vanban.org

Bản án 30/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H phạm t i “Mua bán trái phép ch t ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H 08(T8) năm tù. Thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày 21/12/2024. Tuyên bố: Bị cáo Ngô Tấn C1 phạm t i “Mua bán trái phép ch t ma túy” và phạm t i “Tổ chức sử dụng trái phép ch t ma túy” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn H cùng đồng bọn tổ chức và mua bán trái phép chất ma túy Điều 251 và 255 - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H phạm t i “Mua bán trái phép ch t ma túy”
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 13- LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HS-ST
Ngày: 22- 9 -2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13- LÂM ĐỒNG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Bích Lệ

2. Ông Trần Ngọc Đổi

- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Đình Thành- Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 13-Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13-Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Thủy- Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 13-Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2025/TLST-HS, ngày 29 tháng 8 năm 2025,theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HS ngày 08/9/2025 đối với các bị cáo:

1.Họ và tên:Trần Văn H (N), sinh ngày 16 tháng 03 năm 1996, tại t nh Bình Thuận(Nay là t nh Lâm Đồng); Nơi cư trú: Thôn H, xã H, t nh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình đ học v n: 01/12; dân t c: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn V, sinh năm 1970 và bà Châu Thị C, sinh năm 1967; có vợ là Đào Thị Mỹ D, sinh năm 1999, có 1 người con sinh năm 2017; tiền án: Không; tiền sự:Không; bị cáo đang bị tạm giữ từ ngày 21/12/2024 chuyển sang tạm giam từ ngày 29/12/2024 đến nay, có mặt.

2.Họ và tên:Ngô Tấn C1uội), sinh ngày 06 tháng 01 năm 1988 tại Bình Thuận(Nay là t nh Lâm Đồng); nơi cư trú:Thôn H, xã H, t nh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình đ học v n: 5/12; dân t c: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo:Không; con ông Ngô T n T, sinh năm 1968 và bà Trần Thị T1, sinh năm 1967; anh chị em có 5 người, lớn nh t sinh năm 1986, nhỏ nh t sinh năm 2001,bị cáo là con thứ hai trong gia đình; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo đang bị tạm giữ từ ngày 20/12/2024 chuyển sang tạm giam từ ngày 29/12/2024 đến nay, có mặt.

3. Họ và tên: Nguyễn Trọng T2, sinh ngày 07 tháng 5 năm 1996 tại Bình Thuận(Nay là t nh Lâm Đồng); nơi cư trú: Thôn H, xã H, t nh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình đ học v n: 02/12; dân t c: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1966 và bà Lê Thị T4, sinh năm 1968; anh chị em ru t có 6 người, vợ là Ngô Thị Tú S, sinh năm 2007, con có 1 người sinh năm 2025; tiền án: Không; tiền sự: Không;bị cáo đang bị tạm giữ từ ngày 20/12/2024 chuyển sang tạm giam từ ngày 29/12/2024 đến nay, có mặt.

Người làm chứng:

1/Nguyễn Huy Hoàng, sinh năm 1999 (vắng mặt)

Địa ch : thôn Hồng Hải, xã Hòa Thắng, t nh Lâm Đồng

2/Ngô T n Thành, sinh năm 1991(vắng mặt)

Địa ch : thôn Hồng Chính, xã Hòa Thắng, t nh Lâm Đồng

3/Nguyễn Hữu Tu n, sinh năm 1981(vắng mặt)

Địa ch : thôn H, xã H, t nh Lâm Đồng

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 ngày 20 tháng 12 năm 2024, nhận được tin báo quần chúng tại chòi chăn dê của Ngô T n C1 có d u hiệu tổ chức sử dụng và mua bán trái phép ch t ma túy nên Đ i Cảnh sát kinh tế- Ma túy Công an huyện B phối hợp Công an xã H kiểm tra. Khi th y Công an đến, Trần Văn H đứng lên đi nhanh vào chòi, khi tiến hành kiểm tra phát hiện dưới nền nhà nơi C1 và T2 đang ngồi có m t b dụng cụ sử dụng ma túy đá, gồm bình nhựa màu trắng thước14cm,trong bình nhựa có gắn nắp nhựa màu xanh, bên trong nắp nhựa có gắn ống nhựa màu trắng dài 3,5cm và m t đoạn ống thủy tinh uốn cong và thổi phình m t đầu, trong ống thủy tinh có chứa ch t dạng rắn; m t đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín m t đầu, kích thước 1,5cm x01 cm không chứa gì nên tiến hành lập biên bản thu giữ của Ngô T n C1 b dụng cụ sử dụng ma túy đá và 1 điện thoại di đ ng nhãn hiệu Samsung Galaxy A3 màu xanh có gắn sim số 0342639715 và 0586597528; thu của Nguyễn Trọng T2 m t đoạn ống nhựa trắng hàn kín m t đầu kích thước 1,5 x01cm bên trong không có gì và m t điện thoại di đ ng hiệu XIAOMI Redmi Note 12 màu xanh có gắn sim 0342078233, m t chiếc xe mô tô hiệu YAMAHA loại Exciter màu đen biển số 86B2-59589; Thu giữ của Trần Văn H m t điện thoại di đ ng nhãn hiệu OPPO Reno màu đen có gắn sim 0972541672, M t xe mô tô hiệu Honda loại VISION màu đen biển số 86B2-66763.

Tiếp tục khám xét chòi rẫy của Ngô T n C1, ngày 21/12/2024 Cơ quan điều tra thu giữ m t gói nilon màu trắng có khớp ép kín , kích thước 05 x08cm , bên trong có 5 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín hai đầu kích thước 01 x 02cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng và m t h p nhựa có nắp đậy màu vàng bên ngoài có chữ BUTTER COOKIES, 03 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín 1 đầu, kích thước 01 x2,5cm bên trong không có gì, 1 cân tiểu ly và 1 cây kéo dài 20cm được lập biên bản thu giữ.

Mẫu vật chứa tinh thể màu trắng trong ống thủy tinh và trong 5 đoạn ống nhựa màu trắng được niêm phong gởi giám định.

Tại kết luận giám định số 1639/KL-KTHS ngày 29/12/2024 kết luận như sau:

+ Ch t tinh thể màu trắng chứa trong ống thủy tinh ký hiệu M1 có khối lượng 0,0293gram là Methamphetamine.

+ Ch t tinh thể trắng chứa trong 05 đoạn ống nhựa màu trắng ký hiệu M2 có khối lượng 0,5676gram là Methamphetamine.

Quá trình điều tra được xác định như sau:

Lần 1: Vào khoảng 12 giờ ngày 20/12/2024 Trần Văn H điều khiển xe mô tô của H biển số 86B2-66763 đến khu vực siêu thị C3 thu c phường B -P gặp người thanh niên không rõ tên mua 600.000 đồng ma túy đá được chứa trong 6 đoạn ống nhựa, sau đó Trần Văn H điều khiển xe về lại Hòa Thắng là khoảng 13 giờ cùng ngày đến chòi rẫy của Ngô T n C1 chơi, m t lát sau Nguyễn Trọng T2 điều khiển xe mô tô biển số 86B2-59589 đến tìm H nhưng không gặp do H đi quanh khu đ t, không có trong chòi, có Ngô T n C1 đang nằm trên võng trong chòi, T5 hỏi Công Hạnh đâu không th y mà th y xe, C1 bảo đang đi loanh quanh đâu đó nên Nguyễn Trọng T6 ở lại chòi rẫy chờ H, khoảng 15 phút sau H đến. T2 nói với H bán thiếu cho T2 200.000 đồng ma túy ngày 25/12/2024 sẽ trả tiền nhưng H không đồng ý, vì T2 trước đó vào ngày 10/12/2024 cũng mua thiếu 200.000 đồng ma túy hẹn ngày 25/12/2024 trả.T2 năn n H được 5 phút thì H đồng ý bán thiếu đưa cho T2 01 tép ma túy đá có đặc điểm màu trắng, sau khi nhận được 1 tép ma túy, Nguyễn Trọng T2 bỏ tép ma túy xuống nền chòi trước mặt T2 và C1 đang ngồi.T2 hỏi C1 “b dụng cụ sử dụng ma túy đâu” thì C1 ch cho T2 nơi c t gi u, T2 đi l y và gắn vào rồi xuống bếp l y kéo cắt tép ma túy đưa cho C1 để đổ vào bình và dùng bật lửa đốt C1 sử dụng trước 1 hơi rồi để xuống, T2 tiếp tục l y sử dụng 1 hơi, lúc này Trần Văn H bên ngoài bước vào ngồi vào bên phải của T2 cầm bình lên tiếp tục sử dụng ma túy. Ngô T n C1 đi ra ngoài l y giày vào mang và tiếp tục cầm bình sử dụng 1 hơi ma túy, T2 tiếp tục sử dụng m t hơi, sau đố Ngô T n C1 đi chăn dê, T2 và H còn lại trong chòi. Sau khi sử dụng ma túy xong Trần Văn H l y xe đi còn T2 nằm ngủ tại chòi của C1. Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày Công chăn dê về và vào l y sà ben đào hố trồng cây. Sau 20 phút, C1 vào lại chòi hỏi T2 còn ma túy không thì T2 bảo còn và l y b dụng cụ sử dụng ma túy gi u trong cặp đang treo trên võng đưa cho C1 sử dụng cùng T2. Khi đang sử dụng, H từ ngoài vào ngồi bên phải của T2 cầm bình sử dụng ma túy cùng C1,T2.Sau đó H đi ra ngoài trước chòi nhìn th y lực lượng Công an đến, H vào chòi nói với C1 có ai đến tìm và H gi u bịch ma túy đá còn lại 5 tép lên vách hướng Tây của chòi bếp. Ngô T n C1 v i tháo b dụng cụ sử dụng ma túy ra gi u vào góc chòi gần võng nhưng bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện.

Lần 2: Sáng ngày 10/12/2024 Trần Văn H điều khiển xe mô tô của H đến khu vực siêu thị C3 mua 600.000 đồng ma túy của người không rõ tên sau đó về lại Hòa Thắng đến 14 giờ cùng ngày, Ngô T n C1 đang ở chòi rẫy thì Nguyễn Trọng T2 điều khiển xe mô tô đến và 20 phút sau, Trần Văn H cũng điều khiển xe mô tô đến. Tại đây, T2 hỏi H có ma túy không bán thiếu cho 200.000 đồng đến ngày 25/12/2024 trả, Trần Văn H đồng ý bán cho 1 tép. T2 rủ C1 sử dụng ma túy và C1 đồng ý l y bình sử dụng ra, T2 cắt ma túy ra đổ vào bình, C1 bật lửa đốt sử dụng trước, sau đó T2 sử dụng, H sử dụng sau cùng đến hết ma túy trong bình, 05 tép ma túy còn lại Trần Văn H khai đã tự sử dụng hết.

Lần3: Vào khoảng 10 giờ sáng ngày 16/12/2024, Trần Văn H điều khiển xe mô tô của H đứng tên đến khu vực siêu thị C3 gặp người không rõ tên mua 600.000 đồng ma túy được 06 tép. H c t ma túy và điều khiển xe về lại Hòa Thắng.Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Nguyễn Huy H1, sinh năm 1999 là con rễ của nhà Xuân Đ đang tạm trú tại thôn H, xã H nhắn Z cho H hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá để sử dụng và mượn bình sử dụng, H đồng ý và H1 yêu cầu giao ma túy tại nhà Xuân Đ1 cho H1. H l y ma túy dồn vào 1 tép lớn. Trần Văn H nghe Ngô T n C1 chuẩn bị về nhà tắm rửa nên hỏi C1 biết nhà Xuân Đ2 ở Hồ N không, thì C1 nói biết, H nhờ C1 giao tép ma túy và b dụng cụ sử dụng ma túy cho Nguyễn Huy H1 con rể nhà Xuân Đ thì C1 đồng ý.Trần Văn H đưa ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy cho C1 điều khiển xe mô tô biển số 86B5-529.10 của ông Ngô T n T(cha của Ngô T n C1) đến nhà bà Xuân Đ2 liên hệ cho Nguyễn Huy H1 giao l y số tiền 400.000 đồng. Sau khi đến nơi, C1 không liên lạc được với H1 nên báo lại cho H và 5 phút sau, H1 đến gặp Công nhận ma túy và b sử dụng ma túy. Số tiền bán ma túy cho H1, C1 đưa cho H1 nhận. Số ma túy còn lại H tự sử dụng cá nhân hết.

Về tang, vật chứng: +Mẫu M1 là M t đoạn ống thủy tinh uốn cong và thổi phình m t đầu được niêm phong dán gi y “NIÊM PHONG MẪU VẬT SAU GIÁM ĐỊNH” ký hiệu 1639/1 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T7 và d u tròn màu đỏ của Phòng K Công an t nh B sau khi khi giám định đã phân tích l y hết mẫu.

+ M2 là 05 đoạn ống nhựa không màu, hàn kín 2 đầu mỗi đoạn dài 02x01cm đã cắt l y mẫu và hoàn lại sau giám định 0,5014 gram Methamphetamine được niêm phong dán gi y “NIÊM PHONG MẪU VẬT SAU GIÁM ĐỊNH” ký hiệu 1639/2 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T7 và d u tròn màu đỏ của Phòng K Công an t nh B.

+ M t đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín m t đầu, kích thước 1,5cm x01 cm bên trong không chứa gì.

+M t điện thoại di đ ng nhãn hiệu Samsung Galaxy A3 màu xanh có gắn sim số 0342639715 và 0586597528;

+M t điện thoại di đ ng hiệu XIAOMI Redmi Note 12 màu xanh có gắn sim 0342078233.

+M t điện thoại di đ ng nhãn hiệu OPPO Reno màu đen có gắn sim 0972541672

+M t h p nhựa có nắp đậy màu vàng bên ngoài có chữ BUTTER COOKIES,bên trong có 03 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín 1 đầu, kích thước 01 x2,5cm bên trong không có gì.

+ M đoạn ống nhựa màu trắng hở m t đầu kích thướt 03 x01cm bên trong không chứa gì.

+M t cân tiểu ly và M t cây kéo kim loại dài 20cm

+M t chiếc xe mô tô hiệu YAMAHA loại Exciter màu đen biển số 86B2-59589.

+M t xe mô tô hiệu Honda loại VISION màu đen biển số 86B2-66763.

Các vật chứng đã chuyển Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 13 t nh Lâm Đồng ngày 25/7/2025.

Đối với chiếc xe mô tô biển số 86B5-52910 của ông Ngô T n T do C1 sử dụng giao ma túy cho Nguyễn Huy H1, ông T không biết nên cơ quan điều tra đã trả lại xe cho ông T.

Cáo trạng số 58/CT-VKSBB ngày 29 tháng 06 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố bị cáo Trần Văn H về t i “Mua bán trái phép ch t ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 B luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Truy tố bị cáo Ngô T n C1 về t i “Mua bán trái phép ch t ma túy” theo khoản 1 Điều 251 và t i “ Tổ chức sử dụng trái phép ch t ma túy” theo theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 B luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Truy tố bị cáo Nguyễn Trọng T2 về t i “Tổ chức sử dụng trái phép ch t ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 B luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13-Lâm Đồng sau khi luận t i, giữ nguyên Cáo trạng truy tố các bị cáo Trần Văn H, Nguyễn Trọng T2 và Ngô T n C1 theo t i danh đã truy tố và áp dụng:

+ Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 (thành khẩn khai báo, chưa có tiền án, tiền sự) B luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị H i đồng xét xử xử phạt Trần Văn H từ 07 (B) năm 06 (Sáu) tháng đến 08 (T8) năm tù về t i “Mua bán trái phép ch t ma túy”.

+ Khoản 1 Điều 251 và điểm a, b khoản 2 Điều 255 điểm s khoản 1, Điều 51 (thành khẩn khai báo); Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 55 B luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt Ngô Tấn C1 từ 02(Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù về t i “Mua bán trái phép ch t ma túy”; từ 07(Bảy) năm 06(Sáu) tháng đến 08(T8 ) năm tù về t i “Tổ chức sử dụng trái phép ch t ma túy”.Tổng hợp hình phạt bị cáo phải ch p hành chung là 9 năm 06 tháng đến 10 năm 06 tháng tù.

+ Điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 (thành khẩn khai báo); Điều 38; Điều 17; Điều 58 B luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt Nguyễn Trọng T2 từ từ 07(Bảy) năm 06(Sáu) tháng đến 08 (T8) năm tù về t i “Tổ chức sử dụng trái phép ch t ma túy”.

Hình phạt bổ sung: Không;

Về xử lý tang vật chứng: - Đối với M2 hoàn lại sau giám định 0,5014 gram Methamphetamine được niêm phong dán gi y “ NIÊM PHONG MẪU VẬT SAU GIÁM ĐỊNH” ký hiệu 1639/2 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T7 và d u tròn màu đỏ của Phòng K Công an t nh B; M t đoạn ống thủy tinh uốn cong và thổi phình m t đầu được niêm phong dán gi y “NIÊM PHONG MẪU VẬT SAU GIÁM ĐỊNH” ký hiệu 1639/1 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T7 và d u tròn màu đỏ của Phòng K Công an t nh B; M t đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín m t đầu, kích thước 1,5cm x01 cm bên trong không chứa gì; M t h p nhựa có nắp đậy màu vàng bên ngoài có chữ BUTTER COOKIES, bên trong có 03 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín 1 đầu, kích thước 01 x2,5cm bên trong không có gì; M t cân tiểu ly và M t cây kéo kim loại dài 20cm là vật c m lưu hành và vật không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với m t điện thoại di đ ng nhãn hiệu Samsung Galaxy A3 màu xanh có gắn sim số 0342639715 và 0586597528; M t điện thoại di đ ng nhãn hiệu OPPO Reno màu đen có gắn sim 0972541672; M t xe mô tô hiệu Honda loại VISION màu đen biển số 86B2-66763 là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm t i nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;

Đối với m t chiếc xe mô tô hiệu YAMAHA loại Exciter màu đen biển số 86B2-59589 và M t điện thoại di đ ng hiệu XIAOMI Redmi Note 12 màu xanh có gắn sim 0342078233 của bị cáo Nguyễn Trọng T2 không liên quan hành vi phạm t i nên trả lại bị cáo được quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 B luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 B luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với số tiền 400.000 đồng bị cáo bán ma túy cho Nguyễn Huy H1 là thu nhập b t chính phải n p lại sung vào ngân sách nhà nước.

(Các tang vật đã được chuyển Phòng thi hành án dân sự Khu vực 13-Lâm Đồng ngày 25/7/2025).

Các bị cáo thừa nhận hành vi và t i danh như Viện kiểm sát truy tố các bị cáo và không có ý kiến gì thêm.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 13-Lâm Đồng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiền hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. H i đồng xét xử đánh giá các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp và đúng pháp luật.

ét về c n cứ uộc tội: Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn H, Ngô T n C1 và bị cáo Nguyễn Trọng T2 khai nhận hành vi phạm t i phù hợp biên bản sự bắt người phạm t i quả tang (BL20- 23), biên bản niêm phong đồ vật tài liệu (BL 24); biên bản xác nhận tang vật (BL 25-26); biên bản khám xét (BL 28); biên bản mở niêm phong (BL 29), biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định (BL 33); Kết luận giám định (BL 32), biên bản xác định hiện trường và bản ảnh hiện trường (BL 37- 80); bản tường trình của Ngô T n C1 (BL 172); biên bản ghi lời khai (BL 173-188); bản tường trình của bị cáo Nguyễn Trọng T2 (BL 222), biên bản ghi lời khai Nguyễn Trọng T2 (BL 223-232), biên bản l y lời khai Trần Văn H (BL 125-131), biên bản đối ch t (BL 233-240), bản tường trình của người làm chứng Nguyễn Huy H1 (BL 245-247), biên bản kiểm tra nhật ký của Nguyễn Huy H1; kết luận giám định số 1639/KL-KTHS ngày 29/12/2024 (BL 86), Kết luận điều tra số 200/BKL-KSMT ngày 16/5/2025 (BL 258-264) và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. H i đồng xét xử xét th y đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 10/12/2024 đến ngày 20/12/2024 bị cáo Trần Văn H dùng xe mô tô biển số 86B2-667.63 của bị cáo điều khiển đến khu vực siêu thị C3 mua ma túy về bán 02 lần ma túy cho bị cáo Nguyễn Trọng T2 vào ngày 10 và ngày 20/12/2024 với số tiền 400.000 đồng nhưng T2 chưa đưa tiền và 1 lần nhờ bị cáo Nguyễn Trọng T2 đem ma túy bán cho Nguyễn Huy H1 vào ngày 16/12/2024 thu 400.000 đồng. Số ma túy còn lại bị cáo H c t gi u trong người mục đích bán nhưng khi phát hiện Công an đến kiểm tra bị cáo gi u trên vách nhà bếp tại chòi rẫy của Ngô T n C1 có khối lượng 0,5676gram Methamphetamine đã phạm vào t i “Mua bán trái phép ch t ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 B luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi của Ngô T n C1 biết Trần Văn H bán ma túy, nhưng ngày 16/12/2024, bị cáo H nhờ bị cáo C1 giao ma túy cho Nguyễn Huy H1 1lần đã phạm vào t i “Mua bán trái phép ch t ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 B luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra,bị cáo Ngô T n C1 đã cung c p địa điểm, dụng cụ và cắt ma túy bỏ vào bình cho bị cáo Nguyễn Trọng T2, Trần Văn H cùng bị cáo C1 sử dụng chung tại chòi rẫy bị cáo đang ở vào ngày 10/12/2024 và ngày 20/12/2024 đã phạm vào t i “Tổ chức sử dụng trái phép ch t ma túy” được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 B luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Trọng T2 mua ma túy của Trần Văn H mục đích sử dụng và cùng các bị cáo Ngô T n C1, Trần Văn H sử dụng chung 2 lần tại chòi rẫy của Ngô T n C1 đã phạm vào t i “Tổ chức sử dụng trái phép ch t ma túy” được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 B luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

ét về hành vi, t nh ch t phạm tội, nhận thức, động cơ phạm tội của các ị cáo: Các bị cáo nhận thức được ch t Methamphetamine là ch t ma túy, r t nguy hại đến sức khỏe và tinh thần cho con người nếu sử dụng. Nhà nước đ c quyền quản lý, kiểm soát, c m tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép dưới b t cứ hình thức nào nhưng các bị cáo vẫn xem thường pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm t i.

Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi phạm t i có tính đồng phạm giản đơn.Trong đó, đối với hành vi phạm t i mua bán trái phép ch t ma túy, bị cáo Trần Văn H là người trực tiếp mua ma túy về bán cho bị cáo Nguyễn Trọng T2 để Tâm và C1 tổ chức sử dụng ma túy cho các bị cáo cùng sử dụng. Ngoài ra, bị cáo nhận thức được mua bán ma túy là hành vi phạm t i, pháp luật nghiêm c m nhưng bị cáo không những bán ma túy cho Nguyễn Trọng T2 mà còn nhờ bị cáo Ngô T n C1 giao ma túy giúp cho bị cáo ch vì mục đích lợi nhuận nên bị cáo Trần Văn H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi bán ma túy cho T2 và H1, khối lượng ma túy còn lại 0,5014 Methamphetamine bị cáo c t gi u tại chòi rẫy của Ngô T n C1 mục đích bị cáo bán nên phải chịu trách nhiệm hình sự chung về hành vi mua bán trái phép ch t ma túy. Đối với bị cáo Ngô T n C1 nhận thức được hành vi giao ma túy giúp cho bị cáo H bán cho người nghiện là Nguyễn Huy H1 là hành vi phạm t i nhưng vẫn cố ý thực hiện nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về t i “mua bán trái phép ch t ma túy” cùng với bị cáo H với vai trò đồng phạm giúp sức.

Đối với bị cáo Ngô T n C1 và bị cáo Nguyễn Trọng T2 nhận thức được ch t ma túy là ch t đ c hại đến sức khỏe người sử dụng nên nhà nước đ c quyền quản lý hành chính về ch t ma túy nhưng ch vì muốn sử dụng ma túy mà các bị cáo cố ý trực tiếp thực hiện hành vi phạm t i.Trong đó, bị cáo Ngô T n C1 dùng nơi ở của bị cáo tại chòi rẫy và cung c p b dụng cụ sử dụng ma túy, bị cáo Nguyễn Trọng T2 là người cung c p ma túy cho các bị cáo C1, T2 và H cùng sử dụng chung.Do đó, bị cáo C1 và T2 cùng trực tiếp thực hiện hành vi phạm t i nên phải chịu trách nhiệm chung về t i “Tổ chức sử dụng trái phép ch t ma túy” với tình tiết tăng nặng “tổ chức cho nhiều người” và “nhiều lần” là tình tiết định khung. H i đồng xét xử xem xét tính ch t từng hành vi tham gia của các bị cáo để quyết định hình phạt khi lượng hình phù hợp theo quy định tại Điều 58 B luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

ét về tình ti t t ng n ng, gi m nh trách nhiệm hình s :

Tình ti t t ng n ng trách nhiệm hình s : Các bị cáo Trần Văn H, Ngô T n C1 và Nguyễn Trọng T2 không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 của B luật hình sự 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, trong vụ án này, bị cáo Ngô T n C1 thực hiện hành vi phạm 2 t i trong cùng m t vụ án.Vì vậy, H i đồng xét xử xét tổng hợp hình phạt bu c bị cáo C1 phải ch p hành chung theo quy định tại Điều 55 B luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình ti t gi m nh trách nhiệm hình s : Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn H, Ngô T n C1 và Nguyễn Trọng T2 thành khẩn khai báo về hành vi phạm t i của các bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 B luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) H i đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo khi lượng hình.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về áp dụng điều luật, t i danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với các bị cáo có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên H i đồng xét xử ch p nhận.

Về xử lý tang vật chứng vụ án: - Đối với 05 đoạn ống nhựa không màu cắt l y mẫu hoàn lại sau giám định 0,5014 gram Methamphetamine được niêm phong dán gi y “NIÊM PHONG MẪU VẬT SAU GIÁM ĐỊNH” ký hiệu 1639/2 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T7 và d u tròn màu đỏ của Phòng K Công an t nh B; M t đoạn ống thủy tinh uốn cong và thổi phình m t đầu được niêm phong dán gi y “NIÊM PHONG MẪU VẬT SAU GIÁM ĐỊNH” ký hiệu 1639/1 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T7 và d u tròn màu đỏ của Phòng K Công an t nh B; M t đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín m t đầu, kích thước 1,5cm x01 cm bên trong không chứa gì; M t h p nhựa có nắp đậy màu vàng bên ngoài có chữ BUTTER COOKIES, bên trong có 03 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín 1 đầu, kích thước 01 x2,5cm bên trong không có gì; M t cân tiểu ly và M t cây kéo kim loại dài 20cm là vật c m lưu hành và vật không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với M t điện thoại di đ ng nhãn hiệu Samsung Galaxy A3 màu xanh có gắn sim số 0342639715 và 0586597528; M t điện thoại di đ ng nhãn hiệu OPPO Reno màu đen có gắn sim 0972541672; M t xe mô tô hiệu Honda loại VISION màu đen biển số 86B2-66763 là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm t i nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước;

- Đối với số tiền bị cáo Trần Văn H bán ma túy cho Nguyễn Huy H1 là thu nhập b t chính phải n p lại sung vào ngân sách nhà nước.

- Đối với M t chiếc xe mô tô hiệu YAMAHA loại Exciter màu đen biển số 86B2-59589 và M t điện thoại di đ ng hiệu XIAOMI Redmi Note 12 màu xanh có gắn sim 0342078233 của bị cáo Nguyễn Trọng T2 không liên quan hành vi phạm t i nên trả lại bị cáo được quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 B luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 B luật tố tụng hình sự năm 2015. (Các tang vật đã được chuyển Phòng thi hành án dân sự Khu vực 13 t nh Lâm Đồng ngày 25/7/2025).

Án phí: Các bị cáo Trần Văn H, Ngô T n C1 và Nguyễn Trọng T2 phải n p án phí theo quy định tại Điều 136 B luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326 của UBTVQH 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc h i 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 B luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H phạm t i “Mua bán trái phép ch t ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn H 08(T8) năm tù. Thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày 21/12/2024.

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251 và điểm a, b khoản 2 Điều 255 B luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 55 B luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Tấn C1 phạm t i “Mua bán trái phép ch t ma túy” và phạm t i “Tổ chức sử dụng trái phép ch t ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Ngô T n C1 02(Hai) năm 06(S1) tháng tù về t i “Mua bán trái phép ch t ma túy” và 08(T8) năm tù về t i “Tổ chức sử dụng trái phép ch t ma túy”. Tổng hợp hình phạt bu c bị cáo phải ch p hành hình phạt chung là 10(Mười) năm 06(Sáu) tháng tù.Thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày 20/12/2024.

Căn cứ vào: Điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 B luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 .

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng T2 phạm t i “Tổ chức sử dụng trái phép ch t ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng T2 08(T8) năm tù.Thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày 20/12/2024.

Hình phạt bổ sung: Không;

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 47 B luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2 Điều 106 B luật tố tụng hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021.

- ử uộc: Bị cáo Trần Văn H phải n p lại 400.000 đồng sung vào Ngân sách nhà nước. -Tịch thu tiêu hủy: 05(Năm) đoạn ống nhựa không màu và mẫu hoàn lại sau giám định 0,5014 gram Methamphetamine được niêm phong dán gi y “ NIÊM PHONG MẪU VẬT SAU GIÁM ĐỊNH” ký hiệu 1639/2 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T7 và d u tròn màu đỏ của Phòng K Công an t nh B; M t đoạn ống thủy tinh uốn cong và thổi phình m t đầu được niêm phong dán gi y “NIÊM PHONG MẪU VẬT SAU GIÁM ĐỊNH” ký hiệu 1639/1 bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T7 và d u tròn màu đỏ của Phòng kỷ thuật hình sự Công an t nh B; M t đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín m t đầu, kích thước (1,5cm x 01) cm bên trong không chứa gì; M t h p nhựa có nắp đậy màu vàng bên ngoài có chữ BUTTER COOKIES, bên trong có 03 đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín 1 đầu, kích thước (01 x2,5)cm bên trong không có gì;M đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín hỏ 1 đầu kích thướt (01x03)cm, bên trong không có gì; M t cân tiểu ly và m t cây kéo kim loại dài 20cm.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: M t điện thoại di đ ng nhãn hiệu Samsung Galaxy A3 màu xanh có gắn sim số 0342639715 và 0586597528; M t điện thoại di đ ng nhãn hiệu OPPO Reno màu đen có gắn sim 0972541672; M t xe mô tô hiệu Honda loại VISION màu đen biển số 86B2-66763.

- Tr lại ị cáo Nguyễn Trọng T2:M t chiếc xe mô tô hiệu YAMAHA loại Exciter màu đen biển số 86B2-59589 và M t điện thoại di đ ng hiệu XIAOMI Redmi Note 12 màu xanh có gắn sim 0342078233.

(Các tang vật đã được chuyển Phòng thi hành án dân sự Khu vực 13-Lâm Đồng ngày 25/7/2025).

Căn cứ vào: Điều 136 B luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc h i 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

ử uộc:Các bị cáo Trần Văn H, Ngô T n C1, Nguyễn Trọng T2 mỗi bị cáo phải n p 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/9/2025).

Cỡ chữ