- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? *Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 31/2017/HSST Ngày: 26/9/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HT
- Với thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Tám
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Nam và bà Trần Thị Ngọ
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang – Thư
ký Tòa án nhân dân huyện HT.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HT tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Xuân Cường - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở TAND huyện HT xét xử sơ thẩm
công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 34/2017/HSST ngày 8/9/2017 đối với bị cáo:
LÊ VĂN Q, sinh năm 1993 tại TV
HKTT: Ấp LH2, xã HM, huyện CT, tỉnh TV;
Nghề nghiệp: Công nhân;
Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam;
Cha: Lê Văn S (chết);
Mẹ: Lê Thị T, sinh năm: 1965; HKTT: Ấp LH2, xã HM, huyện CT, tỉnh TV;
Gia đình có 06 chị em, bị cáo là con thứ tư
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 04/7/2017 hiện đang còn bị tạm giam tại Nhà tạm
giữ Công an huyện HT. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1969; HKTT: KP2, TM, HT, BT
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09h30 ngày 04/7/2017 trong lúc uống nước tại quán cà phê 255 thuộc
khu phố 3, thị trấn TM, HT, Lê Văn Q phát hiện xe mô tô biển số 86F1-3126 của ông Nguyễn Văn C đang dựng trước quán không người trông coi và trên xe có sẵn chìa khóa nên nảy sinh ý định trộm cắp. Thực hiện ý định phạm tội, Q tới dắt xe sau đó đạp nổ máy theo quốc lộ 1A đi ra hướng PT được một đọan thì xe tắt máy nên Q dẫn xe vào cây xăng gần đó để đổ xăng. Sau khi đổ xăng, Q tiếp tục đạp nổ máy xe nhưng không được nên Q dắt xe vào khoảng đất trống bên cây xăng ngồi nghỉ. Ngay lúc đó ông C cùng con trai Nguyễn Thành N đi tìm xe phát hiện bị cáo cùng chiếc xe nên đã điện báo chính quyền tới bắt giữ bị cáo cùng vật chứng.
Vật chứng thu giữ gồm có: 01 xe mô tô biển số 86F1-3126 (Màu đen hiệu
Honda-WIN)
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận tòan bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo
trạng của VKS đã truy tố và thống nhất với các điều khoản mà VKS viện dẫn trong Cáo trạng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐGTS ngày 12/7/2017 của
HĐĐGTS trong tố tụng hình sự huyện HT kết luận chiếc xe mô tô biển số 86F1-3126 của ông C có giá trị là 7.015.000đ đã được thu hồi trả lại cho bị hại, ông C không yêu cầu gì thêm.
Tại Cáo trạng số 33/QĐ/KSĐT/VKS-HT ngày 07/9/2017 của VKSND huyện
HT đã truy tố bị cáo Lê Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 138 BLHS.
Tại phiên tòa, đại diện VKS giữ quyền công tố luận tội và tranh luận đã phân
tích hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Khoảng 09h30 ngày 04/7/2017 Lê Văn Q đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô của anh Nguyễn Văn C trị giá 7.015.000đ, do đó VKS giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo.
Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm
trọng, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi, qua đó VKS đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm h, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Lê Văn Q từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Tại phiên tòa, bị cáo trình bày lời nói sau cùng, qua đó, bị cáo đã nhận tội như
cáo trạng truy tố và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét
xử:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an huyện HT, Điều tra viên,
Viện kiểm sát nhân dân huyện HT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã
thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, không có người nào có ý kiến, hoặc
khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố
tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến
hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lê Văn Q là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, khoảng
09h30 phút ngày 04/7/2017 Lê Văn Q đã có hành vi lén lút trộm cắp của ông Nguyễn
Văn C 01 xe mô tô trị giá 7.015.000đ. Hành vi lén lút trộm cắp tài sản có giá trị như đã
nêu trên đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy
định tại khoản 1 Điều 138 BLHS.
Việc Viện kiểm sát nhân dân huyện HT căn cứ vào hành vi lén lút vào quán
cà phê 255 trộm xe mô tô trị giá 7.015.000đ để truy tố bị cáo Lê Văn Q về tội “Trộm
cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS, đây là chứng cứ buộc tội đúng người, đúng
tội nên HĐXX chấp nhận.
Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội đã xâm hại đến quyền sở
hữu tài sản công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó không chỉ vi phạm pháp luật
mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương vì vậy HĐXX
C xử lý nghiêm để góp phần răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm
trọng; Tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, p Khoản 1 Điều 46 BLHS nên HĐXX
C giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Với vật chứng vụ án xe mô tô biển số 86F1-3126 Cơ quan điều tra đã trả lại
cho người bị hại nên HĐXX không xem xét.
Về dân sự, bị hại không yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.
Về án phí, bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
*Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”
*Áp dụng: Khoản 1 Điều 138, điểm h, p Khoản 1 Điều 46 BLHS.
Phạt: Lê Văn Q 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt
04/7/2017.
Áp dụng: Điều 99 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016, bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
Án xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày
kể từ ngày tuyên án. Bị hại biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh; - VKSND, CA huyện HT; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ; - Chi cục THADS HT; - UBND địa phương bị cáo cư trú. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đăng Tám |