vanban.org

Bản án 30/2025/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 24/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đàm Công Huân và Hà Hoài Linh (hiếp dâm người dưới 16 tuổi) - phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (điều 142 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
–––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HS-ST
Ngày 24 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên Ông Nguyễn Quang Vũ

tòa:

Ông Nguyễn Hà Giang

Thẩm phán

Bà Nguyễn Thị Tần

Các Hội Thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Xuân Đào (giáo viên nghỉ

hưu)

Ông Nguyễn Ngọc Thắng

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Đăng- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Đặng Nguyễn Hải Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử (xử kín) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2024 đối với:

1. Bị cáo:

1.1 Họ và tên: Trần Đàm Công H,sinh ngày 18/6/2004; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; N sinh: huyện H, tỉnh Phú Thọ;Nơi đăng ký HKTT, nơi ở: Khu E, xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp trước khi phạm tội: Lao động tự do;Bố đẻ: Trần Mạnh H1, sinh năm 1980;Mẹ đẻ: Đàm Thị H2, sinh năm 1985;Bố, mẹ đều trú tại khu E, xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ;Anh chị em ruột: Gia đình có 2 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất;Vợ, con: chưa có;

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 15/10/2024, sau đó chuyển tạm giam đến nay,hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P.

1.2. Họ và tên: Hà Hoài L,sinh ngày 15/01/2006; Giới tính: Nam;Tên gọi khác: không; N sinh: huyện H, tỉnh Phú Thọ;Nơi đăng ký HKTT, nơi ở: Khu D, xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không;Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp trước khi phạm tội: Lao động tự do;Bố đẻ: Hà Tiến L1, sinh năm 1983;Mẹ đẻ: Trần Thị Thu H3, sinh năm 1984;Bố, mẹ đều trú tại khu D, xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ;Anh chị em ruột: Gia đình có 2 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất;Vợ, con: chưa có;

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/10/2024, sau đó chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P.

(tính đến ngày phạm tội là 17 tuổi 11 tháng 27 ngày tuổi)

* Ngƣời bào chữa cho các bị cáo:Ông Chu Văn Q- Luật sư Công ty L8 – Đoàn luật sư tỉnh P; Địa chỉ: Số nhà A, đường M, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

2. Ngƣời bị hại:

Nguyễn Thu H7, sinh ngày 06/3/2008 (vắng mặt).

Nơi đăng ký HKTT: Khu A, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn H4, sinh năm 1981 (là bố bị hại).

Nơi ở: Khu A, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ(có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 12/01/2024, anh Lê X, sinh năm 2006, nhà ở khu F, xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ tổ chức sinh nhật tại quán “Ông chủ nhỏ” của anh Cù Xuân Đ, sinh năm 1995 ở khu H xã V, huyện H. Tham gia dự sinh nhật của anh Đ1 gồm có Trần Đàm Công H, sinh năm 2004; Hà Hoài L, sinh ngày 15/01/2006; Nguyễn Thu H7, sinh ngày 06/3/2008; Lê Xuân Đ1, sinh năm 2006 và Nguyễn Ngọc H5, sinh năm 2008 đều trú tại xã Y, huyện H; Tạ Đức D, sinh năm 2006; Phùng Huyền T, sinh năm 2008 nhà đều ở xã V, huyện H và Hoàng Ánh N1, sinh năm 2008 nhà ở xã Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Mọi người cùng nhau ăn uống tại quán đến khoảng 19 giờ 30 phút thì xong, một số người đến dự sinh nhật ra về lúc này cháu H7 do say rượu nên gục đầu vào L ngủ, không tự đi về nhà được, L bảo H lấy xe máy để L dìu cháu H7 ra xe, đưa cháu H7 về nhà, H đồng ý. H lấy xe máy loại xe nhãn hiệu Honda WINNER có biển kiểm soát 19F1-414.80 ra cửa quán đợi, L dìu cháu Hiền từ quán ra, cho H7 lên xe, H là người điều khiển xe, H7 ngồi giữa còn L ngồi sau cùng giữ cháu H7 từ phía sau. H điều khiển xe đi theo hướng xã V, huyện H đi huyện T, khi H điều khiển xe đến bãi cát thuộc khu A xã V thì H nảy sinh ý muốn quan hệ tình dục với cháu H7 nên H có nói với L không đưa cháu H7 về nhà nữa mà đưa cháu H7 đi nhà nghỉ để quan hệ tình dục, L đồng ý. H điều khiển xe chở cháu H7 cùng L đến một nhà nghỉ tại xã M, huyện T nhưng chủ nhà nghỉ không cho H và L thuê phòng nên H tiếp tục điều khiển xe quay về hướng huyện H để tìm nhà nghỉ đưa cháu H7 vào. Khi đi được khoảng 300 mét, L nói đưa cháu H7 đi lên nhà nghỉ ở xã M, H nói đi về nhà nghỉ N4 thuộc khu A, xã M, huyện H. Khi đi đến sân nhà nghỉ H8 đỗ xe lại và nói với L lên phòng trước khi nào xong thì gọi cho H, ý H là khi nào L quan hệ tình dục với cháu H7 xong thì gọi cho H để H sang quan hệ tình dục với cháu H7. L đồng ý, chủ động dìu cháu H7 vào nhà nghỉ và lấy phòng số 302 ở tầng 2 nhà nghỉ ở cùng cháu H7, còn H đi cất xe. Cất xe xong, H cũng vào nhà nghỉ, lấy phòng số 304 của nhà nghỉ ở tầng 2 nằm chờ. L đưa cháu H7 vào phòng, đặt cháu H7 nằm ngửa ra giường rồi cởi hết quần áo của H7 ra sau đó L tự cởi hết quần áo của mình, quỳ gối xuống giường giữa hai chân của H7 đồng thời lấy hai tay đẩy hai chân của H7 sang hai bên và dùng tay phải cầm dương vật đã cương cứng cho vào âm đạo của H7 để quan hệ tình dục. Khoảng 30 phút sau L xuất tinh vào trong âm đạo của H7. Sau đó L mặc quần áo của mình còn H7 vẫn nằm trên giường không mặc quần áo. Lúc này H sử dụng số điện thoại 0818.798.586 gọi đến số điện thoại 0377.454.994 của L, hỏi L đã quan hệ với H7 xong chưa L nói: “Xong rồi, anh sang đi” và L chỉ phòng cho H.

L đi sang phòng 304 còn H đi sang phòng 302 nơi cháu H7 đang ở. Khi sang đến phòng, H thấy cháu H7 vẫn đang trong tình trạng say rượu, trên người không mặc quần áo. H trèo lên giường nằm cạnh cháu H7 sau đó ôm, hôn đồng thời có dùng tay trái sờ vào bộ phận sinh dục của cháu H7 thì thấy có chất nhầy dính vào tay nên H nhìn xuống thì thấy có chất dịch màu trắng chảy từ trong bộ phận sinh dục của cháu H7 ra. Huân biết đó là tinh dịch do L xuất để lại nên lấy cuộn giấy vệ sinh để tại bàn trong nhà nghỉ lau hết dịch màu trắng ở âm hộ của H7 rồi đè lên người cháu H7 và ôm hôn. Khoảng 5 phút sau thì H cởi quần dài và quần lót của H ra để tại giường, sau đó H quỳ giữa hai chân của cháu H7 và dùng hai tay kéo hai chân của cháu H7 sang hai bên, dùng tay trái ghì hai tay của cháu H7 lên bụng còn tay phải cầm dương vật của mình đã cương cứng cho vào trong âm đạo của cháu H7 để quan hệ tình dục. Khi H cho dương vật vào trong âm đạo của cháu H7 thì lúc này H7 có chửi “địt mẹ thằng L bỏ tao ra” và dùng tay đẩy H ra. Thấy vậy, H ghì chặt tay cháu H7 để tiếp tục quan hệ tình dục. Khoảng 20 phút thì H xuất tinh lên đùi của cháu H7. Sau khi quan hệ với cháu H7 xong, H tiếp tục nằm ôm cháu H7. Lúc này, L gọi điện cho H bảo H về phòng để L sang mặc quần áo cho cháu H7 rồi đưa cháu H7 về do đã muộn. H quay về phòng 304 còn L đi sang phòng 302. Khi L quay lại phòng 302, thấy cháu H7 vẫn nằm trên giường không mặc quần áo. L lấy điện thoại nhãn hiệu Iphone 11Promax màu đen của mình ra chụp một bức ảnh của H7. Sau đó, L mặc quần áo cho cháu H7. Khoảng 3 phút sau, L gọi H xuống lấy xe để đưa cháu H7 về vì sợ bố mẹ cháu H7 đi tìm. H xuống lấy xe rồi cùng L đưa cháu H7 về. Khi đi đến ngân Hàng xã M thì L gọi cháu H7 dậy để chỉ đường về nhà nhưng do cháu H7 vẫn say nên không dậy, H tiếp tục đi đến bãi cát xã V. Lúc này, cháu H7 tỉnh và có chỉ đường cho H điều khiển xe đưa cháu H7 về nhà. Khi đến nhà thì bố cháu H7 ra mở cửa, cháu H7 có chạy luôn vào trong phòng còn bố cháu H7, mẹ cháu H7 và bà của cháu H7 có đứng nói chuyện với H và L ở sân khoảng 30 phút thì H và L cùng nhau đi về nhà ở xã Y. Đến khoảng tháng 9/2024, trong quá trình sống tại Hà Nội cùng Tạ Đức D, SN 2006, ở khu F, xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ, L cho D xem hình ảnh khỏa thân của H7 mà L đã chụp. D bảo L gửi cho D nhưng L không gửi. Do ở cùng nhau nên D biết mật khẩu điện thoại của L. Lợi dụng lúc L đi tắm, D đã tự ý mở khóa điện thoại và gửi ảnh khỏa thân của H7 sang điện thoại của mình (chiếc điện thoại này L đã bán cho cửa hàng mua bán điện thoại cũ và mua chiếc điện thoại IPHONE 11, màu đen, số máy MWHT2LL/A, số sê-ri: C7CZ905YN72J, bên trong có lắp sim số 0377.454.994). Sau đó, D gửi hình ảnh khỏa thân của H7 qua Messenger cho Nguyễn Ngọc N2, SN 2006, ở khu C, xã L, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Tuy nhiên, anh N2 chưa kịp xem hình ảnh vì D đã thu hồi hình ảnh đã gửi. Đến ngày 12/10/2024, trong khi đi đá bóng tại sân bóng xã Y, huyện H, Phan Tiến D1, SN 2007, ở khu F, xã P, huyện H (học sinh lớp 12A2 Trường THPT V, huyện H) thấy một nhóm thanh niên đang bàn tán và cho nhau xem hình ảnh khỏa thân của H7. D1 đã xin ảnh chụp màn hình của hình ảnh này, gửi qua “Air Drop” và lưu trong điện thoại của mình. Đến ngày 13/10/2024, D1 gửi hình ảnh này qua Messenger cho Trần Tiến A, SN 2007, ở khu C, xã Y, huyện H (học cùng lớp với D1) để hỏi người trong ảnh là ai. Sau đó, Trần Tiến A gửi hình ảnh cho Nguyễn Khánh L2, SN 2007, ở khu A, xã H, huyện T (học sinh lớp 12A1 Trường THPT V). L2 nhận được ảnh và gửi cho Nguyễn Phương T1, SN 2007, ở khu A, xã H, huyện T (học sinh lớp 12A3 Trường THPT Y, huyện T). T1 nhận ảnh và gửi cho Đinh Nguyễn Thu H6, SN 2007, ở khu B, xã H, huyện T (học cùng lớp với T1). H6 nhận ảnh và gửi cho Trần Diệu A1, SN 2008, ở khu B, xã H, huyện T. Trần Diệu A1 nhận ảnh và gửi cho Mai Thị Tố U, SN 2008, ở khu E, xã H, huyện T (học sinh lớp 11A2 Trường THPT T3). Uyên nhận ảnh và gửi cho Mai Linh C, SN 2007, ở khu C, xã H, huyện T (học sinh lớp 12A6 Trường THPT Y, huyện T). Chi nhận ảnh và gửi cho Lý Mai P, SN 2006, ở khu C, xã L, huyện H (học sinh lớp 12A6 Trường THPT V, huyện H). P nhận ảnh và gửi cho Tạ Thanh T2, SN 2007; Lê Kiên Q1, SN 2007 đều trú tại khu C, xã L, huyện H và Nguyễn Thanh N3, SN 2007, ở M, huyện T (đều là bạn học cùng lớp với P). T2 và Q1 chỉ xem, không chia sẻ cho ai. Nhàn nhận ảnh và gửi cho Đinh Thùy D2, SN 2007, ở khu T, xã M, huyện T (học sinh lớp 12A1 Trường THPT Y). D2 nhận ảnh và gửi cho Nguyễn Hương L3, SN 2007, ở khu A, xã H, huyện T (học sinh lớp 12A1 Trường THPT Y, huyện T). L3 nhận ảnh và gửi cho Cao Gia B, SN 2007, ở khu D, xã Đ, huyện T (học sinh lớp 11A6 Trường THPT Y, huyện T). Sau khi nhận ảnh từ L3, B gửi hình ảnh lên nhóm “11A6” được tạo lập trên facebook. Sau khi B gửi hình ảnh khỏa thân của H7 lên nhóm lớp thì có Nguyễn Thị Trà M, SN 2008, ở khu H, xã H, huyện T; Hoàng Thanh M1, SN 2008, ở khu C, xã H, huyện T; Nguyễn Trung D3, SN 2008, ở khu A, xã V, huyện H; N, SN 2008, ở khu A, xã V, huyện H; Nguyễn Thị L4, SN 2008, ở khu C, xã P, huyện H; Nguyễn Thị Quỳnh D4, SN 2008, ở khu C, xã V, huyện H và Nguyễn Khánh L5, SN 2008, ở khu A, xã H, huyện T đều là bạn học cùng lớp với bảo và là thành viên trong nhóm “11A6” xem và bình luận hình ảnh. Quá trình Nguyễn Dương Trung Q2 xem và bình luận hình ảnh mà Cao Gia B gửi lên nhóm, Kiều Hải Đ2, SN 2008, ở khu A, xã V, huyện H (em họ của Nguyễn Thu H7) cũng ở đó. Đăng nhờ Q2 chụp ảnh màn hình và gửi hình ảnh qua cho mình. Sau đó, Đăng báo sự việc H7 bị lộ ảnh nhạy cảm cho mẹ là Nguyễn Thị Thu H7, SN 1985, ở khu A, xã V, huyện H. Chị H7 gọi điện báo cho anh Nguyễn Văn H4 - bố đẻ của H7 biết sự việc. Ngày 14/10/2024, sau khi biết sự việc, anh Nguyễn Văn H4 cùng cháu Nguyễn Thu H7 đến Công an huyện H để trình báo. Sau đó, Trần Đàm Công H và Hà Hoài L đã đến Công an huyện H đầu thú và khai nhận toàn bộ nội dung sự việc. Vụ việc do CQCSĐT CA huyện H thụ lý giải quyết ban đầu sau đó chuyển đến CQCSĐT Công an tỉnh P để giải quyết theo thẩm quyền.

Quá trình xác minh, triệu tập ghi lời khai của những người có liên quan, CQCSĐT CA huyện H đã tạm giữ: của Trần Đàm Công H: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại WinnerX, màu sơn đen, BKS 19F1 – 414.80; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12, màu xanh, số IMEI: 351601286947817, mặt sau của điện thoại bị vỡ; của Hà Hoài L: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11, màu đen, số máy MWHT2LL/A, số sê-ri: C7CZ905YN72J, bên trong có lắp sim số 0377.454.994; của Tạ Đức D: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 plus, màu đen, số IMEI:356570082055874; của Đinh Thùy D2: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A31, màu xanh, số sê-ri: RF8N403PW3J; của Nguyễn Hương L3: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS Max, màu đen, số máy: MT6F2LL/A, số sê-ri: F2LYWDM7KPHC, bên trong có lắp sim số 0363.081.867; của Nguyễn Thanh N3: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12 Pro Max, màu trắng, số máy: NG9G3LL/A, số sê-ri: HH6H80390D44, bên trong có lắp sim số 0333.046.784; của Cao Gia B: 01 (một) máy tính để bàn gồm 01 CPU và 01 màn hình máy tính nhãn hiệu Samsung màu đen; của Mai Linh C: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS Max, màu vàng, số sê-ri: G6VYF9FBKPHF; của Mai Tố U: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11, màu tím, số IMEI: 356810110037209, bên trong có lắp 01 sim số 0916.180.875; của Đinh Nguyễn Thu H6: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12, màu trắng, số sê-ri: G6TDT6R10F0Y; của Nguyễn Khánh L2: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 plus, màu đen, số sê-ri: F2LT7TCVHFY1, số máy: MN682LL/A; của Trần Diệu A1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS, màu trắng, số máy: MT8V2LL/A, số sê-ri: G0NC32EXKPFQ, bên trong lắp sim số 0989.398.952; của Lý Mai P: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS Max, màu vàng, số sê-ri: G6TYWE79KPHF; của Nguyễn Phương T1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 7 Plus, số máy: MN6J2J/A, số sê-ri: F2LT5460HFYP. Qua kiểm tra xác định điện thoại của Nguyễn Hương L3 và Nguyễn Thanh N3 có 01 hình ảnh, nội dung hình ảnh: 01 người phụ nữ, khỏa thân, nằm trên giường, bên dưới hình ảnh có các dòng chữ “Đây ae. Nguyễn thu hiền. 11a6. Xin mãi mới được cho ae thẩm kk.” được chia sẻ, gửi qua ứng dụng Messenger.

Xác minh tại UBND xã V, huyện H xác định: Cháu Nguyễn Thu H7, sinh ngày 06/3/2008 theo giấy khai sinh số 10/K5, quyển số 02 do UBND xã V, huyện H cấp ngày 06/3/2008. Tính đến thời điểm ngày 12/01/2024, cháu H7 được 15 tuổi 10 tháng 06 ngày.

CQCSĐT CA tỉnh P đã xác minh tại trường THPT Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ để xác định số người đã xem, bình luận, lưu trữ về hình ảnh của cháu Nguyễn Thu H7 do Cao Gia B đăng tải qua ứng dụng Messenger lên nhóm lớp 11A6 trường THPT Y, huyện T, tỉnh Phú; số học sinh tại trường THPT V, huyện H đã xem, lưu giữ, chia sẻ hình ảnh khỏa thân của cháu Nguyễn Thu H7; tình trạng sức khỏe, tình hình học tập của cháu Nguyễn Thu H7 tại lớp 11A6 trường THPT V, huyện H, những phản ánh, khiếu nại liên quan sau khi bức ảnh của cháu Nguyễn Thu H7 bị phát tán trên mạng xã hội. Kết quả xác minh xác định, ngoài 08 học sinh của lớp 11A6 trường THPT Y, huyện T, tỉnh Phú Thọ xem, bình luận về bức ảnh của Nguyễn Thu H7 do Cao Gia B đăng tải và những học sinh CQĐT đã triệu tập làm việc, không có học sinh nào khác xem, bình luận đối với bức ảnh này, trong số các học sinh nói trên không có học sinh nào tải ảnh xuống và chia sẻ cho người khác; trường THPT V, huyện H, tỉnh Phú Thọ không nhận được ý kiến, phản ánh nào liên quan đến việc cháu Nguyễn Thu H7 bị đe dọa, xúc phảm nhân phẩm, danh sự; từ thời điểm tháng 01/2024 đến thời điểm xác minh cháu Nguyễn Thu H7 đi học bình thường, kết quả học tập đạt loại khá; ngoài những trường hợp CQĐT đã làm việc nêu trên không có học sinh nào khác chia sẻ, lưu trữ, phát tán hình ảnh trên.

CQCSĐT Công an huyện H đã trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh P giám định tổn thương bộ phận sinh dục của cháu Nguyễn Thu H7, giám định bộ phận sinh dục đối với Hà Hoài L và Trần Đàm Công H.

Tại bản kết luận giám định 35/KLXHTD/TTPY ngày 16/10/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: “Tổn thương bộ phận sinh dục của cháu Nguyễn Thu H7 là: Màng trinh rách cũ ở các vị trí 03 giờ, 07 giờ, 09 giờ. Hiện tại cháu Nguyễn Thu H7 không có thai”; Tại bản kết luận giám định 34/KLKNTD/TTPY ngày 16/10/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: “Bộ phận sinh dục của anh Trần Đàm Công H đầy đủ bộ phận, phát triển bình thường, không có dấu vết tổn thương, đủ điều kiện để thực hiện giao hợp khi dương vật cương cứng. Anh Trần Đàm Công H không bị nhiễm HIV”; Tại bản kết luận giám định 36/KLKNTD/TTPY ngày 17/10/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: “Bộ phận sinh dục của anh Hà Hoài L đầy đủ bộ phận, phát triển bình thường, không có dấu vết tổn thương, đủ điều kiện để thực hiện giao hợp khi dương vật cương cứng. Anh Hà Hoài L không bị nhiễm HIV”.

CQCSĐT Công an tỉnh P đã trưng cầu Sở văn hóa , thể thao và du lịch tỉnh P giám định nội dung hình ảnh đối với bức ảnh được lan truyền trên mạng xã hội, ảnh được thu giữ trên điện thoại của Nguyễn Hương L3 và Nguyễn Thanh N3.

Tại Kết luận giám định ngày 20/11/2024 của Sở Văn hóa , thể thao và du lịch tỉnh P kết luận: “Nội dung hình ảnh: Mô tả một người phụ nữ có tư thế nằm ngửa, không nhìn rõ đầy đủ khuôn mặt; người phụ nữ này không mặc quần, áo; hở ngực (vú) và bộ phận sinh dục (âm hộ). Kết luận: Ảnh có nội dung khiêu dâm.”.

Ngày 07/02/2025, CQCSĐT CA tỉnh P đã chuyển hồ sơ cùng tang vật liên quan đến Công an huyện H để xử phạt vi phạm hành chính đối với 14 người gồm Cao Gia B, Tạ Đức D, Phan Tiến D1, Trần Tiến A, Nguyễn Khánh L2, Nguyễn Phương T1, Đinh Nguyễn Thu H6, Trần Diệu A1, Mai Thị Tố U, Mai Linh C, Lý Mai P, Nguyễn Thanh N3, Đinh Thùy D2, Nguyễn Hương L3 về hành vi truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy. Cáo trạng số 15/ CT-VKSPT-P2 ngày 14/02/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ truy tố Trần Đàm Công H và Hà Hoài L về tội Hiếp dâm người dưới 16 tuổi, quy định tại điểm b khoản 3 Điều 142 Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều 142. Tội hiếp dâm ngƣời dƣới 16 tuổi “1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a, Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ; … 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình: …

b, Nhiều người hiếp một người; ...”

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi như bản cáo trạng đã nêu, thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải.

Tại phiênđại diện cho bị hại đề nghị tăng mức bồi thường và đề nghị xử lý các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 142; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Đàm Công H 13 đến 14 năm tù về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” .

- Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 142; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; khoản 1 Điều 54; Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với Hà Hoài L.

- Xử phạt bị cáo Hà Hoài L 09 đến 10 năm tù về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” .

Về trách nhiệm dân sự:

- Xác nhận bị cáo, gia đình bị cáođã bồi thường số tiền 120.000.000 đồng.

- Không chấp nhận yêu cầu bồi thường thêm của đại diện hợp pháp cho người bị hại:

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu bán sung công điện thoại củaTrần Đàm Công H; Trả lại điện thoại cho Hà Hoài L.

Luật sư bào chữa cho bị cáo nêu quan điểm: Đề nghị xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo và xem xét có thể không áp dụng điểm o khoản 1 Điều 52 BLHS đối với bị cáo H do bị cáo chỉ khởi xướng chứ không xúi giục.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Các quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra; Viện kiểm sát được thực hiện theo đúng trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Điều tra viên; Kiểm sát viên, thực hiện việc điều tra, thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự đã đảm bảo khách quan đúng quy định của pháp luật. Người bào chữa cho bị cáo thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

. Về chứng cứ và đánh giá chứng cứ:

Đêm ngày 12/01/2024, tại nhà nghỉ N4 thuộc khu A, xã M, huyện H, tỉnh Phú Thọ do anh Bùi Văn L6, sinh năm 1978 làm chủ, Trần Đàm Công H, sinh năm 2004 và Hà Hoài L, sinh ngày 15/01/2006 đã thực hiện hành vi quan hệ tình dục (giao cấu) trái ý muốn đối với cháu Nguyễn Thu H7, sinh ngày 06/3/2008 (được 15 tuổi 10 tháng 06 ngày). Khi đó, cháu H7 đang trong tình trạng say rượu, không thể tự vệ được, hành vi của H và L là hành vi hiếp dâm, cần xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Hà Hoài L khi thực hiện hành vi phạm tội là người chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Về vai trò của các đồng phạm: đây là vụ án có đồng phạm, thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, Trần Đàm Công H giữ vai trò là người khởi xướng, xúi giục và cùng Hà Hoài L thực hiện hành vi hiếp dâm cháu Nguyễn Thu H7.

Đủ cơ sở khẳng định: Hành vi phạm tội của bị cáo nêu trong bản cáo trạng phù hợp với biên bản xác định hiện trường, với các hình ảnh thu được, kết luận giám định, phù hợp với lời khai của người bị hại, người biết việc, tính logic của sự việc, chi tiết các lời khai của bị cáo khi thực hiện hành vi và tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, đủ cơ sở khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã truy tố các bị cáo về tội“Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm b khoản 3 Điều 142 BLHS là đúng pháp luật.

- Về động cơ, mục đích, nguyên nhân, điều kiện dẫn đến việc phạm tội:

Vì không làm chủ được ham muốn tình dục của bản thân, lợi dụng cháu Nguyễn Thu H7 say rượu không tự bảo vệ được mình, Trần Đàm Công H và Hà Hoài L đã thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn đối với cháu H7.

- Về tính chất mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra:

Xét tính chất vụ án là đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào quyền bất khả xâm phạm về tình dục, danh dự, nhân phẩm của cháu Nguyễn Thu H7 được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

+ Hà Hoài L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Trần Đàm Công H phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự do xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội.

+ Các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự do tích cực bồi thường cho người bị hại tổng số 120 triệu đồngvà thành khẩn khai báo; các bị cáo đầu thú; bị hại, đại diện người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt.

+ Hà Hoài L khi phạm tội mới đủ 17 tuổi 11 tháng 27 ngày nên áp dụng quy định có lợi đối với bị cáo theo Luật Tư pháp người chưa thành niên.

Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.

. Về trách nhiệm dân sự:Giữa các bên đã giải quyết xong, không có yêu cầu, đề nghị gì khác.

. Về xử lý vật chứng:

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12, màn hình cảm ứng, mặt sau màu xanh, số máy MGJA3KH/A; số sê-ri: DNPF4Z2SF0X, bên trong có lắp 01 sim mang số 0818798586 của Trần Đàm Công H do sử dụng liên quan đến tội phạm nên tịch thu để bán sung công.

+01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11, màn hình cảm ứng, mặt sau màu đen, số máy MWHT2LL/A; số sê-ri: C7CZ905YN72J, bên trong có lắp 01 sim mang số 0377.454.994 của Hà Hoài L không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại.

Quan điểm của Luật sư bào chữa cho các bị cáo là phù hợp với pháp luật và thể hiện quan điểm nhân đạo nên được chấp nhận. Tuy nhiên về đề nghị không áp dụng điểm o khoản 1 Điều 52 BLHS đối với bị cáo H thì không được chấp nhận.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Về hình phạt:

[1.1] Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 142; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt bị cáo Trần Đàm Công H 13 (mười ba) năm tù về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 15/10/2024, tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.

[1.2] Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 142; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; khoản 1 Điều 54; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 119 Luật Tư pháp người chưa thành niên đối với Hà Hoài L.

- Xử phạt bị cáo Hà Hoài L 09 (chín) năm tù về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” . Thời hạn tù tính từ ngày bắt 15/10/2024, tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án.

[2] Về dân sự: Căn cứ vào Điều 30 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Khoản 1 Điều 584; Khoản 1, Điều 585; Khoản 1, Điều 586; Điều 592 Bộ luật Dân sự.

- Xác nhận bị cáo, gia đình bị cáođã bồi thường số tiền 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng)

- Không chấp nhận yêu cầu bồi thường thêm của đại diện hợp pháp cho người bị hại: [3] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 89, 104; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu để bán sung công nhà nướcvật chứng sau:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12, màn hình cảm ứng, mặt sau màu xanh, số máy MGJA3KH/A; số sê-ri: DNPF4Z2SF0X, bên trong có lắp 01 sim mang số 0818798586 của Trần Đàm Công H.

Trả lại tài sản:

-Trả lại cho Hà Hoài L 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11, màn hình cảm ứng, mặt sau màu đen, số máy MWHT2LL/A; số sê-ri: C7CZ905YN72J, bên trong có lắp 01 sim mang số 0377.454.994. Các vật chứng trên có tình trạng như khi bàn giao theo Biên bản giao, nhận vật chứng của Cơ quan điều tra (PC01) và Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ ngày 17 tháng 02 năm 2025.

[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

- Trần Đàm Công H và Hà Hoài L7 bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp cho người bị hại có quyền kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm./.

Cỡ chữ