- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Thanh T cùng đồng phạm - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Thanh T1, Đào Minh T4, Nguyễn Văn T3 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Vũ Đức T5 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự Tuyên bố các; Điều 255 Bộ luật Hình sự Tuyên bố các; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2025/HS-ST Ngày 03 – 06 -2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lưu Đình Tâm
2. Bà Quách Thị Tình
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Hùng - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Văn Tuyến và Bà Bùi Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 06 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 05 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Lê Thanh T1; Sinh ngày: 20/02/1985, tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: 038085003062; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông: Lê Minh Đ và bà: Lê Thị T2; Có vợ là Nguyễn Thị Q và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/10/2024 đến ngày 01/11/2024, sau đó bị tạm giam từ ngày 01/11/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa; Nhân thân: ngày 15/01/2021 bị công an thị trấn K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, đã chấp hành xong quyết định ngày 15/01/2021.
2. Nguyễn Văn T3; Sinh ngày: 22/02/1989, tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: 038089007993; Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Nguyễn Xuân L và bà: Nguyễn Thị Đ1; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/10/2024 đến ngày 01/11/2024, sau đó bị tạm giam từ ngày 01/11/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa;
3. Đào Minh T4; Sinh ngày: 10/02/1995, tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: 0380950166564; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Đào Văn V và bà: Trần Thị B; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/11/2024 đến ngày 19/11/2024, sau đó bị tạm giam từ ngày 19/11/2024 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa; Nhân thân: Ngày 03/10/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng về tội Đánh bạc, chấp hành xong bản án ngày 03/10/2023.
4. Vũ Đức T5; Sinh ngày: 19/08/1989, tại xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình; Số căn cước công dân: 037089004815; Nơi cư trú: Thôn E, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Vũ Minh Đ2 và bà: Đinh Thị L1; Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/11/2024 đến ngày 28/11/2024, sau đó bị tạm giam từ ngày 28/11/2024 cho đến nay; Có mặt tại phiên tòa; Nhân thân: Ngày 19/01/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xử phạt 04 năm tù về tội Cướp tài sản, chấp hành xong bản án ngày 27/4/2013; Ngày 23/12/2020 bị UBND xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, chấp hành xong biện pháp ngày 23/03/2021.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Lê Thị Thúy H, sinh ngày 21/12/2003; Địa chỉ: Khu phố B L, thị trấn K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 21/10/2024, Lê Thanh T1 (sinh năm 1985), Nguyễn Văn T3 (sinh năm 1989, cùng trú tại thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) và Đào Minh T4 (sinh năm 1995, trú tại thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa) thống nhất cùng đi mua ma túy để sử dụng. Trước đó, vì thiếu tiền nên T1 đã đến gặp và vay được 500.000 đồng từ ông Lê Văn S (sinh năm 1973, trú tại thôn P, xã T, huyện T). T1 góp thêm 50.000 đồng và đưa cho T4 550.000 đồng, T4 cũng góp 50.000 đồng, tổng là 600.000 đồng tiền mua ma túy. Do quen biết từ trước, T4 liên hệ với tài khoản Facebook tên “T5” của Vũ Đức T5 (sinh năm 1989, trú tại thôn E, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình) để hỏi mua ma túy. Qua trao đổi, T5 đồng ý bán cho T4 01 gói ma túy với giá 600.000 đồng và yêu cầu T4 chuyển khoản trước.
Sau khi thống nhất xong việc mua ma túy, T4 lái xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA VIOS màu xanh bạc, BKS: 18A-049.88 (xe của Đào Văn T6, sinh năm 1983, trú tại thôn P, xã T, huyện T - anh ruột của T4) chở theo T1, T3 đi đến huyện N, tỉnh Ninh Bình để nhận ma túy. Khi đi đến thôn H, xã T, huyện T, T4 dừng xe và một mình đi vào cửa hàng mua bán điện thoại “M”, nhờ chị Dương Thị H1 (sinh năm 1978) là chủ cửa hàng chuyển 600.000 đồng vào số tài khoản 0978647801 Ngân hàng Thương mại cổ phần P (OCB) của T4. Nhận được tiền, T4 chuyển 600.000 đồng đến số tài khoản 0967138707 Ngân hàng Q1 (MB) của Vũ Đức T5. Chuyển tiền xong, T4 trở lại xe và lái xe ô tô đi đến khu vực R, thuộc thôn E, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình. Khi đến nơi, T4 gọi cho T5 qua ứng dụng Messenger và được T5 hướng dẫn lấy ma túy ở cột điện bên lề đường. Sau khi lấy được 01 gói ma túy, T4 lên xe đưa gói ma túy cho T3 giữ rồi lái xe chở T1, T3 quay về huyện T. Khi đi đến khu phố P, thị trấn V, huyện T, T4 dừng xe bên lề đường. Tại đây, T3 đổ ma túy vào trong cóng thủy tinh đã được T4 chuẩn bị sẵn trên xe rồi đưa cho T4. T4 dùng bật lửa đốt ma túy chuyển sang dạng khói, hút đầu tiên, rồi đến T1, T3 sử dụng lần lượt. Cả ba luân phiên sử dụng mỗi người 03 lần thì hết. Sử dụng xong T4 lái xe đưa T3, T1 quay về nhà T4.
Khi đến trước cổng nhà T4, T3 nói riêng với T1 đang còn một ít ma túy và rủ T1 tìm nơi tiếp tục sử dụng, T1 đồng ý. Cả hai hẹn nhau ra Trạm bơm tiêu úng thuộc thôn H, xã T. Thái chuẩn bị sẵn dụng cụ. Đến địa điểm đã hẹn, T3 cho toàn bộ số ma túy còn lại vào cóng thủy tinh rồi bật lửa đốt. Khi ma túy chuyển sang dạng khói, T3 đưa cho T1 sử dụng, T1 sử dụng 01 lần rồi đưa lại cho T3 sử dụng được 01 lần thì hết. Sau đó, T3 dùng bật lửa đốt vỏ gói đã đựng ma túy, chai nhựa ném trên đường về, cóng thủy tinh và bật lửa thì đem về. T1 và T3 ai đi về nhà người đó.
Đến ngày 23/10/2024, do nhận thức hành vi trái pháp luật của bản thân, Lê Thanh T1 đã tự thú khai nhận hành vi phạm tội trên. Lê Thanh T1 đã tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động SAMSUNG J7 PRIME đã qua sử dụng, màu trắng vàng, có gắn thẻ sim số thuê bao 0338654292. Cùng ngày, Nguyễn Văn T3 đến Công an huyện T đầu thú và thừa nhận hành vi cùng với T1, T4 tổ chức sử dụng ma túy. Nguyễn Văn T3 đã giao nộp: 01 điện thoại di động màu trắng, nhãn hiệu VSMART, gắn thẻ sim số thuê bao 0867082786; 01 cóng thủy tinh màu trắng, một đầu phình to tròn; 01 bật lửa màu trắng đen; 01 ống thủy tinh màu trắng ở giữa phình to có chiều dài khoảng 10cm; 01 ống hút thủy tinh màu trắng dài khoảng 15cm; 01 ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 10cm; 01 ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 15cm.
Đến ngày 16/11/2024, Đào Minh T4 đến Công an huyện T đầu thú và thừa nhận hành vi tổ chức sử dụng ma túy. Đào Minh T4 đã tự nguyện giao nộp: 01 điện thoại di động Realme đã qua sử dụng, màu trắng, có gắn thẻ sim số thuê bao 0348146290; 01 cóng thủy tinh chiều dài khoảng 12cm, bên trong có bám dính các hạt tinh thể màu trắng.
Mở rộng vụ án, ngày 19/11/2024 Cơ quan điều tra đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Vũ Đức T5 và tạm giữ 01 điện thoại di động Oppo A92 đã qua sử dụng, màu xanh, không lắp sim; 01 điện thoại di động Oppo A12e đã qua sử dụng, màu đỏ, có gắn thẻ sim số thuê bao 0967138707. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Đức T5, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 túi nilon màu trắng, một viền đỏ, kích thước khoảng (3x6)cm; 02 túi nilon màu trắng, một viền đỏ, kích thước tương đối bằng nhau khoảng (1x1,5)cm; 01 chai nhựa, loại chai nước ngọt, nhãn hiệu Number 1 cao khoảng 18cm, nắp màu vàng, đục 2 lỗ gắn ống hút nhựa màu vàng dài khoảng 10cm và cóng thủy tinh dài khoảng 15cm.
Tại Cơ quan điều tra, Vũ Đức T5 khai nhận: khoảng 13 giờ 30 phút ngày 21/10/2024, T4 gọi cho T5 qua ứng dụng Messenger hỏi mua ma túy với giá 600.000 đồng. Trước đó, T5 đã mua 01 gói ma túy của một người đàn ông lạ mặt tại khu vực thành phố N, tỉnh Ninh Bình với giá 1.000.000 đồng. Sau khi sử dụng một phần, phần còn lại T5 cất giấu ở nhà nên khi T4 hỏi mua, T5 đã đồng ý. T5 đã lấy một phần ma túy bỏ vào 01 túi nilon màu trắng và mang ra cột điện gần cổng nhà ở thôn E, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình, sau đó báo cho T4 vị trí giấu gói ma túy để T4 đến lấy.
Kết quả test nhanh nước tiểu của Lê Thanh T1, Nguyễn Văn T3, Vũ Đức T5 đều dương tính với ma túy, Đào Minh T4 âm tính với ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số 4126/KL-KTHS ngày 31/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ghi thu của Lê Thanh T1 và Nguyễn Văn T3 gửi giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 4130/KL-KTHS ngày 31/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T đối với cóng thủy tinh thu giữ của Nguyễn Văn T3 kết luận: Tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine trong chất màu đen bám dính bên trong 01 (một) cóng thủy tinh màu trắng, một đầu phình to tròn của phong bì niêm phong gửi giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 4480/KL-KTHS ngày 22/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh T đối với cóng thủy tinh thu giữ của Đào Minh T4 kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng bám dính trong cóng thủy tinh chiều dài khoảng 12cm của niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Không xác định được khối lượng chất ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số 4489/KL-KTHS ngày 25/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh T đối với 03 túi nilon và cóng thủy tinh thu giữ của Vũ Đức T5 kết luận:
- Các hạt tinh thể màu trắng bám dính trong 01 (một) túi nilon màu trắng, một viền đỏ, kích thước khoảng (3x6)cm của hộp giấy niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,028g (không phẩy không hai tám gam), loại Methamphetamine.
- Các hạt tinh thể màu trắng bám dính trong 02 (hai) túi nilon màu trắng, đều có một viền đỏ, kích thước tương đối bằng nhau khoảng (1x1,5)cm của hộp giấy niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Không xác định được khối lượng các hạt tinh thể màu trắng bám dính.
- Các hạt tinh thể màu trắng bám dính trong cóng thủy tinh của hộp giấy niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Không xác định được khối lượng các hạt tinh thể màu trắng bám dính.
Tại Bản kết luận giám định số 4630/KL-KTHS ngày 05/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 01/10/2024 đến ngày 22/10/2024:
1. 01 (một) điện thoại di động Realme UI, kiểu máy RMX3910, có IMEI 1: 861880071417698, IMEI 2: 861880071417680. Kèm theo 01 (một) SIM có ghi: 8984048000938431530. Tìm thấy 810 (tám một không) hình ảnh, 120 (một hai không) lịch sử cuộc gọi, 225 (hai hai năm) tin nhắn Facebook, 01 (một) tin nhắn Zalo.
2. 01 (một) điện thoại di động Oppo A12e màu đỏ, kiểu máy: CPH1853, có IMEI 1: 860811043708170, IMEI 2: 860811043708162. Màn hình có các sọc ngang, không xác định nguyên nhân. Kèm theo 01 (một) SIM có ghi: 8984048000031840760. Tìm thấy 1164 (một một sáu bốn) lịch sử cuộc gọi, 1416 (một bốn một sáu) tin nhắn Facebook, 6435 (sáu bốn ba năm) tin nhắn Zalo.
3. 01 (một) điện thoại di động Oppo A92 màu đen, kiểu máy CPH2059, có IMEI 1: 862251057059194, IMEI 2: 862251057059186. Không kèm theo SIM điện thoại. Không tìm thấy dữ liệu theo yêu cầu.
Đối với Vũ Đức T5: quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của T5 thu giữ vỏ gói chứa chất ma túy là số ma túy còn lại sau khi T5 bán ma túy cho Đào Minh T4. Theo kết luận giám định, số ma túy thu giữ của Vũ Đức T5 có tổng khối lượng 0,028 gam, loại Methamphetamine. Tiến hành điều tra, xác minh T5 chưa từng bị xử lý hành chính và chưa bị kết án về các tội Tàng trữ, Vận chuyển, Sản xuất, Chiếm đoạt trái phép chất ma túy. Do đó, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Vũ Đức T5 đã vi phạm điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện T để xử phạt vi phạm hành chính đối với Vũ Đức T5 về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T5, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được danh tính của người đàn ông này. Vấn đề này Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, xử lý khi có đủ căn cứ.
Đối với ông Lê Văn S là người cho Lê Thanh T1 vay 500.000 đồng ngày 21/10/2024. Ông Lê Văn S không biết việc T1 vay tiền để mua ma túy nên không xem xét trách nhiệm đối với Lê Văn S.
Đối với Dương Thị H1 là người Đào Minh T4 nhờ chuyển tiền vào tài khoản của T4 ngày 21/10/2024. Chị H1 không biết mục đích chuyển tiền của T4 là mua ma túy nên không xem xét trách nhiệm đối với Dương Thị H1.
Đối với Đào Văn T6 là chủ sở hữu xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, loại xe VIOS màu xanh bạc, BKS: 18A-049.88. Ngày 21/10/2024 trong lúc anh T6 đi vắng, để chiếc xe trên có sẵn chìa khóa, T4 đã tự ý lấy xe đi sau đó thực hiện hành vi phạm tội. Việc T4 sử dụng xe đi mua ma túy và tổ chức sử dụng ma túy trên xe anh T6 không biết nên không xem xét trách nhiệm đối với Đào Văn T6.
Kết quả xác minh về tài sản, thu nhập của các bị cáo xác định hiện các bị cáo Lê Thanh T1, Nguyễn Văn T3, Đào Minh T4 không có thu nhập, tài sản. Bị cáo Vũ Đức T5 có quyền sử dụng thửa đất số 183, tờ bản đồ số 38, diện tích 348,7 m2 đất trồng cây lâu năm địa chỉ: xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã giao nộp, Cơ quan điều tra đã tạm giữ:
- 01 xe ô tô 05 chỗ ngồi, nhãn hiệu TOYOTA, loại xe VIOS màu xanh bạc, BKS: 18A-049.88;
- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 004382 cho xe ô tô con nhãn hiệu TOYOTA, loại xe VIOS màu xanh bạc, BKS: 18A-049.88 mang tên Nguyễn Văn C, địa chỉ: phố T, thị trấn C, huyện T, tỉnh Nam Định.
- 01 điện thoại di động SAMSUNG J7 PRIME đã qua sử dụng, màu trắng vàng, có gắn thẻ sim số thuê bao 0338654292.
- 01 điện thoại di động VSMART đã qua sử dụng, màu trắng, có gắn thẻ sim số thuê bao 0867082786.
- 01 điện thoại di động Realme đã qua sử dụng, màu trắng, có gắn thẻ sim số thuê bao 0348146290.
- 01 điện thoại di động Oppo A92 đã qua sử dụng, màu xanh, không lắp sim.
- 01 điện thoại di động Oppo A12e đã qua sử dụng, màu đỏ, có gắn thẻ sim số thuê bao 0967138707.
- 01 cóng thủy tinh màu trắng, một đầu phình to tròn; 01 bật lửa màu trắng đen; 01 ống thủy tinh màu trắng ở giữa phình to có chiều dài khoảng 10cm; 01 ống thủy tinh màu trắng dài khoảng 15cm; 01 ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 10cm; 01 ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 15cm.
- 01 cóng thủy tinh chiều dài khoảng 12cm.
- 0,020 gam các hạt tinh thể màu trắng (là chất ma túy còn lại sau giám định) của 01 túi nilon màu trắng, một viền đỏ, kích thước khoảng (3x6)cm; 02 túi nilon màu trắng, một viền đỏ, kích thước tương đối bằng nhau khoảng (1x1,5)cm; 01 chai nhựa, loại chai nước ngọt, nhãn hiệu Number 1 cao khoảng 18cm, nắp màu vàng, đục 2 lỗ gắn ống hút nhựa màu vàng dài khoảng 10cm và cóng thủy tinh dài khoảng 15cm.
Đã xử lý vật chứng: Xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe ô tô BKS: 18A-049.88 và các giấy tờ liên quan cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Đào Văn T6. Đối với các vật chứng còn lại sẽ được chuyển đến bảo quản chờ xử lý tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạch Thành.
Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKSTT ngày 13/05/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, đã truy tố các bị cáo Lê Thanh T1, Đào Minh T4 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Văn T3 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Vũ Đức T5 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt Lê Thanh T1 từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 25; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt Đào Minh T4 từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ.
Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt Nguyễn Văn T3 từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt Vũ Đức T5 từ 30 tháng đến 36 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ.
Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Vũ Đức T5 số tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động màu trắng, màn hình cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG J7 PRIME, số Imei 1 352810092759204, số Imei 2 352810092759202; 01 điện thoại di động màu trắng màn hình cảm ứng, nhãn hiệu VSMART số se- ri AHW 00038752; 01 điện thoại di động cũ đã qua sử dụng màn hình cảm ứng, màu xanh nhãn hiệu Oppo A92 số Imei 862251057059194, số Imei 2 862251057059186; 01 điện thoại di động cũ đã qua sử dụng màn hình cảm ứng, màu đỏ Oppo A12E số Imei 1 860811043708170, số Imei 2 860811043708162
- Tịch thu tiêu hủy: 01 cóng thủy tinh màu trắng, một đầu phình to tròn; 01 bật lửa màu trắng đen; 01 ống thủy tinh màu trắng ở giữa phình to có chiều dài khoảng 10cm; 01 ống thủy tinh màu trắng dài khoảng 15cm; 01 ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 10cm; 01 ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 15cm; 01 cóng thủy tinh chiều dài khoảng 12cm; 0,020 gam các hạt tinh thể màu trắng (là chất ma túy còn lại sau giám định) của 01 túi nilon màu trắng, một viền đỏ, kích thước khoảng (3x6)cm; 02 túi nilon màu trắng, một viền đỏ, kích thước tương đối bằng nhau khoảng (1x1,5)cm; 01 chai nhựa, loại chai nước ngọt, nhãn hiệu Number 1 cao khoảng 18cm, nắp màu vàng, đục 2 lỗ gắn ống hút nhựa màu vàng dài khoảng 10cm và cóng thủy tinh dài khoảng 15cm.
- Truy thu của bị cáo Vũ Đức T5 số tiền 600.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
- Trả lại cho chị Lại Thị Thúy H2 01 điện thoại di động Realme đã qua sử dụng, màu trắng.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phần tranh tụng, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng các bị cáo rất hối hận về hành vi của mình đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã thừa nhận: Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 21/10/2024, Lê Thanh T1, Nguyễn Văn T3, Đào Minh T4 thống nhất đi đến thôn E, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Bình gặp và mua của Vũ Đức T5 01 gói ma túy loại Methamphetamine với giá 600.000 đồng. Sau đó, Lê Thanh T1, Nguyễn Văn T3, Đào Minh T4 tổ chức sử dụng ma túy trong xe ô tô BKS: 18A-049.88 dừng bên lề đường tại khu phố P, thị trấn V, huyện T. Quá trình sử dụng, Nguyễn Văn T3 để lại một phần ma túy sau đó tiếp tục tổ chức sử dụng đưa ma túy vào cơ thể Lê Thanh T1 và bản thân T3 tại Trạm bơm tiêu úng thôn H, xã T, huyện T vào chiều cùng ngày. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau cùng các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Hành vi của các bị cáo Lê Thanh T1 và Đào Minh T4 đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T3 đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Vũ Đức T5 đã cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
.Về vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án hình sự có tính đồng phạm giản đơn do các bị cáo Lê Thanh T1, Đào Minh T4, Nguyễn Văn T3 cùng thực hiện. Trong đó, Lê Thanh T1 là người khởi xướng việc tổ chức sử dụng ma túy, góp tiền mua ma túy, tham gia quá trình đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể nên T1 giữ vai trò thứ nhất trong vụ án. Đào Minh T4 góp tiền mua ma túy, trực tiếp liên hệ và chuyển khoản tiền để mua ma túy, lái xe ô tô đi lấy ma túy, nhận ma túy, là người chuẩn bị sẵn công cụ để sử dụng ma túy trên xe, tham gia quá trình đưa ma túy vào cơ thể nên T4 giữ vai trò thứ hai trong vụ án. Nguyễn Văn T3 là người nhận gói ma túy từ Thiện, đổ gói ma túy vào cóng và đưa cho T4 đốt để cả ba cùng sử dụng nên T3 giữa vai trò thứ ba trong vụ án. Hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của Vũ Đức T5 thực hiện có tính chất độc lập trong vụ án.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Thanh T1 có các tình tiết giảm nhẹ: “Tự thú”, “Thành khẩn khai báo”, có bố đẻ là người có công với cách mạng; Quá trình sinh sống tại địa phương đã tham gia ủng hộ phòng chống dịch Covid 19 được cấp có thẩm quyền xác nhận đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn T3 có các tình tiết giảm nhẹ: “Đầu thú”, “Thành khẩn khai báo” và có bố đẻ là người có công với cách mạng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Đào Minh T4 có các tình tiết giảm nhẹ: “Đầu thú”, “Thành khẩn khai báo”, có bà nội là người có công với cách mạng được tặng Bằng khen đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Vũ Đức T5 có các tình tiết giảm nhẹ: “Thành khẩn khai báo”, có bố đẻ là người có công với cách mạng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và hình phạt: Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác và các tệ nạn xã hội, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự để cải tạo các bị cáo thành công dân tốt, đồng thời giáo dục và phòng ngừa chung.
. Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Vũ Đức T5, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được danh tính của người đàn ông này. Nên không có căn cứ để điều tra mở rộng vụ án.
. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo Lê Thanh T1, Đào Minh T4, Nguyễn Văn T3 không có tài sản và không có thu nhập gì đáng kể nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo là phù hợp. Đối với bị cáo Vũ Đức T5 tuy không có thu nhập ổn định nhưng có tài sản là quyền sử dụng đất nên cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vũ Đức T5.
. Về xử lý vật chứng:
. Đối với 01 điện thoại di động SAMSUNG J7 PRIME đã qua sử dụng, màu trắng vàng, có gắn thẻ sim số thuê bao 0338654292 của bị cáo Lê Thanh T1; 01 điện thoại di động VSMART đã qua sử dụng, màu trắng, có gắn thẻ sim số thuê bao 0867082786 của bị cáo Nguyễn Văn T3; 01 điện thoại di động Oppo A92 đã qua sử dụng, màu xanh, không lắp sim và 01 điện thoại di động Oppo A12e đã qua sử dụng, màu đỏ, có gắn thẻ sim số thuê bao 0967138707 của bị cáo Vũ Đức T5. Các bị cáo đã sử dụng điện thoại liên lạc, chuyển tiền để thực hiện tội phạm do đó cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
. Đối với 01 cóng thủy tinh màu trắng, một đầu phình to tròn; 01 bật lửa màu trắng đen; 01 ống thủy tinh màu trắng ở giữa phình to có chiều dài khoảng 10cm; 01 ống thủy tinh màu trắng dài khoảng 15cm; 01 ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 10cm; 01 ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 15cm; 01 cóng thủy tinh chiều dài khoảng 12cm; 0,020 gam các hạt tinh thể màu trắng (là chất ma túy còn lại sau giám định) của 01 túi nilon màu trắng, một viền đỏ, kích thước khoảng (3x6)cm; 02 túi nilon màu trắng, một viền đỏ, kích thước tương đối bằng nhau khoảng (1x1,5)cm; 01 chai nhựa, loại chai nước ngọt, nhãn hiệu Number 1 cao khoảng 18cm, nắp màu vàng, đục 2 lỗ gắn ống hút nhựa màu vàng dài khoảng 10cm và cóng thủy tinh dài khoảng 15cm. Đây là công cụ phương tiện các bị cáo sử dụng để phạm tội không có giá trị sử dụng, số ma túy còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành. Do đó cần tịch thu tiêu hủy.
. Đối với 01 điện thoại di động Realme đã qua sử dụng, màu trắng, có gắn thẻ sim số thuê bao 0348146290. Đây là điện thoại khi đầu thú bị cáo Đào Minh T4 giao nộp. Quá trình điều tra xác định được đây là tài sản của chị Lại Thị Thúy H2 là bạn gái của Đào Minh T4 đã cho T4 mượn. Chị H2 không biết việc bị cáo T4 sử dụng điện thoại vào mục đích phạm tội do đó trả lại cho chị H2 chiếc điện thoại trên là đúng quy định của pháp luật.
. Đối với số tiền 600.000 đồng các bị cáo T1, T4 sử dụng để mua ma túy của Vũ Đức T5. Bị cáo Vũ Đức T5 đã sử dụng tiêu sài cá nhân hết. Đây là số tiền do phạm tội mà có do đó cần truy thu của bị cáo Vũ Đức T5 số tiền 600.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 255 và Điều 251 của Bộ luật Hình sự
Tuyên bố các bị cáo Lê Thanh T1, Đào Minh T4, Nguyễn Văn T3 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Vũ Đức T5 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Thanh T1.
Xử phạt bị cáo Lê Thanh T1 08 (T7) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 23/10/2024.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đào Minh T4.
Xử phạt bị cáo Đào Minh T4 08 (T7) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 16/11/2024.
Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T3.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3 08 (T7) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 23/10/2024.
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Đức T5.
Xử phạt bị cáo Vũ Đức T5 30 (Ba mươi) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ ngày 19/11/2024
Phạt bổ sung đối với bị cáo Vũ Đức T5 số tiền 10.000.000 đ (Mười triệu đồng)
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động màu trắng, màn hình cảm ứng nhãn hiệu SAMSUNG J7 PRIME, số Imei 1 352810092759204, số Imei 2 352810092759202; 01 điện thoại di động màu trắng màn hình cảm ứng, nhãn hiệu VSMART số se- ri AHW 00038752; 01 điện thoại di động cũ đã qua sử dụng màn hình cảm ứng, màu xanh nhãn hiệu Oppo A92 số Imei 862251057059194, số Imei 2 862251057059186; 01 điện thoại di động cũ đã qua sử dụng màn hình cảm ứng, màu đỏ Oppo A12E số Imei 1 860811043708170, số Imei 2 860811043708162
- Tịch thu tiêu hủy: 01 cóng thủy tinh màu trắng, một đầu phình to tròn; 01 bật lửa màu trắng đen; 01 ống thủy tinh màu trắng ở giữa phình to có chiều dài khoảng 10cm; 01 ống thủy tinh màu trắng dài khoảng 15cm; 01 ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 10cm; 01 ống hút nhựa màu trắng dài khoảng 15cm; 01 cóng thủy tinh chiều dài khoảng 12cm; 0,020 gam các hạt tinh thể màu trắng (là chất ma túy còn lại sau giám định); 01 túi nilon màu trắng, một viền đỏ, kích thước (3x6)cm; 02 túi nilon màu trắng, một viền đỏ, kích thước tương đối bằng nhau khoảng (1x1,5)cm; 01 chai nhựa, loại chai nước ngọt, nhãn hiệu Number 1 cao khoảng 18cm, nắp màu vàng, đục 2 lỗ gắn ống hút nhựa màu vàng dài khoảng 10cm; 01 ống thủy tinh dạng cóng dài khoảng 15cm.
- Trả lại cho chị Lại Thị Thúy H2 01 Điện thoại màn hình cảm ứng nhãn hiệu Realme UI, kiểu máy : RMX 3910 có IME1 861880071417698; IME2 861880071417680.
(Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/05/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh T và Chi cục thi hành án Dân sự huyện Thạch Thành)
- Truy thu của bị cáo Vũ Đức T5 số tiền 600.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc Lê Thanh T1, Đào Minh T4, Nguyễn Văn T3, Vũ Đức T5 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Thạch Thành; - VKSND tỉnh Thanh Hoá; - Cơ quan CSĐT công an tỉnh Thanh Hóa; - Cơ quan THAHS công an tỉnh Thanh Hóa; - Trại tạm giam công an tỉnh Thanh Hóa; - Bị cáo; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Hải |