- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án hình sự thụ lý số 01/2026/TLST-HS ngày 05/01/2026 - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T và Nguyễn Thái B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC X - NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2026/HS-ST Ngày 06/02/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC X - NINH BÌNH
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Trần Anh Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quốc Tuấn; ông Nguyễn Văn Kiệm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực x - Ninh Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực x - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Toàn - Kiểm sát viên
Ngày 06 tháng 02 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực x - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2026/TLST-HS ngày 05/01/2026; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2026/QĐXXST-HS ngày 23/01/2026 đối với các bị cáo:
1. Phạm Văn T, sinh năm 1990 tại xã X, tỉnh Ninh Bình; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú: Thôn H, xã X, tỉnh Ninh Bình; nơi ở trước khi bị tạm giữ, tạm giam: Thôn T, xã X, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N và bà Nguyễn Thị O; vợ: Vũ Thị P; con: 02 con (con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2023).
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: - Ngày 17/01/2008, bị TAND tỉnh Hà Nam (nay là Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình) xử phúc thẩm, xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 22 tháng về tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 135 BLHS năm 1999.
- Ngày 21/6/2016, bị TAND Quận G, T phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.
- Ngày 30/12/2020, TAND huyện L, tỉnh Hà Nam (nay là Tòa án nhân dân khu vực x, tỉnh Ninh Bình) xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Ngày 19/01/2023 T chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/8/2025; chuyển tạm giam từ ngày 08/8/2025; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh Ninh Bình. (có mặt).
2. Nguyễn Thái B, sinh năm 2001 tại xã X, tỉnh Ninh Bình; giới tính: Nam; nơi thường trú và cư trú trước khi bị tạm giữ, tạm giam: Thôn T, xã X, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy B (đã chết) và bà Phạm Thị H; vợ, con: Chưa có.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 26/7/2023, bị TAND quận H, thành phố Hà Nội ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng. Đến ngày 26/5/2024 chấp hành xong quyết định.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/8/2025 chuyển tạm giam từ ngày 08/8/2025; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh Ninh Bình. (có mặt).
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Vũ Thị P, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn T, xã X, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)
- Bà Phạm Thị H, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn T, xã X, tỉnh Ninh Bình. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 01/8/2025, Công an xã X, tỉnh Ninh Bình tiếp nhận tin báo tố giác về việc bị cáo Phạm Văn T và bị cáo Nguyễn Thái B tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nghĩa trang thôn T, xã X, tỉnh Ninh Bình. Công an xã X đã tiến hành triệu tập, test mẫu nước tiểu đối với T và B; kết quả: T và B đều dương tính với ma túy tổng hợp loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan Công an, T và B đều khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 31/7/2025, khi đang ở nhà thì B đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus để đăng nhập tài khoản Zalo mang tên "B Bảnh" nhắn tin qua tài khoản zalo mang tên “T Troy” trên điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Pro Max của T để rủ nhau mua ma túy về cùng sử dụng. Cả hai thống nhất B góp 300.000 đồng, còn T góp 200.000 đồng. Sau đó, T điểu kH xe mô tô nhãn hiệu LEAD, biển số 90B1-977.xx đi đến đón B cùng nhau đi mua ma túy, T nói với B chuyển tiền mua ma túy nhưng B chỉ có 298.000 đồng tiền mặt không có tiền tài khoản nên T sử dụng tài khoản Zalo mang tên "T Troy" gọi cho người tên H (biệt danh là H XêKo) có tài khoản "A Dida Phat" để mua ma túy dạng ngựa với giá 500.000 đồng. H đồng ý và gửi mã QR code Viettel Pay mang tên Phạm Như H cho T và yêu cầu T chuyển số tiền 1.000.000 đồng trong đó có 500.000 đồng là tiền mua ma túy và 500.000 đồng là để trả nợ hộ cho Nguyễn Văn Q1. (T biết H qua mạng xã hội Zalo do Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1993, trú tại thôn T, xã X, tỉnh Ninh Bình giới thiệu từ đầu năm 2025, T chưa gặp và không biết rõ lai lịch, nhân thân của H). Sau đó, T sử dụng số tài khoản 0969.768.2xx mở tại Ngân hàng ViettinBank chuyển số tiền 1.000.000 đồng qua mã QR code Viettel Pay mang tên Phạm Như H và chụp ảnh lại lịch sử giao dịch. Khi nhận được tiền, H gọi điện qua ứng dụng Messenger hướng dẫn T đến khu vực bờ sông Châu Giang ở gần khu vực Cổng trào Vĩnh Trụ để nhận ma túy và gửi ảnh qua ứng dụng Zalo vị trí cất giấu ma túy. T điều khiển xe mô tô chở B đến cổng chào xã Vĩnh Trụ, tỉnh Ninh Bình thì B xuống xe đứng đợi, còn T điều khiển xe mô tô đi đến chỗ H chỉ dẫn lấy một chiếc vỏ kẹo màu xanh bên trong có 06 viên ma túy loại ngựa tại lỗ viên gạch xỉ cạnh bờ sông Châu Giang thuộc xã Vĩnh Trụ, tỉnh Ninh Bình. Sau khi lấy được ma túy, T điều khiển xe quay lại đón B đi về nghĩa trang nhân dân thôn T, xã X để cùng sử dụng. Trên đường đi về B đưa 298.000 đồng cho T để góp tiền mua ma túy. T cầm tiền rồi dừng lại ở một cửa hàng tạp hóa ven đường mua 01 chai nước, 01 bật lửa, 01 cuộn giấy bạc để làm công cụ sử dụng ma túy. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, khi đi vào nghĩa trang thôn T, xã X, tỉnh Ninh Bình thì T mở cốp xe lấy chai nước, cuộn giấy bạc, 01 chiếc bút bi rồi dùng bật lửa hơ nóng vỏ bút bi làm tẩu, dùng điếu thuốc lá châm một lỗ tròn nhỏ trên thân vỏ chai nhựa để làm bình sử dụng ma túy, còn B lấy giấy bạc gấp T máng, cuộn giấy bạc T ống để sử dụng ma túy. Sau đó, B lấy 01 viên ma túy ngựa để châm cho T dùng ống hút vào cơ thể xong, thì B lại lấy 01 viên ma túy ngựa tự châm lửa rồi dùng ống hút vào cơ thể. B và T cùng nhau sử dụng hết 06 viên ma túy và vứt bỏ dụng cụ sử dụng ma túy tại khu vực nghĩa trang thôn T rồi đi về nhà.
Công an xã X tiến hành lập biên bản kiểm tra xác định hiện trường nơi xảy ra vụ việc, thu giữ niêm phong đồ vật, tài liệu có liên quan để tiến hành điều tra theo quy định.
Ngày 02/8/2025, Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh Ninh Bình đã thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, ra Quyết định tạm giữ đối với Phạm Văn T, Nguyễn Thái B về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự.
* Vật chứng thu giữ: Thu tại khu vực nghĩa trang thôn T, nơi T và B vứt dụng cụ sử dụng ma túy: 01 vỏ chai nhựa màu xanh, trên thân vỏ chai nhựa có đục một lỗ tròn nhỏ được niêm phong trong hộp giấy cát tông tại các mép của hộp giấy được dán giấy niêm phong ký hiệu VV1; 04 mảnh giấy bạc màu trắng có một mặt bị cháy xém, 01 vỏ kẹo màu xanh, 01 mảnh giấy bạc màu trắng được cuộn thành ống hình tròn được niêm phong trong phong bì ký hiệu VV2. Thu giữ của Nguyễn Thái B: 01 mẫu vật nước tiểu của Nguyễn Thái B cho vào chai nhựa trong suốt, niêm phong ký hiệu NT01; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus. Thu giữ của Phạm Văn T: 01 mẫu vật nước tiểu của Phạm Văn T cho vào chai nhựa trong suốt, niêm phong ký hiệu NT02; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Pro Max. Các vật chứng của vụ án được chuyển đến Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 - Ninh Bình để phục vụ xét xử và thi hành án.
* Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn T và Nguyễn Thái B nhưng không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.
Tại Bản kết luận giám định số 268/KL-KTHS ngày 07/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Trên 01 (một) vỏ chai nhựa màu xanh không có nắp đậy, trên thân vỏ chai có đục một lỗ hình tròn trong hộp giấy ký hiệu VV1 gửi giám định không tìm thấy chất ma túy; 04 (bốn) mảnh giấy bạc màu trắng, 01(một) vỏ túi nilon màu xanh (vỏ kẹo, bánh), 01 (một) đoạn ống hút được cuộn bằng giấy bạc màu trắng trong phong bì ký hiệu VV2 có bám dính ma túy loại: Methamphetamine.”.
Tại Bản kết luận giám định số 269/KL-KTHS ngày 07/8/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ký hiệu NT1 (ghi thu của Nguyễn Thái B, sinh năm 2001, trú tại thôn T, xã X, tỉnh Ninh Bình) gửi giám định. Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ký hiệu NT2 (ghi thu của Phạm Văn T, sinh năm 1990, trú tại thôn Hải Long, xã X, tỉnh Ninh Bình) gửi giám định.”
Tại Bản kết luận giám định số 1083/KL-KTHS ngày 09/10/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: “Trong mẫu vật giám định tìm thấy: 38 lịch sử cuộc gọi, 32 tin nhắn Zalo, 49 tệp tin hình ảnh trong thời gian ngày 31/7/2025”. Kèm theo kết luận gồm: 01 đĩa DVD-R bên trong có chứa 01 tệp tin có tên "QĐ A2630" dung lượng 16.8 MB (17,713,354 bytes) dữ liệu, có mã MD5: F8ED45D3BA575FE08B19D6E1B4953EBD” .
Cơ quan điều tra đã mở niêm phong và kiểm tra dữ liệu có trong đĩa DVD-R bên trong có chứa 01 tệp tin có tên "QĐ A2630", kết quả: Kiểm tra tin nhắn: 32 tin nhắn. Không có nội dung tin nhắn đi, đến với Zalo “B Bảnh”, Messenger “Quý Nguyễn”.
+ Kiểm tra phần ảnh (Picture): 49 tệp hình ảnh. Có 01 ảnh chụp lịch sử giao dịch ngân hàng số tiền 1.000.000 đồng ngày 31/7/2025, 01 ảnh chụp mã QR chuyển tiền mang tên Phạm Như H.
+ Kiểm tra Call History: 38 lịch sử cuộc gọi: Kiểm tra cuộc gọi ngày 31/7/2025 qua ứng dụng Messenger có 01 lịch sử cuộc gọi với “Quý Nguyễn”. Kiểm tra cuộc gọi ngày 31/7/2025 qua ứng dụng Zalo có 04 lịch sử cuộc gọi với “B Bảnh”. Kiểm tra cuộc gọi ngày 31/7/2025 qua ứng dụng Zalo có 03 lịch sử cuộc gọi với “A Dida Phat”.
Kết quả khai thác dữ liệu điện thoại đi động Iphone 16 Promax thu giữ của Phạm Văn T xác định: Ứng dụng ngân hàng Viettinbank của số tài khoản: 1078834665xx (09697682xx) mang tên Pham Van T. Tại phần biến động số dư có giao dịch ngày 31/7/2025, thời gian 12 giờ 35 phút, chuyển đi 1.000.000 đồng. Tại ứng dụng Zalo tài khoản cá nhân Phạm Văn T có tên “T Troy”; Tại ứng dụng Messenger phần bạn bè có thông tin của Quý Nguyễn, nội dung tin nhắn, trò chuyện ngày 31/7/2025 đã bị xóa. Các nội dung trên được chụp ảnh và đánh số từ 01 đến 4 tại các tờ có chữ viết và chữ ký, ghi họ tên của Phạm Văn T.
Kết quả kiểm tra, khai thác dữ liệu điện thoại di động Iphone 7 Plus thu giữ của Nguyễn Thái B xác định: Tại ứng dụng Zalo tài khoản cá nhân Nguyễn Thái B có tên “B Bảnh”, phần trò chuyện có nội dung tin nhắn với “T Troy” về việc rủ nhau mua ma túy về sử dụng được chụp ảnh đánh số từ 01 đến 8 tại các tờ có chữ viết và chữ ký, ghi họ tên của Nguyễn Thái B.
Tại Cáo trạng số 78/CT-VKS-KV6 ngày 05/01/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Ninh Bình truy tố Phạm Văn T và Nguyễn Thái B về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 và khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Ninh Bình đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 47 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Văn T và Nguyễn Thái B. Áp dụng các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T và Nguyễn Thái B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt các bị cáo Phạm Văn T và Nguyễn Thái B; mỗi bị cáo từ 04 năm 06 tháng tù đến 05 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Rút việc truy tố các bị cáo theo khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Về xử lý vật chứng và đồ vật tạm giữ: Tịch thu tiêu huỷ 01 vỏ chai nhựa màu xanh và các mảnh giấy bạc được hoàn lại sau giám định. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Pro Max thu giữ của bị cáo T. Trả lại bà Huỳ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus thu giữ của bị cáo B.
Tại phiên tòa, các bị cáo T, B đã khai nhận hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như nội dung vụ án đã nêu ở trên và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – chị Vũ Thị P trình bày: Bị cáo T là chồng chị. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Pro Max mà bị cáo T sử dụng trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý vào ngày 31/7/2025 là tài sản riêng của chị; nguồn tiền là do bố mẹ đẻ chị cho; chị mua không có hoá đơn. Chị cho bị cáo T mượn điện thoại này từ đầu năm 2025. Do chị không biết T sử dụng vào việc mua ma tuý nên chị đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc điện thoại thu giữ của T cho chị.
Tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Phạm Thị H trình bày: Bị cáo B là con trai của bà. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus mà bị cáo B sử dụng trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý vào ngày 31/7/2025 là tài sản riêng của bà; nguồn tiền là do bà làm ra. Sáng ngày 31/7/2025 B mượn điện thoại của bà để nhắn tin. Khi B mượn điện thoại thì bà đã tháo sim điện thoại ra để lắp vào máy điện thoại khác. Do bà không biết B sử dụng điện thoại vào việc mua ma tuý nên bà đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc điện thoại thu giữ của B cho bà.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Các quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình; Viện kiểm sát nhân dân khu vực x - Ninh Bình và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các bị cáo không có khiếu nại gì về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng.
Về tội danh: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 31/7/2025 thông qua ứng dụng Zalo; bị cáo Nguyễn Thái B rủ bị cáo Phạm Văn T góp tiền mua ma túy để sử dụng. B góp 298.000 đồng, T góp 202.000 đồng để T liên lạc với một người đàn ông tên là H (quen qua mạng và không rõ nhân thân, lai lịch) và mua được 06 viên ma túy loại Methamphetamine với số tiền 500.000 đồng. Trên đường đến địa điểm sử dụng ma tuý thì T đã mua chai nước, giấy bạc, bật lửa để làm dụng cụ sử dụng ma tuý. Khi cả hai đi đến nghĩa trang thôn T, xã X, tỉnh Ninh Bình thì T đã chế chai nước, giấy bạc và chiếc bút bi mang sẵn từ trước T bình, ống hút ma tuý. B gấp giấy bạc gấp T máng, cuộn T ống sau đó lấy viên ma túy Methamphetamine dùng bật lửa châm cho T dùng ống hút vào cơ thể, tiếp đến B lấy viên ma túy Methamphetamine tự châm lửa dùng ống hút vào cơ thể. B và T cùng nhau sử dụng hết số ma túy Methamphetamine đã mua và vứt bỏ dụng cụ sử dụng ma túy tại hiện trường rồi đi về nhà.
Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Thái B, Phạm Văn T đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tất cả các bị cáo được hưởng tình tiết “Người phạm tội T khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Đánh giá vai trò đồng phạm: Xét trong vụ án này; bị cáo B là người khởi xướng, chuyển tiền cho bị cáo T để mua ma túy; bị cáo T là người trực tiếp liên hệ và đi mua ma túy; B, T cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy do vậy các bị cáo giữ vai trò như nhau trong vụ án.
Về hình phạt:
- Về hình phạt chính: Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; vi phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy; các bị cáo đều có nhân thân xấu do đó Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù; cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên Hội đồng xét xử cũng xem xét nhân thân của các bị cáo để quyết định mức hình phạt đối với từng bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo phạm tội không có mục đích thu lợi, các bị cáo không có nghề nghiệp và tại phiên tòa Kiểm sát viên đã rút một phần Cáo trạng; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Xét thấy 01 vỏ chai nhựa màu xanh, 04 mảnh giấy bạc màu trắng có một mặt bị cháy xém, 01 vỏ kẹo màu xanh, 01 mảnh giấy bạc màu trắng được cuộn thành ống hình tròn là các đồ vật các bị cáo sử dụng làm công cụ sử dụng ma tuý không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus thu của Nguyễn Thái B; Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà thì lời khai của bị cáo B và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – bà H phù hợp với nhau và phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng nên có đủ căn cứ để xác định chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus mà bị cáo B dùng để liên lạc với bị cáo T trong việc khởi xướng việc góp tiền mua ma tuý ngày 31/7/2025 là tài sản của bà H; việc bị cáo B sử dụng vào việc liên lạc với bị cáo T thì bà H không biết do vậy Hội đồng xét xử trả lại chiếc điện thoại cho bà H.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Pro Max thu của Phạm Văn T; Hội đồng xét xử thấy rằng: Mặc dù bị cáo T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan – chị P đều xác định chiếc điện thoại này là tài sản riêng của chị P và chị P cho bị cáo T mượn từ đầu năm 2025, chị P không biết T sử dụng chiếc điện thoại vào việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nhưng cả chị P và bị cáo T không đưa ra được chứng cứ chứng minh; bản thân T thừa nhận sim điện thoại và các ứng dụng cài đặt trên chiếc điện thoại thì T là người đứng tên chủ tài khoản. Do đó Hội đồng xét xử xác định chiếc điện thoại này là tài sản hợp pháp của T và được T sử dụng vào việc phạm tội do vậy cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định.
Đối với hành vi khác, đối tượng khác: Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Thái B: Ngày 26/7/2023, Nguyễn Thái B bị Toà án nhân dân quận H, T phố Hà Nội quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng; ngày 26/5/2024 B chấp hành xong nhưng không trở về địa phương. Ngày 31/7/2025, B có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, đồng thời bản thân cũng sử dụng ma túy. Hành vi của B đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự và đủ yếu tố cấu T tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên do bị cáo thực hiện nhiều hành vi kế tiếp nhau, trong đó hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý bao hàm cả hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên Cơ quan Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình khởi tố và Viện kiểm sát nhân dân khu vực x – Ninh Bình truy tố bị cáo B về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng pháp luật bởi hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý có tính chất nguy hiểm hơn và có mức hình phạt nghiêm khắc hơn hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
- Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo Phạm Văn T khai mua ma túy của người tên H (biệt danh “H XêKo”) qua tài khoản Zalo “A DiDa Phat” do Nguyễn Văn Q1 là người bị cáo quen qua mạng xã hội giới thiệu; T chưa từng gặp và không biết rõ nhân thân, lai lịch của người bán ma túy. Ngày 31/7/2025, T chuyển 1.000.000 đồng vào tài khoản Viettel Pay mang tên Phạm Như H và được gửi hình ảnh, vị trí cất giấu ma túy tại khu vực bờ sông Châu Giang, xã V, tỉnh Ninh Bình để lấy.
+ Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình đã tiến hành điều tra, xác minh tuy nhiên Nguyễn Văn Q1 hiện không có mặt tại địa phương, không rõ Q1 đi đâu, làm gì, ở đâu nên chưa làm việc được.
+ Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình đã tiến hành triệu tập đối với Phạm Như H là người sử dụng tài khoản Viettel Pay liên kết với ngân hàng Quân đội MBBank có số 9704229208925409. Quá trình làm việc, Phạm Như H khai không bán ma túy, không quen biết người nào tên Phạm Văn T, sinh năm 1990, nơi ở hiện nay là thôn T, xã X, tỉnh Ninh Bình và H sử dụng tài khoản Viettel Pay liên kết với ngân hàng Quân đội MBBank có số 9704229208925409 để làm dịch vụ nhận tiền mặt và chuyển tiền qua tài khoản, nhận tiền qua tài khoản và trả bằng tiền mặt, số tài khoản và mã QR Code H thường xuyên đăng tải lên mạng xã hội. Do chỉ có duy nhất lời khai của Phạm Văn T ngoài ra không còn chứng cứ, tài liệu nào khác do đó không có căn cứ xác định người bán ma túy cho T vào ngày 31/7/2025 có phải là Phạm Như H hay không.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu LEAD, biển kiểm soát 90B1-977.xx mà bị cáo T sử dụng đi mua ma túy ngày 31/7/2025. Hội đồng xét xử thấy các tài liệu có trong hồ sơ đã có đủ căn cứ để xác định chị Vũ Thị P là người đứng tên đăng ký xe vào ngày 05/6/2015; đến ngày 29/12/2017 thì chị P mới đăng ký kết hôn với T do vậy chiếc xe là tài sản riêng của chị P. Ngày 31/7/2026 T sử dụng chiếc xe chở B đi mua ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý thì chị P không biết do đó Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Ninh Bình không thu giữ và xử lý đối với chiếc xe là có căn cứ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 47 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Văn T và Nguyễn Thái B.
Áp dụng các điểm a, c khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14.
1. Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T và Nguyễn Thái B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. - Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 04 (bốn) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ (ngày 02/08/2025).
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thái B 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ (ngày 02/08/2025).
3. Về vật chứng vụ án: - Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ chai nhựa màu xanh. 04 mảnh giấy bạc màu trắng có một mặt bị cháy xém, 01 vỏ kẹo màu xanh, 01 mảnh giấy bạc màu trắng hoàn lại sau giám định được đựng trong phong bì niêm phong số 268/KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Pro Max thu giữ của bị cáo Phạm Văn T.
- Trả lại cho bà Phạm Thị H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus thu giữ của bị cáo Nguyễn Thái B.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/01/2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Ninh Bình và Phòng Thi hành án dân sự khu vực x - Ninh Bình).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Phạm Văn T và Nguyễn Thái B; mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Báo cho các bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao (Vụ Giám đốc kiểm tra I); - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSND khu vực x - Ninh Bình; - Trại tạm giam số 2, Cơ quan CSĐT, Cơ quan THAHS, Phòng HSNV - Công an tỉnh Ninh Bình; - Phòng THADS khu vực x - Ninh Bình; - UBND xã X, tỉnh Ninh Bình; - Các bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ và văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Đặng Trần Anh Dũng (đã ký) |