/HSST ngày 15 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:

Trần Văn T (tên gọi khác: Không), sinh năm 1995 tại Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Tổ 7, ấp 2, xã H, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Chỗ ở: Tổ 7, ấp 2, xã H, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn B, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1965; Vợ con chưa có.

- Tiền sự: Không.

- Tiền án: Ngày 15/11/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Long Điền xử phạt 10 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 106/2019/HSST.

- Nhân thân:

+ Ngày 27/4/2012, bị Công an xã Hoà Bình, huyện Xuyên Mộc xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.

+ Ngày 22/7/2015, bị Công an xã Hoà Bình, huyện Xuyên Mộc xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.

+ Ngày 18/12/2009, bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Xuyên Mộc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản. Chấp hành xong ngày 19/12/2011.

+ Ngày 26/7/2013, bị Toà án nhân dân huyện Châu Đức xử phạt 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/6/2015.

+ Ngày 20/4/2016, bị Toà án nhân dân huyện Đất Đỏ xử phạt 08 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/9/2016.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 01/02/2023 có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Ông Nguyễn Tấn T1, sinh 2003; (Có mặt); Nơi cư trú: tổ 5, ấp T, xã L, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1- Ông Trần Văn Tịnh, sinh năm 1993; Địa chỉ: tổ 7, ấp 2, xã Hòa Bình, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (Vắng mặt)

2- Ông Phạm Hồng Đức, sinh năm 1998; Địa chỉ: tổ 7, ấp 2, xã Hòa Bình, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (Vắng mặt)

3- Ông Lê Huy Lập, sinh năm 1987; Địa chỉ: ấp 4, xã Hòa Bình, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau: Vào lúc khoảng 23 giờ ngày 29/01/2023, Trần Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria F150 màu đen biển số 83Y1-123.16, phía sau chở theo đối tượng tên Nhật (không biết rõ họ tên, địa chỉ) đi từ xã Phước Tân, huyện Xuyên Mộc qua xã Láng Dài, huyện Đất Đỏ để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 01 giờ ngày 30/01/2023, Nhật phát hiện nhà anh Nguyễn Tấn T1 ở tổ 5, ấp Thanh An, xã Láng Dài, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu đã tắt đèn đi ngủ nên Nhật nói T mang xe đi cất rồi vào nhà anh T1 trộm cắp tài sản, T đồng ý. Cả hai đem xe giấu vào bụi cây cách nhà anh T1 khoảng 20m. Nhật đi bộ, chui qua hàng rào lưới B40, leo qua hàng rào sắt đi vào nhà anh T1, còn T đứng bên ngoài cảnh giới. Khi thấy Nhật báo hiệu bằng đèn điện thoại thì T đi đến đứng bên ngoài hàng rào nhà anh T1, Nhật đưa qua hàng rào cho T 04 chai rượu (trong đó có 01 chai Chivas Regal 18 Blue Signature còn nguyên tem; 02 vỏ chai Chivas 21 Royal salute màu xanh bên trong không có rượu và 01 chai rượu Suối Tiên đệ nhất tửu đã uống còn khoảng ½ chai) để T đem ra xe 83Y1-123.16 cất, Nhật tiếp tục đưa ra cho T 02 vỏ hộp đựng rượu, T kiểm tra bên trong không có rượu nên bỏ lại tại đây rồi T leo qua hàng rào đi theo Nhật vào bên trong nhà anh T1. Tại đây, cả hai lục tìm tài sản tại phòng khách nhưng không có gì, Nhật tiếp tục mở cửa đi vào một căn phòng bên trái, T đứng trước cửa phòng cảnh giới, Nhật đưa ra cho T 01 điện thoại di động Iphone XS Max 64GB màu vàng, T cất vào T1i áo khoác, Nhật tiếp tục quay vào phòng lấy thêm một cái ví đen (bên trong có số tiền hơn 2.000.000 đồng). Sau đó cả hai đi ra ngoài theo đường cũ rồi lấy xe 83Y1-123.16 chạy về hướng Xuyên Mộc.

Trên đường đi, Nhật đã quăng bỏ hai vỏ chai không có rượu dọc đường. Khi đến khu vực cầu Sông Ray thuộc ấp 2, xã Hòa Bình, huyện Xuyên Mộc thì T dừng xe lại để chia tài sản vừa trộm được, T lấy 01 điện thoại Iphone XS Max và 01 chai Chivas Regal 18 Blue Signature còn nguyên tem, Nhật lấy 01 chai rượu Suối Tiên đệ nhất tửu đã uống còn khoảng ½ chai và toàn bộ tiền có trong ví (Nhật quăng ví bên trong còn giấy tờ xuống dòng nước dưới cầu Sông Ray). Một lúc sau, bạn Nhật đến chở Nhật, T chạy xe 83Y1-123.16 về nhà ngủ. Đến khoảng 04 giờ 00 phút ngày 30/01/2023, anh T1 thức dậy kiểm tra phát hiện sự việc nên đã trích xuất camera trong nhà và trình báo cơ quan Công an.

Ngày 31/01/2023, T đem bán 01 điện thoại di động Iphone XS Max cho Phạm Hồng Đức với giá 1.500.000 đồng, T nói với Đức là điện thoại do T nhặt được. Sau đó Đức mang điện thoại này đến cửa hàng điện thoại di động “Lê Hiếu” ở ấp 4, xã Hòa Bình, huyện Xuyên Mộc do anh Lê Huy Lập làm chủ để nhờ mở mật khẩu nhưng không mở được. Đức nói với anh Lập là điện thoài này Đức mua lại không phải do trộm cắp, Đức muốn bán điện thoại cho anh Lập với giá 2.000.000 đồng, anh Lập đồng ý mua. Khoảng 30 phút sau, cơ quan Công an đến gặp anh Lập để xác minh về chiếc điện thoại anh Lập vừa mua của Đức. Qua làm việc, anh Lập tự nguyện giao lại 01 điện thoại di động Iphone XS Max 64GB màu vàng để phục vụ công tác điều tra.

Qua công tác truy tìm, ngày 31/01/2023 cơ quan Công an đã làm việc được với Trần Văn T. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đất Đỏ, T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như vừa nêu trên. (BL 164 đến 183) lời khai của T phù hợp với lời khai của bị hại tại các bút lục số 115 đến 125, phù hợp với các vật chứng thu giữ được.

Tang vật, vật chứng thu giữ của vụ án gồm: Công an thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria F150 màu đen biển số 83Y1-123.16 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 008768 mang tên Trà Hoàng Hảo; 01 điện thoại di động Iphone XS Max 64GB màu vàng gold; 01 chai Chivas Regal 18 Blue Signature, hàm lượng 40%, dung tích 700ml (tình trạng còn nguyên tem); 01 vỏ hộp bằng giấy màu xanh kích thước 28,5cm x 14cm x 14cm – trên vỏ hộp có chữ “ROYAL SALUTE BLENDED SCOTCH WHISKY 21 YEARS OLD” màu vàng; 01 vỏ hộp bằng giấy màu nâu kích thước 35,5cm x 16,5cm x 11,5cm – trên vỏ hộp có chữ “SUỐI TIÊN GROUP, SUỐI TIÊN ĐỆ NHẤT TỬU”, “THE BEST ROYAL HERBAL WINE”, “Glorious SUOI TIEN TOP-RANKING WINE” màu vàng; 01 đĩa DVD-R 120min/4.7GB có chữ SONY bên trong lưu trữ 07 đoạn video ghi lại hình ảnh Nhật và T đột nhập vào nhà anh T1 để trộm cắp tài sản ngày 30/01/2023. (BL 60 đến 64, 68 đến 71).

Đối với các tài sản gồm: 02 vỏ chai Chivas 21 Royal salute màu xanh bên trong không có rượu, 01 chai rượu Suối Tiên đệ nhất tửu đã uống còn khoảng ½ chai và 01 ví đen, Công an đã ra thông báo truy tìm nhưng không thu giữ được. (BL 159).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 14/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đất Đỏ kết luận: “01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max 64GB, màu vàng gold có giá trị còn lại là 5.500.000 đồng; 01 chai rượu Chivas Regal 18 Blue Signature, hàm lượng 40% dung tích 700ml (chưa sử dụng, còn nguyên tem, không có hộp) có giá trị là 1.600.000 đồng; Đối với 01 chai Suối Tiên đệ nhất tửu, hàm lượng 35%, dung tích 700ml, 02 vỏ chai Chivas 21 Royal salute màu xanh, hàm lượng 40%, dung tích 700ml và 01 ví đen không có nhãn hiệu do chưa thu hồi được, không rõ hiện trạng, không đủ cơ sở để định giá”. (BL 44 đến 48).

* Về xử lý tang vật, vật chứng và trách nhiệm dân sự:

Qua làm việc, anh T1 xác nhận số tiền trong ví là hơn 2.000.000 đồng nhưng không nhớ chính xác là bao nhiêu tiền. Anh T1 yêu cầu T bồi thường lại số tiền 2.000.000 đồng cho anh T1. Ngày 17/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đất Đỏ đã trả lại các tài sản cho anh T1 gồm: 01 điện thoại di động Iphone XS Max 64GB màu vàng gold; 01 chai Chivas Regal 18 Blue Signature, hàm lượng 40%, dung tích 700ml (tình trạng còn nguyên tem); 01 vỏ hộp bằng giấy màu xanh kích thước 28,5cm x 14cm x 14cm – trên vỏ hộp có chữ “ROYAL SALUTE BLENDED SCOTCH WHISKY 21 YEARS OLD” màu vàng; 01 vỏ hộp bằng giấy màu nâu kích thước 35,5cm x 16,5cm x 11,5cm – trên vỏ hộp có chữ “SUỐI TIÊN GROUP, SUỐI TIÊN ĐỆ NHẤT TỬU”, “THE BEST ROYAL HERBAL WINE”, “Glorious SUOI TIEN TOP-RANKING WINE” màu vàng. T đã tác động gia đình bồi thường cho anh T1 số tiền 2.000.000 đồng. Hiện anh T1 đã nhận tiền và không yêu cầu T bồi thường thêm về trách nhiệm dân sự (BL 55 đến 58).

Qua xác minh 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria F150 màu đen biển số 83Y1-123.16 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 008768 mang tên Trà Hoàng Hảo là tài sản hợp pháp của anh Trần Văn Tịnh (là anh của T). Ngày 30/01/2023, anh Tịnh để xe ở nhà, T tự ý lấy xe đi rồi T dùng xe trộm cắp tài sản, anh Tịnh không biết. Ngày 05/4/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đất Đỏ đã trả lại xe cùng giấy đăng ký xe cho anh Tịnh. (BL 51 đến 54, 59, 70, 146 đến 148). Ngoài ra, anh Tịnh thay bị can T nộp lại số tiền 1.500.000 đồng, số tiền T có được từ việc bán điện thoại do phạm tội mà có. Anh Tịnh không yêu cầu T trả lại tiền cho anh Tịnh (BL 65 đến 67).

Anh Phạm Hồng Đức đã trả lại cho anh Lê Huy Lập số tiền 2.000.000 đồng, anh Lập đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự. Anh Đức cũng không có yêu cầu Trần Văn T phải bồi thường về trách nhiệm dân sự cho Đức. ( BL 130 đến 145).

Đối với 01 đĩa DVD-R 120min/4.7GB có chữ SONY bên trong lưu trữ 07 đoạn video ghi lại hình ảnh Nhật và T đột nhập vào nhà anh T1 để trộm cắp tài sản ngày 30/01/2023 được lưu giữ theo hồ sợ vụ án.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đất Đỏ đã chuyển số tiền 1.500.000 đồng đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ để lưu giữ chờ xử lý.

Tại cáo trạng số 33/CT-VKSĐĐ ngày 15 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự xử xử phạt bị cáo mức án từ 14 tháng đến 18 tháng tù; Tịch thu sung công số tiền thu nhập bất chính đang tạm giữ.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đất Đỏ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Với ý định trộm cắp tài sản của người khác để có tiền tiêu xài vào lúc khoảng 23 giờ ngày 29/01/2023, bị cáo cùng với đối tượng tên Nhật (không biết rõ họ tên, địa chỉ) đi từ xã Phước Tân, huyện Xuyên Mộc qua xã Láng Dài, huyện Đất Đỏ để tìm nơi thực hiện. Đến khoảng 01 giờ ngày 30/01/2023 phát hiện nhà bị hại đã tắt đèn đi ngủ nên Nhật đột nhập vào nhà còn bị cáo cảnh giới bên ngoài, bị cáo và Nhật đã chiếm đoạt của bị hại 04 chai rượu (trong đó, có 01 chai rượu Chivas Regal 18 Blue Signature còn nguyên tem trị giá 1.600.000đ, ½ chai Suối tiên đệ nhất tửu, 02 vỏ chai Chivas 21); 02 vỏ hộp đựng rượu, 01 điện thoại di động Iphone XS Max 64GB màu vàng trị giá 5.500.000đ, 01 cái ví đen (bên trong có số tiền hơn 2.000.000 đồng) về chia nhau tiêu xài, sau đó bị phát hiện bắt giữ. Hội đồng xét xử qua tiến hành tranh tụng công khai tại phiên tòa, xét lời khai của bị cáo, lời trình bày của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là phù hợp với nhau, phù hợp với chứng cứ thu thập được như: Đĩa ghi hình toàn cảnh bị cáo đột nhập; Biên bản xác định lại hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu. Bị cáo đã có hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản của bị hại có tổng giá trị là 9.100.000đ đủ căn cứ quy kết bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Đủ cơ sở khẳng định bản cáo trạng số 33/2023/CT-VKSĐĐ ngày 15/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đất Đỏ truy tố bị cáo là đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý, hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi pham tội của bị cáo đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo là người có nhân thân rất xấu, nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội, lần phạm tội này chưa được xóa án tích thuộc trường hợp tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi bị phát hiện tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục một phần hậu quả, tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

Về xử lý vật chứng: Số tiền 1.500.000đ là khoản thu nhập bất chính bị cáo giao nộp nên tích thu sung công.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự.

1/- Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T (Tên gọi khác: Không) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T (tên gọi khác: Không) 18 tháng tù thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam (Ngày 01/02/2023 )

2/- Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

3/- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng). Theo biên lai thu tiền số 0002864 ngày 15/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đất Đỏ.

4/- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5/- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều: 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 31/5/2023). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án.

* Nơi nhận:

Cỡ chữ