- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn H - phạm tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (điều 12…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của đại diện bị hại Nguyễn Tấn L là bà Trần Thị Tuyết M.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 307/2020/HS-PT Ngày: 09 - 6 -2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Minh Thịnh
Các thẩm phán: Ông Lê Thành Văn
Bà Trần Thị Thu Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hồ Sỹ Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2020, Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 14/2020/TLPT-HS ngày 03 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo Phạm Văn H.
Do có kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hai, kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2019/HS-ST ngày 25/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Bị cáo bị kháng cáo:
Họ và tên: Phạm Văn H (tên gọi khác: Út Bò), sinh năm: 1978; Nơi cư trú: tỉnh Long An; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Thợ điện; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không. Con ông Phạm Tấn Q và bà Phạm Thị V; Vợ Nguyễn Thị Tuyết D và có 02 con chung, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh 2016. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/5/2019 đến ngày 16/9/2019 được tại ngoại (có mặt).
Bị hại: Nguyễn Tấn L (đã chết)
Đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Trần Thị Tuyết M, sinh năm 1966. Có mặt
2. Nguyễn Văn C, sinh năm 1962. Có mặt
Cùng cư trú: Long An.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đại diện bị hại:
Luật sư Phạm Chí T, Công ty Luật TNHH MTV Thuận Hưng, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Long An. Có mặt.
2. Phạm Văn D, sinh năm 1961; Nơi cư trú: tỉnh Long An. Có mặt
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Tấn Đ: Luật sư Nguyễn Thị Xuân K, Công ty Luật TNHH MTV Thuận Hưng, Đoàn Luật sư thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
Người làm chứng:
1. Đặng Văn C, sinh năm 1952; Nơi cư trú: tỉnh Long An. Vắng mặt.
2. Nguyễn Thị Tuyết D, sinh năm 1982; Nơi cư trú: tỉnh Long An. Có mặt.
3. Trương Tấn S, sinh năm 1998; Nơi cư trú:, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 02/2018, Phạm Văn H có vay tiền của người chị Nguyễn Tấn Đ, do Đ bảo lãnh. Sau khi vay Hoàng thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đúng hợp đồng, Đ đến nhà Hoàng để đòi nợ nhiều lần nhưng Hoàng không có khả năng trả nợ.
Khoảng 18 giờ 00 ngày 19/5/2019, sau khi đã có uống rượu, trên đường về Nguyễn Tấn Đ mua một bình nước acid loãng (02 lít) đựng trong võ bình nước rữa chén Mỹ Hảo, Đ rủ Nguyễn Tấn L và Trương Tấn S đến nhà Hoàng đòi nợ. Khi đi, Sỹ điều khiển xe mô tô chở Đ, L chạy một mình, khi đến gần đến UBND xã Tân Kim, Đ kêu Sỹ ghé tiệm tạp hóa mua 01 đôi găng tay bằng bao cao su màu cam, cả 03 khi đến nhà Hoàng lúc 18 giờ 30, chỉ có vợ Hoàng là Nguyễn Thị Tuyết D cùng 02 con nhỏ và ông Đặng Văn C ở nhà. Đ lấy bình acid đổ ra một ít nhằm đe dọa chị Dung để đòi tiền, Đ kêu Dung gọi điện kêu Hoàng về nhưng Dung không có điện. Khoảng 10 phút sau, Hoàng chạy xe mô tô về đến nhà, rồi đi trở ra chỗ băng đá trước cửa nhà gặp Đ, Đ và Hoàng nói chuyện về việc Hoàng thiếu nợ tiền không trả, Hoàng nói với Đ vào nhà nói chuyện, Hoàng vào nhà thì chị Dung nói với Hoàng tụi nó có đem theo acid, Hoàng không nói gì mà đến đẩy xe mô tô để trống đường đi lại. Lúc này, Đ và L đi theo Hoàng vào nhà, Đ dùng tay phải cầm bình acid chưa mở nắp, chắp phía sau lưng, tay trái đẩy vào cổ Hoàng, L dùng hai tay đẩy vào bụng Hoàng tấn Hoàng vào sát vách nhà, trong tư thế bị Đ và L tấn công đẩy sát vách nhà, Hoàng phát hiện có con dao Thái Lan dài 33cm, cán nhựa màu đen dài 11,5cm, lưỡi bằng kim loại trắng, mũi nhọn dài 21,5cm để trên tấm ván, ngay chỗ Hoàng đứng, Hoàng dùng tay trái lấy con dao, chuyền qua tay phải và đâm vào hông bên phải của Đ một cái và tiếp tục đâm tiếp một cái vào ngực bên trái của L, Sau khi bị đâm Đ bỏ bình acid xuống nền nhà cùng L chạy ra sân trước cửa nhà thì L bị té ngã, Hoàng chạy ra sân vứt bỏ con dao bên hông nhà, Đ và Sỹ đưa L đi cấp cứu nhưng L đã tử vong, Hoàng sau khi gây án đi đến Công an xã Tân Kim đầu thú.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 53/TT.NNK ngày 28/5/2019 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế Long An kết luận nguyên nhân tử vong của Nguyễn Tấn L như sau:
Dấu hiệu chính qua giám định: 01 vết thương hở da thấu ngực, kích thước dài 05cm, hở miệng 02cm, đường chéo ở 1/3 giữa xương ức lệch (T), đầu nhọn phía dưới bên (P), đầu tù ở trên bên (T), hướng từ dưới lên, trái qua phải. Bầm tụ máu dưới da và trong cơ ngực tương ứng vết thương hở da. Tại vùng 1/3 giữa xương ức này vết thương làm cắt đứt phần xương ức kích thước dài 05cm. Khoang ngực (P) chứa nhiều máu khoảng 1.500ml máu, nhiều hơn bên (T). Bầm tụ máu dập rách cuống phổi (P). Rách màng ngoài tim, thủng tim kích thước dài 03cm, thấu từ tâm thất (P) xuyên qua tiểu nhỉ (P) và cuống phổi (P). Kết luận nguyên nhân chết: Do vết thương thấu ngực, thủng tim.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 119 ngày 23/7/2019 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế Long An kết luận thương tích của Nguyễn Tấn Đ như sau:
Dấu hiệu chính qua giám định: 01 sẹo vết thương hông phải kích thước 04cm x 0,4cm, sẹo lành, sẹo xơ cứng, lồi. Kết luận: Tỷ lệ tổn thương do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 06% .
Tại Bản kết luận giám định bổ sung số 2666/C09B ngày 21/6/2019 của Viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận chất lỏng màu vàng chứa trong bình nhựa màu vàng hiệu Mỹ Hảo có thành phần acid Sulfuric (H2SO4).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2019/HS-ST ngày 25/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã tuyên xử:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”.
Áp dụng khoản 1 Điều 126; điểm b, s, i khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày bị cáo thi hành án nhưng được khấu trừ thời hạn bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/5/2019 đến ngày 16/9/2019.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo không kháng cáo, ngày 05/12/2019 đại diện hợp pháp của bị hại L là bà Trần Thị Tuyết M có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh hủy toàn bộ bản án sơ thẩm vì hành vi của bị cáo Hoàng là phạm tội “cố ý gây thương tích” và “giết người” chứ không phải là “giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng”. Ngày 12/12/2019 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Tấn Đ có đơn kháng cáo với nội dung việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định Đ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng mà phải xác định là bị hại vì bị cáo đã gây thương tích cho Đ là 06%.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên nội dung kháng cáo như nêu trên.
Bị cáo Phạm Văn H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm quy kết. Bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét không chấp nhận kháng cáo của đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm phát biểu: Căn cứ vào các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thì có đủ cơ sở để kết luận khi bị cáo bị Đ và L dùng tay chẹn cổ và bụng đè bị cáo vào sát vách nhà thì bị cáo không có lối thoát nên khi nhìn thấy dao thì bị cáo đã lấy dao đâm vào hông của Đ gây thương tích 06%, đâm vào ngực L khiến L tử vong. Hành vi của bị cáo Hoàng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” như án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ nên kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại và kháng cáo của anh Đ đề nghị hủy án sơ thẩm để xét xử bị cáo về tội “giết người” và “Cố ý gây thương tích” là không có căn cứ.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường theo yêu cầu của đại diện bị hại tại phiên tòa sơ thẩm, do đó đại diện bị hại kháng cáo yêu cầu tăng mức bồi thường nhưng không cung cấp được chứng cứ mới.
Hành vi của bị cáo gây thương tích cho Đ 6% không phải là tội phạm mà là hành vi phòng vệ chính đáng. Tại phiên tòa sơ thẩm thì bị cáo đã đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh Đ vì vậy không có căn cứ để tăng mức bồi thường.
Từ những căn cứ trên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của đại diện bị hại và anh Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư Thắng trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng hành vi của bị cáo đâm anh Đ gây thương tích 6% là phòng vệ chính đáng là không chính xác mà trong trường hợp này do bị cáo phòng vệ quá sớm. Đồng thời sau khi đâm anh Đ bị cáo tiếp tục đâm anh L thì hành vi này của bị cáo là hành vi giết người.
Đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
Luật sư Khiêm trình bày: Cấp sơ thẩm điều tra chưa khách quan có vi phạm tố tụng, đồng thời cấp sơ thẩm xác định Đ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng vì bị cáo đã đâm gây thương tích cho Đ 6%, bị cáo dùng hung khí nguy hiểm nên có căn cứ xét xử bị cáo về tội Cố ý gây thương tích.
Đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để điều tra lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đúng về hình thức, nội dung và được nộp trong hạn luật định nên kháng cáo được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm:
Xuất phát từ việc bị cáo Phạm Văn H nợ tiền không trả nên vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 19/5/2019 Nguyễn Tấn Đ và Nguyễn Tấn L mang theo acid đựng trong can nhựa mỹ hảo để nhằm mục đích đe dọa Hoàng để đòi tiền. Đ dùng tay phải cầm bình acid chưa mở nắp, chắp phía sau lưng, tay trái đẩy vào cổ Hoàng, L dùng hai tay đẩy vào bụng Hoàng tấn Hoàng vào sát vách nhà, trong tư thế bị Đ và L tấn công đẩy sát vách nhà, Hoàng phát hiện có con dao Thái Lan dài 33cm, cán nhựa màu đen dài 11,5cm, lưỡi bằng kim loại trắng, mũi nhọn dài 21,5cm để trên tấm ván, ngay chỗ Hoàng đứng, Hoàng dùng tay trái lấy con dao, chuyền qua tay phải và đâm vào hông bên phải của Đ một cái và tiếp tục đâm một cái vào ngực bên trái của L. Hậu quả làm L tử vong, Đ bị thương tích 06%.
Đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Tấn Đ kháng cáo cho rằng phải xét xử bị cáo về tội giết người và cố ý gây thương tích: Xét nội dung kháng cáo này là có căn cứ để chấp nhận bởi lẽ; Mặc dù Nguyễn Tấn Đ và Nguyễn Tấn L có hành vi sai trái, vi phạm pháp luật là đến nhà bị cáo Phạm Văn H mang theo can acid để đe dọa Hoàng và Đ dùng tay phải cầm bình acid chưa mở nắp, chắp phía sau lưng, tay trái đẩy vào cổ Hoàng, L dùng hai tay đẩy vào bụng Hoàng, tấn Hoàng vào sát vách nhà nhưng hành vi của Đ và L chưa cấu thành tội phạm, hành vi của L và Đ chỉ dừng lại ở việc đè, đẩy Hoàng sát vào vách nhà mà chưa có hành vi gì đe dọa sẽ xâm phạm đến tính mạng của Hoàng, (can acid vẫn đậy nắp được Đ giấu sau lưng) do đó việc bị cáo Hoàng dùng dao đâm Đ và Hoàng là chưa cần thiết, trong trường hợp bị cáo Hoàng hoàn toàn có thể vùng chạy thoát khỏi hành vi xô đẩy của Đ và L vì chính lời khai của bị cáo Hoàng tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo xác định khi bị Đ và L dùng tay đè cổ và bụng ép vào vách thì bị cáo vẫn có thể dùng tay trái với con dao để trên tấm ván rồi truyền qua tay phải hướng mũi dao lên trên đâm vào bụng Đ, rồi rút ra đâm tiếp vào ngực L, như vậy rõ ràng bị cáo hoàn toàn có khả năng vũng vẫy thoát ra khỏi sự đè, ép của Đ và L. Bị cáo cho rằng lúc đó hoảng loạn nên không có khả năng thoát ra khỏi sự đè, đẩy của Đ và L là không có căn cứ. Đồng thời theo lời khai của bị cáo Hoàng trong quá trình điều tra khai rằng việc bị cáo đâm Đ và L là do bực tức khi bị Đ và L xô đẩy vào vách nhà. Bị cáo Hoàng đã dùng hung khí nguy hiểm là dao Thái Lan dài 33cm, cán nhựa màu đen dài 11,5cm, lưỡi bằng kim loại trắng, mũi nhọn dài 21,5cm đâm vào hông của Đ rồi rút dao ra đâm tiếp vào ngực của L. Hành vi này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “giết người” theo Điều 123 và tội “Cố ý gây thương tích” theo Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Giết người do vượt qua giới hạn phòng vệ chính đáng” theo khoản 1 Điều 126 Bộ luật hình sự năm 2015 là không đúng với tính chất hành vi của bị cáo và bỏ lọt hành vi tội phạm.
Đồng thời khi tiến hành điều tra lại, Cơ quan Cảnh sát điều tra cần làm rõ tư thế đâm của bị cáo Hoàng vì như án sơ thẩm mô tả; khi bị cáo bị Đ chèn tay vào cổ, L dùng hai tay đè vào bụng bị cáo thì bị cáo dùng tay trái với con dao trên tấm ván gần bị cáo rồi chuyền dao sang tay phải và đâm vào bụng Đ. Với tư thế đâm này thì phải đâm vào sườn trái của Đ nhưng kết luận giám định lại thể hiện vết thương của Đ là ở hông bên phải, là có sự mâu thuẫn, vấn đề này cần điều tra làm rõ.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của đại diện bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan hủy Toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ về cấp sơ thẩm để điều tra, truy tố, xét xử lại đúng theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm đề nghị không chấp nhận kháng cáo của đại diện bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Tấn Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 1 Điều 358 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Chấp nhận kháng cáo của đại diện bị hại Nguyễn Tấn L là bà Trần Thị Tuyết M.
Chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Tấn Đ.
Hủy toàn bộ Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2019/HS-ST ngày 25/11/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An để tiến hành điều tra, truy tố, xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo Phạm Văn H không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thành Văn
Trần Thị Thu Thủy
Hoàng Minh Thịnh
| Nơi nhận: - TANDTC; - VKSNDCC; - VKSND tỉnh Long An; - Trại tạm giam CA tỉnh Long An; - TAND tỉnh Long An; - VKSND tỉnh Long An; - Cục THADS tỉnh Long An; - Bị cáo, đại diện bị hại; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Minh Thịnh |