vanban.org

Bản án 30/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 29/01/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tướng Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Hoàng Văn L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về điều luật áp dụng và hình phạt: 1. Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tướng Văn T, Hoàng Văn L phạm tội " Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" và tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". - phạm tội tổ chức sử dụ…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tướng Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Hoàng Văn L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3- LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2026/HS-ST
Ngày 29-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN KHU VỰC 3 – LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Minh Quế

Ông Lý Trung Hiếu

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thu Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tri - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 55/2025/HSST ngày 19 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2026/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2026, đối với các bị cáo:

1. Tướng Văn T, sinh ngày 15 tháng 02 năm 1992 tại TB, tỉnh Lào Cai;

Nơi thường trú: Thôn P, xã C, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Tướng Văn M (đã chết) và bà Đinh Thị P (đã chết); vợ: Hoàng Thị C; con: Có 02 người con (người con lớn sinh năm 2013, người con nhỏ sinh năm 2014); tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại Bản án số 72/2020/HS-ST ngày 28/5/2020 của Toà án nhân dân huyện G, thành phố Hà Nội xử phạt 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bị cáo đã chấp hành xong bản án ngày 16-10-2022 và được xoá án tích.

Bị cáo Tướng Văn T bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06-9-2025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giam” tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Lào Cai; có mặt.

2. Hoàng Văn L, sinh ngày 09 tháng 9 năm 1969 tại xã C, tỉnh Lào Cai;

Nơi thường trú: Thôn N, xã C, tỉnh Lào Cai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 5/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Hoàng Văn T1 (đã chết) và bà Hoàng Thị E (đã chết); vợ: Dương Thị Đ; con: Có 03 người con (con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 1996); tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại Bản án số 05/HSST ngày 18-3-2010 của Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Yên Bái xử phạt 06 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong bản án ngày 26-4-2010 và được xoá án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06-9 -2025. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giam” tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Lào Cai, có mặt.

* Những người tham gia tố tụng khác:

- Người chứng kiến: Ông Vũ Hồng Q, sinh năm 1982

Địa chỉ: Thôn N, xã C, tỉnh Lào Cai; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 05-9-2025, Tổ công tác Công an xã C, tỉnh Lào Cai trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tại thôn N, xã C, tỉnh Lào Cai đã phát hiện bắt quả tang Tướng Văn T và Hoàng Văn L đang cùng nhau sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà của L tại thôn N, xã C, tỉnh Lào Cai, thu giữ những vật chứng gồm: 01 (một) gói giấy màu trắng có dòng kẻ và nhiều chữ viết tay, bên trong gói giấy có chứa chất bột nén màu trắng (nghi là Heroine); 01 (một) mảnh giấy bạc đã bị cháy sém; 01 (một) bật lửa ga màu tím đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.

Tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của Hoàng Văn L và Tướng Văn T bằng biện pháp dùng que thử nước tiểu. Kết quả xác định trong cơ thể của L và T có chất ma túy Heroine.

Ngày 06-9-2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật đối với Tướng Văn T tại thôn P, xã C, tỉnh Lào Cai và Hoàng Văn L tại thôn N, xã C, tỉnh Lào Cai. Kết quả khám xét nhà Hoàng Văn L không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì; Kết quả khám xét nhà Tướng Văn T phát hiện thu giữ 01 (một) mảnh túi nilon màu xanh bên trong chứa chất bột nén màu trắng (nghi là Heroine).

Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định đối với gói chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Tướng Văn T, Hoàng Văn L và gói chất bột nén màu trắng thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Tướng Văn T.

Bản kết luận giám định số: 554/KL-KTHS ngày 15/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận:

"- Chất bột nén màu trắng trong phong bì niêm phong thứ nhất, ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,04 gam.

- Chất bột nén màu trắng trong phong bì niêm phong thứ hai, ký hiệu M2 gửi giám định là ma tuý, loại Heroine, có khối lượng là 0,24 gam".

Tại Cơ quan điều tra, Tướng Văn T và Hoàng Văn L khai nhận: Ngày 05-9-2025, Tướng Văn T đi sang xã TL, tỉnh Lào Cai chơi, thì gặp một người đàn ông bị hỏng xe nên T đã đẩy giúp một đoạn, người này tự giới thiệu tên là Q nhà ở xã C, tỉnh Lào Cai và cho T 01 gói ma tuý loại Heroine. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi T đang trên đường đi từ xã TL về thì nhận được điện thoại của Hoàng Văn L hỏi “Dạo này mày làm gì”, T nói: “Cháu đang ở TL về”, L nói “Mày có gì không” (ý là có ma tuý không), thì T trả lời “Có, tí cháu mang về”, L nói “Khi nào về lên nhà chú cho chú chơi một ít”, T đồng ý và hẹn tối lên nhà L. Sau khi về đến nhà, T chia gói ma túy Q cho thành hai gói, một gói giấu dưới đệm trong phòng ngủ, còn một gói cất trong túi quần, mục đích để sử dụng.

Đến khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày, Tướng Văn T đến nhà Hoàng Văn L thì thấy L đang ngồi ở bàn uống nước trong bếp. T đi đến chỗ L lấy gói ma tuý trong túi quần ra đặt trên mặt bàn và nói “cháu vừa đi lấy hàng về đấy, chú chơi đi”. Sau đó T xé lấy mảnh giấy bạc bên trong bao thuốc lá Thăng Long để trên bàn dùng bật lửa đốt hết lớp giấy ở mặt trong mảnh giấy bạc rồi đưa cho L. L mở gói ma túy dùng móng tay tách ma túy thành hai phần, rồi lấy một phần đặt lên giấy bạc dùng bật lửa đốt bên dưới và hít khói ma túy vào cơ thể qua đường miệng. Sau khi hít xong, L đưa bật lửa và mảnh giấy bạc bên trên vẫn còn ma tuý cho T sử dụng. T dùng bật lửa đốt mảnh giấy bạc và hít ma tuý vào cơ thể qua đường miệng, sau đó đưa lại cho L tiếp tục sử dụng thì bị Công an xã C, tỉnh Lào Cai bắt quả tang cùng vật chứng.

Cáo trạng số 43/CT-VKS-KV3 ngày 19 tháng 12 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Lào Cai đã truy tố: Tướng Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 và điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025; Hoàng Văn L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tướng Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Hoàng Văn L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt:

- Đối với bị cáo Tướng Văn T: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025, xử phạt bị cáo Tướng Văn T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025, xử phạt bị cáo Tướng Văn T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Tướng Văn T phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội.

- Đối với bị cáo Hoàng Văn L: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025, xử phạt 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là người nghiện, không có tài sản, không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự để xử lý đối với vật chứng.

+ 0,14 gam ma túy loại Heroine do Phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an tỉnh Lào Cai hoàn lại sau khi trích mẫu giám định được niêm phong trong 01 phong bì mặt trước ghi “Vật chứng thu giữ khi khám xét tại chỗ ở của Tướng Văn T ngày 06/9/2025” (Sau khi trích mẫu giám định). Mặt sau phong bì các mép được dán kín, có chữ ký của các thành phần tham gia và 04 hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

+ 01 vỏ bao thuốc lá “THĂNG LONG”; 01 bật lửa ga màu tím đã qua sử dụng; 01 mảnh giấy bạc đã bị cháy sém liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo Tướng Văn T, Hoàng Văn L khai báo thành khẩn toàn bộ hành vi phạm tội của mình; không tranh luận, bào chữa gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với bản tự khai và lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ của vụ án, lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và xem xét tại phiên toà. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 05-9-2025, Tướng Văn T đi sang xã TL, tỉnh Lào Cai chơi, thì được một người đàn ông tự giới thiệu tên Q nhà ở xã C, tỉnh Lào Cai cho một gói ma túy loại Heroine. Khoảng 16 giờ cùng ngày, Hoàng Văn L gọi điện thoại cho Tướng Văn T và biết T có ma tuý, nên đã bảo T mang ma túy đến nhà Hoàng Văn L để cùng sử dụng. Đến khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày, T mang một gói ma túy (Heroine) đến nhà L, sau đó cả hai cùng nhau sử dụng ma túy tại bếp nhà L, bằng hình thức để ma túy trên giấy bạc, dùng bật lửa đốt nóng rồi hít khói ma túy vào cơ thể qua đường miệng. Trong lúc T và L đang sử dụng ma túy, thì bị Công an xã C, tỉnh Lào Cai phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng là 0,04 gam ma tuý loại Heroine. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Tướng Văn T, Cơ quan điều tra còn thu giữ 0,24 gam Heroine, T cất giấu mục đích để sử dụng.

Hành vi nêu trên của Tướng Văn T đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Hành vi nêu trên của Hoàng Văn L đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lào Cai đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hµnh vi ph¹m téi cña các bÞ c¸o là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quy định về quản lý và kiểm soát chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Hành vi của các bị cáo đang bị toàn xã hội bài trừ, lên án và cũng là nguyên nhân, làm gia tăng các loại tội phạm khác.

Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Tướng Văn T là người cung cấp ma tuý, còn Hoàng Văn L đã sử dụng nơi ở, đồ vật của mình để cùng T sử dụng ma túy. Nên các bị cáo phải chịu trách hình sự về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội đã gây ra.

Ngoài ra Tướng Văn T còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định của pháp luật.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy:

Về nhân thân: Các bị cáo Tướng Văn T, Hoàng Văn L đã bị Tòa án xét xử, các bị cáo không lấy đó làm bài học tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, điều đó chứng tỏ ý thức tu dưỡng, rèn luyện của bản thân bị cáo là kém.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Tướng Văn T, Hoàng Văn L có thái độ thành khẩn khai báo nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

[5] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và cần phải áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là người nghiện ma túy, không có tài sản, không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc ma túy theo lời khai của Tướng Văn T là được một người đàn ông tên là Q nhà ở xã C cho ngoài lời khai của T không có tài liệu, chứng cứ nào khác để xác định nguồn gốc ma tuý nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý đối với người đã cho ma túy trong vụ án này.

[8] Về vật chứng: Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng:

-Vật chứng còn lại sau khi trích mẫu giám định được niêm phong trong 01 phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai phát hành là vật cấm lưu hành cần tịch thu, tiêu huỷ.

- 01 vỏ bao thuốc lá “THĂNG LONG”; 01 bật lửa ga màu tím đã qua sử dụng; 01 mảnh giấy bạc đã bị cháy sém liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Những nội dung đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Lào Cai tại phiên toà là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11] Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tướng Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Hoàng Văn L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

2.1. Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Tướng Văn T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Tướng Văn T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

+ Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Tướng Văn T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 06 tháng 9 năm 2025.

2.2. Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Hoàng Văn L 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 06 tháng 9 năm 2025.

3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 0,14 gam ma túy loại Heroine còn lại sau khi đã trích mẫu giám định được niêm phong trong 01 phong bì do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai phát hành. Mặt trước phong bì ghi: Vật chứng thu giữ khi khám xét tại chỗ ở của Tướng Văn T ngày 06/9/2025”. Mặt sau phong bì các mép được dán kín có chữ ký họ và tên của Đỗ Đức Q, Nguyễn Anh T1, Trần Văn T2, Tướng Văn T, Hoàng Văn L, Nguyễn Văn M và 04 (bốn) hình dấu tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai; 01 vỏ bao thuốc lá THĂNG LONG; 01 bật lửa ga màu tím đã qua sử dụng; 01 mảnh giấy bạc đã bị cháy sém.

(Vật chứng trên có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31 tháng 12 năm 2025, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lào Cai và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3, tỉnh Lào Cai).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Tướng Văn T, Hoàng Văn L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ