- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn X phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo; sửa Bản án số 62/2017/HSST ngày 27/10/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung về hình phạt đối với Bùi Văn X.
- Căn cứ chính? Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 18 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2018/HS-PT Ngày: 01/3/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Dương Xuân Tuấn
Các thẩm phán:
Bà Hoàng Lan Phương
Bà Lê Thị Hiền
-Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Kim Oanh - Thư ký Toà án
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Ông Lê Thanh Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 224/2017/TLPT-HS ngày 01/12/2017 đối với bị cáo Bùi Văn X; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2017/HSST ngày 27/10/2017 của Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá.
Bị cáo có kháng cáo:
Bùi Văn X - Sinh năm 1959, tại xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hoá; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ văn hoá: 2/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H và bà Hoàng Thị C (đều đã chết); có vợ là Vũ Thị Svà có 6 con. Tiền án, tiền sự: không
Nhân thân: Bản án số 18/2006/HSST ngày 26/7/2006 của Tòa án nhân dân huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình xử phạt bị cáo 48 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/5/2009, tiền án phí và tiền truy thu nộp xong ngày 30/3/2007, riêng khoản tiền bồi thường chưa thi hành và không có đơn yêu cầu.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam; có mặt tại phiên toà
Nguyên đơn dân sự không kháng cáo: Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hoá tỉnh Thanh Hóa (người đại diện theo pháp luật là ông Lê Xuân T - Chủ tịch UBND xã)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 h 30’ngày 15/5/2017, Bùi Văn X điều khiển xe máy Longcin Quicknewway, biển kiểm soát 29M4-6972 đi từ nhà ở thôn 5, xã H đến Đền Phủ S thuộc thôn 8, xã H để trộm cắp tài sản. Khi đi, X có mang theo 01 bao tải màu xanh. Đến nơi, X dựng xe máy ở sát gốc cây ngoài cổng rồi cầm bao tải đi bộ vào trước sân Đền Phủ S. Lúc này X quan sát thấy không có người trông coi Đền và cửa Đền đã khóa nên X nhặt một cục đá đập phá khóa cửa thứ ba bên phía Đông của Đền. Phá khóa xong, X vứt ổ khóa, thanh chốt và cục đá xuống ao. X đi vào cung đệ tam của Đền lấy trên bàn thờ 01 lư hương to bằng đồng và 02 cây đèn thắp nến bằng đồng, rồi mang ra ngoài cánh cửa phụ phía Tây của Đền cất giấu. Sau đó, X quay lại đi vào cung Đệ nhị lấy trên bàn thờ 01 lư hương nhỏ bằng đồng rồi vào cung Đệ nhất lấy trên bàn thờ 01 bát hương bằng đồng và 02 con hạc bằng đồng. X mang số tài sản đó ra cửa phụ cất giấu, lần lượt đổ tro trong các bát hương và lư hương ra ngoài, bỏ vào trong bao tải đã chuẩn bị từ trước rồi buộc lại. Riêng hai con hạc đồng do bao tải đã đầy nên X để ở bên ngoài cạnh bao tải. X đi lại gốc cây gần đó để lấy xe máy, định chở số tài sản trộm cắp về nhà thì bị ông Bùi Văn N là người trông coi Đền Phủ S phát hiện bắt quả tang. Sau đó, ông N gọi điện thoại thông báo cho chính quyền địa phương đến để cùng giải quyết vụ việc. Trong lúc chờ chính quyền đến giải quyết, có nhiều người dân kéo đến xem, bức xúc nên đã đốt chiếc xe máy của X và đánh X bị thương, phải đi viện.
Số tài sản bị cáo X trộm cắp bao gồm: 02 lư hương bằng đồng; 02 cây đèn thắp nến bằng đồng; 01 bát hương bằng đồng; 02 con hạc bằng đồng. Theo Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, số tài sản trên có giá trị là 27.500.000đ.
Do có hành vi nêu trên, tại Bản án số 62/2017/HSST ngày 27/10/2017 của Toà án nhân dân huyện H đã quyết định: Bùi Văn X phạm tội "Trộm cắp tài sản". Áp dụng Khoản 1 Điều 138; điểm p Khoản 1 Điều 46 và Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999. Xử phạt Bùi Văn X 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Ngoài ra án sơ thẩm còn xử lý tang vật, tuyên án phí và quyền kháng cáo.
Sau án sơ thẩm xử, ngày 10/11/2017, bị cáo Bùi Văn X có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên nhận thấy bị cáo X kháng cáo xin được hưởng án treo là không đủ điều kiện và không có có căn cứ như quy định của pháp luật nhưng hành vi phạm tội của bị cáo X thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 18, 52 của BLHS năm 1999 nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c Khoản 1 Điều 357 BLTTHS; giảm cho bị cáo từ 04-06 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình điều tra và xét xử ở cấp sơ thẩm, bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, về quyết định của người tiến hành tố tụng và của Cơ quan tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, của Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền và hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nhận định của bản án sơ thẩm, thể hiện: Chiều tối ngày 15/5/2017, Bùi Văn X lợi dụng lúc không có người trông coi Đền Phủ S, thuộc thôn 8, xã Hà Vinh, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa nên X đã đập phá khóa cửa Đền, đột nhập vào bên trong Đền, lén lút lấy 02 lư hương bằng đồng; 02 cây đèn thắp nến bằng đồng; 01 bát hương bằng đồng; 02 con hạc bằng đồng trị giá 27.500.000đ.
Hành vi nêu trên của Bùi Văn X phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 BLHS 1999 như cấp sơ thẩm đã truy tố và xét xử là có căn cứ. Tuy nhiên bị cáo X khi đưa những tài sản trộm cắp trên ra ngoài cửa phụ phía tây của Đền cất dấu, chưa kịp di chuyển nhũng tài sản trên ra khỏi khuôn viên của Đền Phủ S thì bị ông N trông coi Đền bắt quả tang người và tang vật, thu hồi lại đầy đủ số tài sản do X trộm cắp; nên hành vi cùa bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 18 BLHS 1999.
Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác và còn gây mất trật tự, trị an xã hội.
Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng sau khi ra tù được một thời gian, không chịu lo làm ăn lương thiện mà đến nay lại tiếp tục phạm tội. Tuy đã được xóa án tích nhưng thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo không tốt, nên không thể cho bị cáo hưởng án treo được mà chỉ có thể xem xét lại về mức hình phạt đối với bị cáo do hành vi phạm tội của bị cáo chưa đạt.
Bản án sơ thẩm đã xem xét đầy đủ về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiện hình sự đối với Bùi Văn X nhưng đánh giá chưa đúng tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, chưa xem xét đến việc bị cáo phạm tội chưa đạt nên quyết định hình phạt có phần nghiêm, chưa phù hợp với quy định tại Điều 52 BLHS 1999. Vì vậy cấp phúc thẩm có thể xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhưng vẫn buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù để giáo dục bị cáo và bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, không xem xét.
Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c Khoản 1 Điều 357 BLTTHS 2015;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo; sửa Bản án số 62/2017/HSST ngày 27/10/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung về hình phạt đối với Bùi Văn X.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm p Khoản 1 Điều 46; Điều 18, 33, 52 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Bùi Văn X 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Bị cáo X không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao; - TAND huyện Hà Trung; - VKSND Cấp cao; - VKSND tỉnh Thanh hóa; - VKSND huyện Hà Trung; - Công an huyện Hà Trung; - Cơ quan THA hình sự, dân sự; - bị cáo, lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà ( đã ký ) Dương Xuân Tuấn |