vanban.org

Bản án 30/2026/HSST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội phạm và hình phạt:

* Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Y Rô B Niê, Y W Niê , Y Na S Mlô, phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. * Về hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Y Na S Mlo và đồng phạm - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Về tội phạm và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7- ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2026/HSST
Ngày 10/6/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hải

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Y Yao Bkrông

2. Ông Nguyễn Đăng khoa

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Phạm Xuân Quyết – Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Nguyệt– Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7- Đắk Lắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2026/TLST - HS ngày 07/5/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2026/QĐXXST-HS ngày 28/5/2026 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Y W Niê, sinh ngày 04/9/2001, tại tỉnh Đắk Lắk. Nơi đăng ký thường trú: Buôn Mrông C, xã E, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở hiện nay: Thôn F, xã E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Ê Đê; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Y Blem M (đã chết) và bà: H Y Niê; Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ 3; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/12/2025 đến ngày 23/12/2025 chuyển sang biện pháp ngăn chặn Tạm giam. Bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam E, Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Y Rô B Niê, sinh ngày 14/3/2003, tại tỉnh Đắk Lắk. Nơi đăng ký thường trú: Buôn Mrông C, xã E, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở hiện nay: Thôn F, xã E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Ê Đê; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Y Liơt N3 và bà: H Mrơng N4; Có vợ: H Yuin Byă, và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2022 nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/12/2025 đến ngày 23/12/2025 chuyển sang biện pháp ngăn chặn Tạm giam. Bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam E, Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đ; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Y Na S Mlô, sinh ngày 14/12/2007, tại tỉnh Đắk Lắk. Nơi đăng ký thường trú: Buôn Mrông C, xã E, tỉnh Đắk Lắk; Chổ ở hiện nay: Thôn F, xã E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Ê Đê; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Y Đỗ M2 và bà H Bjon M3; Bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ nhất. Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/12/2025 đến ngày 23/12/2025 chuyển sang biện pháp ngăn chặn Tạm giam. Bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam E, Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà H T Krông, sinh ngày 12/9/2009. Nơi cư trú: Buôn M, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Bà H T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Đại diện hợp pháp cho bà H T Krông: Bà H Băm Krông sinh năm 1975 (Mẹ ruột bà H T Krông). Nơi cư trú: Buôn M, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

+ Bà Bà H B L Niê, sinh ngày 13/5/2008. Nơi cư trú: Buôn M, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Bà H Bĩk L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Đại diện hợp pháp cho bà Bà H B L Niê: Bà H Y Niê, sinh năm 1987 (Mẹ ruột bà Bà H B L Niê). Nơi cư trú: Buôn M, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

+ Bà H Y Niê, sinh năm 1975. Nơi cư trú: Buôn M, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Bà H Y có mặt tại phiên tòa.

+ Ông Vũ Văn H1, sinh năm 1979. Nơi cư trú: Số H V, phường T, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

+ Ông Khúc Ngọc T1, sinh năm 1963. Nơi cư trú: 1 P, phường T, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

+ Bà H Mrơng N4, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Thôn F, xã E, tỉnh Đắk Lắk. Bà H M4 có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 13/12/2025, Y Na S Mlô đi bộ, Y W Niê điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 47N9 – 9870, và H T Krông điều khiển xe đạp điện chở H Bĩk Li N5 đến nhà Y Rô B Niê chơi. Do đã quen biết nhau từ trước và đều là những người sử dụng ma túy đá nên Y Na S, Y W, Y Rô B, H T và H Bĩk L Niê cùng nhau góp tiền mua ma túy đá để cùng nhau sử dụng. Y Na S, Y W và Y Rô B mỗi người góp 100.000đồng, H Bĩk L và H T góp mỗi người 50.000đồng, tổng số tiền góp được là 400.000đồng, tất cả cùng đưa cho Y W đi mua ma túy đá.

Y W điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 47N9 – 9870 đến khu vực thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk gặp một người đàn ông khoảng 60 tuổi (không rõ nhân thân lai lịch). Y W đưa cho người đàn ông 400.000đồng và người này đưa cho Y W 01 ống hút nhựa màu trắng bịt kín hai đầu, bên trong có chứa ma túy đá, Y W mang số ma túy vừa mua về lại nhà Y Rô B. Khi về đến nơi, Y W bỏ ma túy xuống chiếu đã được trải sẵn dưới nền nhà, Y Rô B lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy do Y W mua và làm sẵn, gồm: 01 chai nhựa cứng màu trong suốt, hình trụ tròn, trên nắp đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn với 01 ống thủy tinh một đầu ống bị bẻ cong, thổi hình cầu (gọi là “Coóng”) và 01 lỗ gắn với 01 ống hút nhựa màu trắng, Y Rô B dùng kéo (do H T mang theo) cắt ống nhựa, đổ ma túy vào trong “Coóng” và dùng bật lửa nấu chín ma túy từ dạng rắn chuyển sang dạng khí để hút. Y Rô B hút trước, tiếp đến là Y W, Y Na S, H Bĩk L Niê và H T từng người tự đốt và hút. Đến 05 giờ 00 phút ngày 14/12/2025 thì bị tổ công tác Công an xã E, tỉnh Đắk Lắk kiểm tra phát hiện, Y W và Y Rô B bỏ chạy. Đến 11 giờ ngày 14/12/2025, Y W ra đầu thú tại Công an xã E. Ngày 15/12/2025, Y Rô B đến Công an xã E đầu thú.

Vật chứng thu giữ: 01 ống hút nhựa trong suốt kích thước 1,8 x2cm, một đầu kín, một đầu cắt hở, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể trong suốt; 01 bật lửa màu xanh kích thước 8 x2,5cm, bên ngoài có chữ BIC, tình trạng đã qua sử dụng; 01 bật lửa màu trắng kích thước 6,5 x 1,5 x2cm có gắn tại đầu xả ga 01 ống kim loại kích thước 3 x0,2cm, tình trạng đã qua sử dụng; 01 kéo dài 18cm, lưỡi kéo bằng kim loại dài 10cm, tay cầm bằng nhựa màu đỏ dài 8cm, tình trạng đã qua sử dụng; 01 chai nhựa cứng màu trong suốt, hình trụ tròn, hẹp 2 đáy, rộng ở giữa, chiều cao 11cm, đường kính hai đáy 3,5cm, đường kính giữa 4,5cm, trên nắp đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn với 01 ống thủy tinh dài 17cm, đường kính 0,5cm, một đầu ống bị bẻ cong, thổi hình cầu và 01 lỗ gắn với 01 ống hút nhựa màu trắng, kích thước (19 x0,5)cm (toàn bộ cấu trúc trên là bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy); 01 xe mô biển kiểm soát số 47N9 – 9870, nhãn hiệu Sihamoto màu đỏ - xám đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, số serial FFNX516FHFLR, số Imei: 356134092415568, gắn thẻ sim số điện thoại 0376228647.

Tại Bản kết luận giám định số 1229/KL-KTHS ngày 19/12/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, kết luận:

- Chất rắn dạng tinh thể trong suốt bám dính bên trong 01 ống hút nhựa trong suốt, một đầu kín, một đầu cắt hở, kích thước (1,8x2)cm, được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine. Do lượng chất bám dính ít nên không xác định được khối lượng.

- Trên các công cụ gồm: 01 chai nhựa cứng có nắp vặn màu trong suốt, hình trụ tròn, cao 11cm, đường kính hai đáy 3,5cm, đường kính giữa 4,5cm; 01 ống thủy tinh uốn cong dài 17cm, có một đầu hình cầu hở; 01 ống hút nhựa màu trắng, kích thước (19x0,5)cm, được niêm phong gửi giám định đều tìm thấy chất ma túy, loại: Methamphetamine. Do lượng chất bám dính ít nên không xác định được khối lượng.

Tại Bản kết luận giám định số 1226/KL-KTHS ngày 19/12/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận:

- Mẫu nước tiểu ghi thu của H Bĩk Li N5, được niêm phong gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại: Methamphetamine và sản phẩm chuyển hóa của Methamphetamine trong cơ thể (Amphetamine).

- Mẫu nước tiểu ghi thu của H T Krông, được niêm phong gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại: Methamphetamine và sản phẩm chuyển hóa của Methamphetamine trong cơ thể (Amphetamine).

- Mẫu nước tiểu ghi thu của Y W Niê, được niêm phong gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại: Methamphetamine và sản phẩm chuyển hóa của Methamphetamine trong cơ thể (Amphetamine).

- Mẫu nước tiểu ghi thu của Y Na S Mlô, được niêm phong gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại: Methamphetamine và sản phẩm chuyển hóa của Methamphetamine trong cơ thể (Amphetamine).

Tại Bản kết luận giám định số 1232/KL-KTHS ngày 22/12/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu nước tiểu ghi thu của Y Rô B Niê, được niêm phong gửi giám định tìm thấy ma túy, loại: Methamphetamine và sản phẩm chuyển hóa của Methamphetamine.

Tại Quyết định tách vụ án hình sự số 1994/QĐ-CSMT ngày 02/3/2026 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã tách hành vi của các bị cáo H T Krông và H Bĩk Li N5 thành một vụ án riêng do người phạm tội là người chưa thành niên về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b,c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự theo Bản cáo trạng số 15/CT-VKSNDLK-KV ngày 23/4/2026.

* Tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 06/5/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Đắk Lắk đã truy tố các bị cáo Y W Niê, Y Na S Mlô và Y Rô B Niê về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

* Quá trình xét hỏi tại phiên toà: các bị cáo Y W Niê, Y Na S Mlô và Y Rô B Niê khai nhận: diễn biến hành vi phạm tội của các bị cáo như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

* Quá trình điều tra, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà H T Krông và bà Bà H B L Niê khai diễn biến hành vi phạm tội của các bị cáo như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

* Quá trình điều tra, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Vũ Văn H1, ông Khúc Ngọc T1 không có yêu cầu gì trong vụ án.

Tại phiên tòa bà H Y Niê trình bày: xe môtô biển kiểm soát số 47N9 – 9870 thuộc sở hữu của bà H Y. Bà H Y không biết Y W sử dụng xe vào việc mua ma túy về sử dụng. Bà H Y yêu cầu được nhận lại xe môtô biển kiểm soát số 47N9 – 9870. Bà H Mrơng N4 không có yêu cầu gì trong vụ án.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Đắk Lắk thực hành quyền công tố luận tội: Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Y W Niê, Y Na S Mlô và Y Rô B Niê, phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt: Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025, Đề nghị xử phạt:

+ Bị cáo Y W Niê từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù

+ Bị cáo Y Rô B Niê từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù

+ Bị cáo Y Na S Mlô từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù

- Về xử lý vật chứng:

+ Đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 01 ống hút nhựa trong suốt kích thước 1,8x2cm, một đầu kín, một đầu cắt hở, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể trong suốt; 01 bật lửa màu xanh kích thước 8x2,5cm, bên ngoài có chữ BIC, tình trạng đã qua sử dụng; 01 bật lửa màu trắng kích thước 6,5x1,5x2cm có gắn tại đầu xả ga 01 ống kim loại kích thước 3x0,2cm, tình trạng đã qua sử dụng; 01 kéo dài 18cm, lưỡi kéo bằng kim loại dài 10cm, tay cầm bằng nhựa màu đỏ dài 8cm, tình trạng đã qua sử dụng; 01 chai nhựa cứng màu trong suốt, hình trụ tròn, hẹp 2 đáy, rộng ở giữa, chiều cao 11cm, đường kính hai đáy 3,5cm, đường kính giữa 4,5cm. Trên nắp đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn với 01 ống thủy tinh dài 17cm, đường kính 0,5cm, một đầu ống bị bẻ cong, thổi hình cầu và 01 lỗ gắn với 01 ống hút nhựa màu trắng, dài 19cm, đường kính 0,5cm (toàn bộ cấu trúc trên là bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy).

+ Đề nghị HĐXX trả lại cho bà H Yan 01 xe môtô biển kiểm soát số 47N9 – 9870, nhãn hiệu Sihamoto màu đỏ - xám đã qua sử dụng

+ Đề nghị HĐXX trả lại cho bị cáo Y W 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, số serial FFNX516FHFLR, số máy MN132LL/A gắn thẻ sim số điện thoại: 0376228647

- Vấn đề khác:

+ Đối với H Bĩk Li N5 và H T Krông có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong vụ án nêu trên. Tuy nhiên, khi phạm tội H Bĩk Li N5 và H T Krông đều là người trên 13 tuổi nhưng dưới 18 tuổi nên căn cứ Điều 143 Luật tư pháp người chưa thành niên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã tách vụ án hình sự đối với H Bĩk Li N5 và H T Krông để điều tra theo quy định. Hiện nay, H T Krông và H Bĩk Li N5 đã bị xét xử về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự, theo Bản án số: 26 ngày 22/5/2026 của TAND khu vực 7 - Đắk Lắk nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

+ Đối với người đàn ông bán ma túy cho Y W Niê vào ngày 13/12/2025 (theo lời khai của Y W), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa làm rõ được nhân thân, lai lịch nên chưa có căn cứ để đề nghị HĐXX xử lý theo quy định.

* Các bị cáo Y W Niê, Y Na S Mlô và Y Rô B Niê có thái độ ăn năn và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- Đắk Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không ai có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Xét luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, nên HĐXX có đủ cơ sở pháp lý để kết luận:

Tối ngày 13/12/2025, tại nhà của Y Rô B ở thôn F, xã E, tỉnh Đắk Lắk, Y Na S Mlô, Y W Niê, Y Rô B Niê mỗi người góp số tiền 100.000đồng, H T Krông và H Bĩk Li N5 mỗi người góp 50.000 đồng, được tổng số tiền 400.000 đồng đưa cho Y W đi mua ma túy đá về cùng nhau sử dụng. Sau khi Y W mua ma túy và dụng cụ sử dụng về, Y Rô B lấy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, đổ ma túy vào trong cóng dùng bật lửa nấu chín ma túy để cùng nhau sử dụng chất ma túy cho Y Rô B Niê, Y W, Y Na S, H Bĩk Li N5 và H Trang K lần lượt sử dụng. Đến 05 giờ 00 phút ngày 14/12/2025, Y Rô B Niê, Y W, Y Na S, H Bĩk Li N5 và H T Krông bị lực lượng Công an xã E, tỉnh Đắk Lắk phát hiện. Kết quả giám định, xác định: Bộ D sử dụng ma túy đã thu giữ được niêm phong gửi giám định đều tìm thấy chất ma túy, loại: Methamphetamine; kết quả giám định nước tiểu của Y Rô B Niê, Y W, Y Na S, H Bĩk Li N5 và H T Krông đều tìm thấy chất ma túy, loại: Methamphetamine; thời điểm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nêu trên, H T Krông và H Bĩk Li N5 đều là người đã đủ 13 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi. Y Rô B Niê, Y W, Y Na S có quen biết nhưng vẫn cho H T Krông và H Bĩk Li N5 góp tiền mua ma túy và cho sử dụng cùng các bị cáo.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Y Na S Mlô, Y W Niê, Y Rô B Niê đã phạm vào tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Điều 255 Bộ luật Hình sự, quy định:

“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

…;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;

…”.

Tính chất, vai trò, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo là người có đầy đủ nhận thức và năng lực hành vi, nhận thức được ma tuý không chỉ gây tác hại cho sức khỏe cho chính người sử dụng mà còn là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhưng vì mục đích để thoả mãn cơn nghiện và ý thức coi thường pháp luật, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều là người thực hiện hành vi phạm tội, đều là người góp tiền để mua ma túy với mục đích cùng sử dụng. Y Way mua ma túy và bộ D để sử dụng, địa điểm tổ chức sử dụng ma túy tại nhà Y Rô B, đồng thời Y Rô B lấy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy do Y W mua từ trước để nấu chín ma túy đá chuyển sang dạng khí để hít, khi sử dụng các bị cáo tự dùng bật lửa để đốt rồi hút. Do đó, vai trò của Y W và Y Rô B là tương xứng với nhau.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo đều là người dân tộc Ê Đê thuộc dân tộc thiểu số, nên khả năng nhận thức có phần hạn chế. Sau khi bị phát hiện các bị cáo Y W và Y Rô B đã ra đầu thú. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025. Do đó cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Tuy nhiên, cần cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian tương ứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra.

Vì vậy, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp với đề nghị của người bào chữa cho các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

Đối với vật chứng: 01 ống hút nhựa trong suốt; 01 bật lửa màu xanh đã qua sử dụng; 01 bật lửa màu trắng đã qua sử dụng; 01 kéo dài 18cm đã qua sử dụng; 01 chai nhựa cứng màu trong suốt trên nắp đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn với 01 ống thủy tinh dài 17cm, đường kính 0,5cm, một đầu ống bị bẻ cong, thổi hình cầu và 01 lỗ gắn với 01 ống hút nhựa màu trắng, dài 19cm, đường kính 0,5cm (toàn bộ cấu trúc trên là bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy). Đây là những công cụ sử dụng vào việc phạm tội, hiện không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe môtô biển số 47N9 – 9870, nhãn hiệu Sihamoto màu đỏ - xám đã qua sử dụng: Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của bà H Y Niê (mẹ đẻ của Y W Niê). Ngày 14/12/2025, Y W Niê sử dụng xe đi đến nhà Y Rô B và đi mua ma túy thì bà H Yan Niê không biết. Vì vậy, cần trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà H Y Niê.

Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S gắn thẻ sim số điện thoại: 0376228647: Quá trình điều tra xác định là tài sản của Y W. Y W không sử dụng tài sản vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Y W.

Đối với địa điểm sử dụng vào việc phạm tội là nhà ở của bà H Mrơng N4. Bà H Mrơng N4 đã đi khỏi địa phương từ năm 2022 đến nay, nên không biết việc con trai là Y Rô B Niê đã sử dụng nhà ở của gia đình cho những người khác cùng sử dụng trái phép chất ma túy, nên HĐXX không xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bà H Mrơng N4 cũng như không xem xét xử lý đối với tài sản có liên quan.

* Vấn đề khác:

- Đối với H Bĩk Li N5 và H T Krông có hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy trong vụ án nêu trên. Tuy nhiên, khi phạm tội H Bĩk Li N5 và H T Krông đều là người trên 13 tuổi nhưng dưới 18 tuổi nên căn cứ Điều 143 Luật tư pháp người chưa thành niên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã tách vụ án hình sự đối với H Bĩk Li N5 và H T Krông để điều tra theo quy định. Hiện nay, H T Krông và H Bĩk Li N5 đã bị xét xử về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự, theo Bản án số: 26 ngày 22/5/2026 của TAND khu vực 7 - Đắk Lắk nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

- Đối với người đàn ông bán ma túy cho Y W Niê vào ngày 13/12/2025 (theo lời khai của Y W), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa làm rõ được nhân thân, lai lịch nên HĐXX chưa có căn cứ để xử lý theo quy định.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025.

1. Về tội phạm và hình phạt:

* Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Y Rô B Niê, Y W Niê , Y Na S Mlô, phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

* Về hình phạt:

- Xử phạt: Bị cáo Y Rô B Niê 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/12/2025.

- Xử phạt: Bị cáo Y W Niê 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14/12/2025.

- Xử phạt: Bị cáo Y Na S Mlô 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 14/12/2025.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 ống hút nhựa trong suốt bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể trong suốt; 01 chai nhựa cứng màu trong suốt, hình trụ tròn, nắp đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn với 01 ống thủy tinh dài 17cm, đường kính 0,5cm, một đầu ống bị bẻ cong, thổi hình cầu và 01 lỗ gắn với 01 ống hút nhựa màu trắng, dài 19cm, đường kính 0,5cm (toàn bộ cấu trúc trên là bộ dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy); 01 bật lửa màu xanh đã qua sử dụng; 01 bật lửa màu trắng đã qua sử dụng; 01 kéo dài đã qua sử dụng(02 chiếc bật lửa và 01 kéo đã được niêm phong trong phong bì thư).

- Trả lại cho bà H Y Niê 01 xe mô biển kiểm soát số 47N9 – 9870, nhãn hiệu Sihamoto màu đỏ - xám đã qua sử dụng.

- Trả lại cho bị cáo Y W Niê 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu hồng nhạt, số serial FFNX516FHFLR, số máy: MN132LL/A, số Imei: 356134092415568, gắn thẻ sim số điện thoại 0376228647.

(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/5/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và phòng Thi hành án dân sự khu vực 7.)

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc Các bị cáo Y Rô B Niê, Y W, Y Na S, mỗi bị cáo phải chịu 200.000dồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

- Các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án Hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ