vanban.org

Bản án 31/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hưng Yên Tuyên án 12/06/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/06/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tăng Văn V. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 07/2018/HSST ngày 24/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Hưng Yên.

Tuyên bố: Bị cáo Tăng Văn V phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 20; Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "BẢN ÁN TĂNG VĂN V - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tăng Văn V. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 07/2018/HSST ngày 24/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Hưng Yên.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2018/HS-PT
Ngày: 12/6/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Biểu.

Các Thẩm phán:

Ông Trần Đình Hiền.

Bà Vũ Thị Kim Anh.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đông Hà - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Sáu - Kiểm sát viên.

Ngày 12/6/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 19/2018/TLPT-HS ngày 07/3/2018 đối với bị cáo Tăng Văn V, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 07/2018/HSST ngày 24/01/2018 của Toà án nhân dân huyện M, tỉnh Hưng Yên.

* Bị cáo có kháng cáo: Tăng Văn V, sinh năm 1975; nơi cư trú: thôn T, xã L, huyện G, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tăng Văn N (đã chết) và bà Phạm Thị X; vợ là chị Phạm Thị D, có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: ngày 31/7/2014 bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hải Dương xử phạt 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 tháng về tội Đánh bạc; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/7/2017, tạm giam từ ngày 07/7/2017. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hưng Yên, (có mặt).

Trong vụ án còn có các bị cáo: Lê Duy Đ, Đào Mai A (tên gọi khác: Ch), Trần Văn H, Vũ Đình C, Đặng Văn B, Vũ Văn X kháng cáo nhưng đã rút toàn bộ kháng cáo trước khi mở phiên tòa và 13 bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng nghị

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 30/6/2017, Tăng Văn C gọi điện thoại cho Lê Duy Đ hỏi chỗ đánh bạc, Đ gọi điện cho Trần Quang Q để hỏi chỗ đánh bạc. Q bảo Đ đến nơi ở của Q ở P, S, M, Hưng Yên. Sau đó Q gọi điện thoại cho Lê Xuân  để bảo  sẽ có người đến xưởng của  ở thôn P, xã S, huyện M, tỉnh Hưng Yên đánh bạc và trả  2.000.000đ.  đồng ý. Đ gọi điện hẹn gặp Tăng Văn C ở E để cùng đi đánh bạc.

Tối ngày 30/6/2017, Tăng Văn C gọi điện thoại rủ Đ, H, X, V, B, H1 đi đánh bạc. Tất cả đồng ý, Tăng Văn C thuê xe ô tô Ford Transit màu trắng, biển số 34B-010.42 do anh Nguyễn Văn S1 điều khiển đến để đón các đối tượng đi đánh bạc. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, anh S1 điều khiển xe ô tô đón Tăng Văn C, sau đó đón H1, Đ1, B, H, Đào Mai A, Tăng Ngọc A1, Lê Văn D1, Đinh Thị Y, Nguyễn Thị M1, Nguyễn Văn B1, Vũ Đình C, Vũ Đình C1, Vũ Khánh U, Vũ Khánh A, Vũ Khánh T1, Vũ Khánh S1, Vũ Đình N1. Khi đi đến E, huyện G1, tỉnh Hải Dương thì gặp xe ô tô nhãn hiệu Maxx Captivul chevelet màu đen biển số 34A-047.76 do Đ điều khiển. Đ dẫn đường đến xưởng của Â. Trên đường đi, Tăng Văn C nói “Ai có điện thoại thì bỏ ra để cất đi” để tránh phát hiện.

Khi đến nơi, Â mở cửa cho các con bạc vào đánh bạc, Â trải chiếu và bê hai chồng ghế nhựa ra để các con bạc ngồi. H1 cắt 04 quân bài từ vỏ bao thuốc lá vinataba. Tăng Văn C xóc cái cho tất cả các con bạc tham gia chơi. Đào Mai A là người giúp Tăng Văn C thanh toán tiền thắng thua. Những người tham gia đánh bạc gồm: X, V, Đ, Vũ Đình C, C1, B, A1, Y, Vũ Khánh A, S1, U, T1, Đ1, H, H1.

Luật chơi như sau: Người xóc cái cho 04 quân bài hình tròn vào đĩa sau đó úp bát lên và xóc đều. Có 2 cửa chẵn, lẻ cho người chơi đặt. Nếu mở bát có 03 quân bài cùng màu là về cửa lẻ, người đặt tiền cửa lẻ sẽ thắng và được số tiền bằng tiền đã đặt, người đặt cửa chẵn sẽ thua và mất số tiền đã đặt. Nếu mở bát có 02 hoặc 04 quân bài cùng màu là về cửa chẵn, người đặt cửa chẵn sẽ thắng và được số tiền đã đặt cửa, người đặt cửa lẻ sẽ thua và mất số tiền đã đặt. Sau khi xóc cái xong, bất kỳ ai có thể nhận làm cái và sẽ thanh toán tiền thắng thua với những người chơi.

Quá trình chơi, Nguyễn Thị M1 cho Đ vay tiền để chơi bạc. Sau khi đánh bạc được một lúc thì C1, U, Vũ Đình C, X, Đ1, A1, Đ, B, V, S1, Khánh A mỗi người bỏ ra 1.000.000đ, T1 bỏ ra 500.000đ tiền hồ để ở chiếu bạc, Tăng Văn C lấy 2.000.000đ trong số tiền trên để trả tiền xe. Số tiền còn lại Mai A cầm và để ở chiếu bạc mục đích đưa cho chủ nhà. Một lúc sau thì Trần Quang Q và Nguyễn Xuân T1 cũng đến tham gia đánh bạc cùng. Đến 00 giờ 30 ngày 01/7/2017 thì bị Công an huyện M phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ tại nơi đánh bạc gồm: 02 chiếu đôi bằng nhựa, 02 tấm thảm đỏ, số tiền 28.400.000đ, 01 bát sứ, 04 quân bài hình tròn có hai mặt khác nhau, 01 túi nilon bên trong có 02 bát sứ, 01 đĩa sứ, 14 điện thoại di động các loại; 18 ghế nhựa Duy Tân, 06 ghế nhựa loại ghế tựa, 01 kéo kim loại. Thu giữ bên cạnh chiếu bạc 01 túi giả da màu nâu bên trong có 03 điện thoại di động các loại. Kiểm tra thu giữ người của Đào Mai A số tiền 5.830.000đ; Vũ Đình C1 30.300.000đ, 01 điện thoại Iphone 6 gold; Nguyễn Văn S1 01 điện thoại Nokia 1280 màu đen, 01 ví giả da, 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford Transit biển số 34B- 010.42; Trần Quang Q số tiền 51.690.000đ, 01 túi vải dứa, 01 điện thoại Nokia 8800 màu xám bạc, 01 ô tô nhãn hiệu Mazda biển số 89A-083.40, 01 điện thoại Iphone 7 màu đen, 01 điện thoại Iphone 6 Plus màu vàng; Vũ Khánh U số tiền 950.000đ; Ngô Văn B1 01 điện thoại Nokia 8800 e màu đen; Nguyễn Thị M1 01 túi xách màu xanh bên trong có 1.000.000đ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Philip màu đen; Lê Duy Đ 01 ví màu nâu bên trong có 8.500.000đ, 01 xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet Captiva màu đen biển số 34A-047.76; Tăng Ngọc A1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng; Đinh Thị Y số tiền 200.000đ; Đặng Văn B 01 ví giả da màu đen, số tiền 13.400.000đ, 01 điện thoại Nokia 6700; Vũ Đình C số tiền 136.500.000đ, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu vàng; Tăng Văn C số tiền 75.740.000đ; Trần Văn Đ1 21.100.000đ; Tăng Văn V 18.800.000đ, 01 điện thoại Nokia 208 màu đen; Lê Xuân  01 điện thoại Iphone 6 plus gold; Trần Văn H 01 điện thoại Nokia C2-01 màu đen; Nguyễn Văn H1 01 điện thoại Nokia màu đen, 01 điện thoại Iphone5s màu trắng; Nguyễn Xuân T1 số tiền 11.600.000đ, 01 điện thoại Nokia 8800 màu vàng; Vũ Khánh S1 số tiền 2.140.000đ; Vũ Khánh A số tiền 50.000.000đ; Vũ Văn X số tiền 23.150.000đ; Vũ Khánh T1 số tiền 38.000.000đ, 01 điện thoại Iphone màu trắng bạc; Lê Văn D1 01 điện thoại Sam sung màu đồng, 01 ví giả da màu nâu bên trong có 2.600.000đ.

Cơ quan điều tra khám xét nơi ở của  thu giữ 01 ví giả da màu nâu, chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe, 01 giấy chứng minh tập huấn nghiệp vụ, số tiền 8.690.000đ, thu giữ tại nơi đánh bạc 01 quyển sổ màu xanh.

Quá trình điều tra xác định toàn bộ số tiền 528.590.000 đồng đã bị thu giữ thì có 353.920.000 đồng các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc (trong đó thu tại chiếu bạc 28.400.000 đồng, Tăng Văn C 75.740.000 đồng, X 23.150.000 đồng, B 13.400.000 đồng, Q 34.640.000 đồng, T1 11.600.000 đồng, Vũ Đình C 76.500.000 đồng, C1 14.300.000 đồng, S1 2.140.000 đồng, Khánh A 50.000.000 đồng, U 950.000 đồng, T1 2.000.000 đồng, Đ1 21.100.000 đồng). Ngoài ra còn có một số vật chứng khác gồm bát, đĩa, chiếu, thảm, kéo, ghế nhựa, quân bài, một số điện thoại thu của Tăng Văn C, X, H1, B, A1, H, Đ, Q, Â, T1, Vũ Đình C, C1, Đ1, V đều là các vật chứng mà các bị can đã sử dụng vào việc phạm tội.

Một số tài sản không liên quan đến việc phạm tội. Cơ quan điều tra Công an huyện M đã trả lại cho các bị cáo gồm: H1 01 điện thoại Nokia màu đen, B 01 ví giả da màu nâu, M1 01 điện thoại Philip màu đen và 01 túi xách màu xanh, Đ 01 ví màu nâu, Q 01 điện thoại Iphone 7 màu đen, 01 điện thoại Iphone 6 plus gold; Â 01 ví giả da màu nâu, 01 chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe, 01 giấy chứng minh tập huấn nghiệp vụ; T1 01 điện thoại Iphone 7 plus gold; T1 01 điện thoại Iphone 5 trắng bạc; A1 01 điện thoại Iphone 6 có sim. Các bị cáo đã nhận lại tài sản, không có đề nghị gì.

Số tiền 174.670.000 đồng không liên quan đến việc đánh bạc gồm: V có 18.800.000 đồng, Mai A có 5.830.000 đồng, M1 1.000.000 đồng, Y 200.000 đồng, Đ 8.500.000 đồng, Q 17.050.000 đồng, Â 8.690.000 đồng, Vũ Đình C 60.000.000 đồng, C1 16.000.000 đồng, T1 36.000.000 đồng và anh D1 2.600.000 đồng, 01 điện thoại Iphone 6s của Đào Mai A, 01 điện thoại Iphone 5s của Đ 01 điện thoại Iphone 7 plus của Y, 01 điện thoại Nokia 208 của V. Các bị cáo V, Mai A, M1, Y, Đ1, Đ, Q , Â, Vũ Đình C, C1, T1, anh D1 đề nghị nhận lại số tiền và điện thoại trên.

Đối với 01 điện thoại Nokia 3310; 01 điện thoại Iphone 7 lại A1660, 01 điện thoại Iphone 6 không xác định được chủ sở hữu.

Đối với xe ô tô nhãn hiệu Chevrolet loại Captiva màu đen biển số 34A-04776 và xe ô tô nhãn hiệu Mazda biển số 89A-083.40 mà Đ và Q sử dụng làm phương tiện đi đánh bạc là tài sản hợp pháp của anh Hoàng Đình K1 và anh Trần Huy Q1. Cơ quan điều tra đã trả lại anh K1, anh Q1.

Anh Nguyễn Văn S1 không biết việc Tăng Văn C thuê chở các bị cáo đi đánh bạc nên không xử lý. Cơ quan điều tra đã trả lại anh S1 ô tô nhãn hiệu Ford Transit biển số 34B-010.42, 01 điện thoại Nokia Lumia 730 màu đen, 01 điện thoại Nokia 1280 màu đen, 01 ví giả da màu đen. Anh S1 đã nhận lại các tài sản trên.

Đối với anh Lê Văn D1 có mặt trong đám bạc nhưng không tham gia đánh bạc nên không có căn cứ xử lý. Anh D1 đã nhận lại 01 điện thoại Nokia 230 màu đen, 01 điện thoại Samsung galaxy A7 và 01 ví giả da màu nâu.

Đối với anh Nguyễn Văn B1 không có mặt tại địa phương nên tách ra giải quyết sau.

Quá trình điều tra có đủ căn cứ xác định Tăng Văn C rủ H, H1, Đ1, B đi đánh bạc.

Đối với Tăng Văn C, quá trình điều tra gia đình cung cấp bị cáo có dấu hiệu tâm thần. Ngày 23/11/2017 cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định về tâm thần kinh đối với Tăng Văn C nhưng chưa có kết quả nên ngày 24/11/2017 cơ quan điều tra đã tách hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc của Tăng Văn C thành vụ án khác để chờ kết quả giám định sẽ giải quyết theo quy định.

Bản án số 07/2018/HSST ngày 24/01/2018, Tòa án nhân dân huyện M quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Tăng Văn V phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 20; Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xử phạt: Bị cáo Tăng Văn V 02 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/7/2017.

Ngoài ra bản án còn quyết định về tội danh, hình phạt của các bị cáo khác, về hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/01/2018 bị cáo Tăng Văn V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 30/01/2018 bị cáo Vũ Đình C kháng cáo xin hưởng án treo; ngày 05/02/2018 các bị cáo Lê Duy Đ, Đào Mai A kháng cáo xin hưởng án treo, bị cáo Trần Văn H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; ngày 06/02/2018 bị cáo Đặng Văn B kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và miễn hình phạt bổ sung, bị cáo Vũ Văn X kháng cáo xin hưởng án treo. Các ngày 03, 04 và 14/5/2018 các bị cáo Lê Duy Đ, Đào Mai A, Trần Văn H, Đặng Văn B, Vũ Văn X rút đơn kháng cáo. Ngày 06/6/2018 bị cáo Vũ Đình C rút đơn kháng cáo. Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên đã có Thông báo về việc các bị cáo Lê Duy Đ, Đào Mai A, Trần Văn H, Đặng Văn B, Vũ Văn X, Vũ Đình C rút kháng cáo gửi Tòa án cấp sơ thẩm để làm thủ tục thi hành án.

Tại phiên toà phúc thẩm: Bị cáo Tăng Văn V giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và bổ sung kháng cáo xin hưởng án treo; bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và xác định bản án sơ thẩm quy kết bị cáo phạm tội Đánh bạc là đúng người, đúng tội, không oan và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên, có quan điểm: Sau khi phân tích, đánh giá nguyên nhân, mục đích, hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tăng Văn V, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đối với các bị cáo Lê Duy Đ, Đào Mai A, Trần Văn H, Đặng Văn B, Vũ Văn X và Vũ Đình C đã rút đơn kháng cáo và Tòa án cấp phúc thẩm đã ra Thông báo về việc rút kháng cáo của các bị cáo Đ, A, H, B, X, C theo quy định của pháp luật nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đối với các bị cáo Lê Duy Đ, Đào Mai A, Trần Văn H, Đặng Văn B, Vũ Văn X và Vũ Đình C đã rút đơn kháng cáo, Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên đã có thông báo về việc rút đơn kháng cáo của các bị cáo gửi Tòa án cấp sơ thẩm làm thủ tục thi hành án theo quy định của pháp luật nên tại phiên tòa Hội đồng xét xử không xem xét.

Lời khai nhận tội của bị cáo Tăng Văn V tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án, đó là biên bản bắt người phạm tội quả tang, các vật chứng thu giữ tại nơi đánh bạc, phù hợp với lời khai của người làm chứng, đã có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ 22 giờ ngày 30/6/2017 đến 00 giờ 30 phút ngày 01/7/2017, Tăng Văn C đã thực hiện hành vi rủ rê, tụ tập và thuê xe ô tô đón các con bạc đến nhà xưởng của Lê Xuân  ở thôn P, xã S, huyện M, tỉnh Hưng Yên rồi cùng Tăng Văn V và một số đối tượng khác thực hiện hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức xóc đĩa với số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 353.920.000 đồng. Bởi hành vi nêu trên, bị cáo Tăng Văn V cùng các bị cáo khác đã bị Tòa án nhân dân huyện M xét xử về tội Đánh bạc theo điểm b khoản 2 Điều 248 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Tăng Văn V, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Khi quyết định hình phạt, Tòa án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; bị cáo Tăng Văn V phạm tội nghiêm trọng và có nhân thân xấu, ngày 31/7/2014 bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hải Dương xử phạt 10 tháng tù cho hưởng án treo về tội Đánh bạc nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo, tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội cùng loại, chứng tỏ bị cáo là người khó cải tạo, giáo dục và coi thường pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Tăng Văn V 02 năm 09 tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

Quan điểm của của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa có căn cứ chấp nhận.

Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Toà án cấp phúc thẩm không xét.

Bị cáo Tăng Văn V kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356; Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tăng Văn V. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 07/2018/HSST ngày 24/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Hưng Yên.

Tuyên bố: Bị cáo Tăng Văn V phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 20; Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999.

Xử phạt: Tăng Văn V 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/7/2017.

2. Về án phí: Bị cáo Tăng Văn V phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ