vanban.org

Bản án 30/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Lào Cai Tuyên án 31/08/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/08/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đức T và Nguyễn Văn T1.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T và bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Phạt bị cáo Nguyễn Đức T 70.000.000 (Bảy mươi triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức T phạm tội "Tổ chức đánh bạc" - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đức T và Nguyễn Văn T1.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HS-PT
Ngày 26/8/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Chí Thiện.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Dũng và bà Nguyễn Thị Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Nhật Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thu Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 26/8/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lào Cai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2025/TLPT - HS ngày 28/7/2025 đối với các bị cáo Nguyễn Đức T và Nguyễn Văn T1, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án sơ thẩm số 17/2025/HS - ST ngày 20/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện VB, tỉnh Lào Cai (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 8, tỉnh Lào Cai).

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Đức T; Sinh ngày 23/01/1993 tại huyện VB, tỉnh Lào Cai.

Nơi cư trú: Thôn Ó, xã LP, huyện VB, tỉnh Lào Cai (nay là xã KY, tỉnh Lào Cai); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình V và bà Nông Thị Ph; Có vợ là Hoàng Thị X và có 02 con (lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020); Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn T1; Sinh ngày 02/9/1982 tại huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.

Nơi cư trú: Thôn XG, xã HT, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T3 và bà Tạ Thị Tr; Có vợ là Nguyễn Thị Th và có 04 con (lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2016); Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

Ngoài ra còn có các bị cáo Công Văn H và bị cáo Cao Thị M không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 00 phút ngày 14/02/2025, tại Phòng khám Hồng Hà, số 40, tổ 9, thị trấn KY, huyện VB, Phòng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh Lào Cai cùng với Công an thị trấn KY, huyện VB tiến hành kiểm tra và làm việc với Nguyễn Đức T là nhân viên Phòng khám Hồng Hà. Qua làm việc, T thừa nhận đã liên hệ và kết nối với một số thư ký lô, đề trên địa bàn huyện VB để mua bán số lô, số đề trái pháp luật.

Vật chứng thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 Pro màu đen, tiến hành khám xét khẩn cấp nơi làm việc của T phát hiện và tạm giữ số tiền 4.900.000 đồng, qua lời khai của T, Phòng Cảnh sát hình sự đã tiến hành làm việc với một số người liên quan cụ thể:

Đối với Nguyễn Văn T1, xác định, khoảng tháng 4, tháng 5/2024, T1 ký hợp đồng với Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết Lào Cai, làm đại lý bán xổ số cho công ty. Sau đó biết T có mua bán số lô, số đề nên T1 liên hệ bán số lô, số đề cho T để hưởng lợi hoa hồng. Hàng ngày, T1 ghi số lô, số đề cho các khách qua đường tại nhà mình rồi chuyển qua tin nhắn zalo cho T, mục đích để được hưởng lợi tiền phần trăm hoa hồng chênh lệch giữa T và khách chơi. Tiến hành khám xét và tạm giữ của T1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh bên trong lắp 01 sim Viettel; 01 tờ giấy khổ A4 có ghi tổng hợp các số lô, số đề; 01 tập vé xổ số lô tô Lào Cai, trong đó có các tờ từ số 019195 đến 019199 chưa sử dụng; 01 bàn nhựa cũ, một bên có gắn biển Công ty TNHH MTV xổ số kiến thiết Lào Cai; 01 bút bi vỏ màu vàng có chữ “JOYKO 025 BLUE”; Tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 7.939.000 đồng.

Đối với Công Văn H, xác định năm 2021, H bắt đầu làm Đại lý cho Công ty TNHH MTV Xổ số kiến thiết Lào Cai, khoảng giữa năm 2023, H trực tiếp nhận ghi số lô, số đề cho khách tại nhà mình rồi chuyển qua tin nhắn zalo cho T mục đích để được hưởng lợi tiền phần trăm hoa hồng chênh lệch giữa T và khách chơi. Tiến hành khám xét và tạm giữ của H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh, đã qua sử dụng; 01 quyển vở kẻ ngang, bìa có chữ “K.POP NOTEBOOK”, bên trong có một số trang giấy có ghi các số lô, số đề và ngày tương ứng có chữ ký của H; 02 bút mực dạng bút chữ A; Tiền Việt Nam 3.937.000 đồng, 01 hợp đồng đại lý bán vé xổ số kiến thiết số 2239/2024/HĐĐLHX-XS; Tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam 11.000.000 đồng.

Đối với Cao Thị M, xác định, khoảng tháng 6/2024, M bắt đầu thực hiện hành vi nhận ghi số lô, số đề tại bàn Đại lý Xổ số kiến thiết ở nhà cho các khách qua đường tại nhà mình, sau đó tổng hợp lại rồi chuyển qua tin nhắn zalo cho T mục đích để được hưởng lợi tiền phần trăm hoa hồng chênh lệch giữa T và khách chơi. Tạm giữ của M: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A7 màu xanh, có gắn 01 sim; 01 bút bi màu xanh nhãn hiệu Double A Tritouch; 01 bàn nhựa gắn biển của Công ty xổ số và 02 ghế nhựa màu xanh; 01 hợp đồng thử việc đại lý bán vé xổ số kiết thiết Lào Cai số 2306; 01 quyển sổ có ghi chép các con số và chữ tại các trang trong sổ có chữ ký xác nhận của M; Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 3.310.000 đồng.

Quá trình điều tra đã xác định được khoảng giữa năm 2023, T đã liên hệ với một số thư ký đề gồm T1, M và H để thỏa T mua bán trái phép số lô, số đề, ăn thua trực tiếp với người chơi nhằm mục đích kiếm tiền chi tiêu sinh hoạt cá nhân. T thống nhất nhận các số lô, số đề của các thư ký cụ thể như sau: Đối với số đề tính giá 73 (Ví dụ 10.000 đồng tiền đề chỉ phải trả cho T 7.300 đồng), số lô giá 22.000 đồng/01 điểm, lô xiên tính 9.000 đồng/01 điểm, ba số, bốn số (Ba càng, bốn càng) giá 90 (Ví dụ 10.000 đồng chỉ phải trả cho T 9.000 đồng). Riêng đối với T1, T tính giá số đề 72 (Ví dụ 10.000 đồng tiền đề chỉ phải trả cho T 7.200 đồng). T1, H, M thỏa T với khách số đề tính giá 80%/tổng số tiền cược; Số lô tính giá 23.000 đồng /01 điểm. Hàng ngày, T1, H, M trực tiếp bán số lô, số đề cho khách tại nhà mình, sau đó tổng hợp lại ghi vào một tờ giấy rồi chụp ảnh chuyển cho T qua ứng dụng zalo. Sau khi nhận bảng của các thư ký, T không chuyển bảng đi đâu mà trực tiếp ôm (thắng thua trực tiếp với các thư ký).

Hình thức chơi lô, đề và trả thưởng căn cứ vào kết quả Xổ số miền Bắc mở thưởng hàng ngày, số lô quy định là hai số cuối các giải, nếu số lô mua trùng với hai số cuối của các giải thì thắng 80.000 đồng/01 điểm lô. Số đề được quy định là hai số cuối của giải đặc biệt, nếu số đề khách mua trùng với hai số cuối của giải đặc biệt thì thắng 70 lần số tiền mua (Ví dụ mua 10.000 đồng thắng 700.000 đồng). Lô xiên gồm xiên 2,3,4 (tức là có 02 số cuối của 02 giải, 03 giải, 04 giải), nếu khách mua 1 điểm lô xiên 2,3,4 và đồng thời trong kết quả các giải có hai chữ số cuối trùng với bộ 2 số (xiên 2), bộ 3 số (xiên 3), bộ 4 số (xiên 4) thì sẽ thắng số tiền là 100.000 đồng (đối với xiên 2) 400.000 đồng (đối với xiên 3) và 800.000 đồng (đối với xiên 4). Ba càng (3 số) được quy định là ba số cuối của giải đặc biệt, nếu số 3 càng khách mua trùng với ba số cuối của giải đặc biệt thì thắng 400 lần số tiền mua (mua 10.000 đồng thắng 4.000.000 đồng). Việc thanh toán tiền thắng thua T và các thư ký thỏa T tính theo ngày hoặc khi thắng thua được 10.000.000 đồng sẽ thanh toán bằng hình thức trả tiền mặt hoặc chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng.

Ngày 11/02/2025, T1 bán số lô, số đề cho khách qua đường đến ghi trực tiếp, sau đó tổng hợp các số lô, số đề rồi sử dụng tài khoản zalo “Nguyễn Văn T1” chuyển hình ảnh ghi bảng tổng hợp số lô, số đề đến tài khoản Zalo của T có tên “T” với 8.625.000 đồng tiền đề, 335 điểm lô tương ứng với số tiền 7.370.000 đồng. Sau khi đối chiếu với kết quả mở thưởng Xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 11/02/2025, bảng số lô, số đề của T1 trúng thưởng 55.000 đồng tiền đề và 87 điểm lô, tổng trả thưởng cả đề và lô là 10.810.000 đồng. Tổng số tiền mua bán số lô, số đề và trả thưởng là 26.805.000 đồng. Trong đó, T được hưởng lợi số tiền 5.185.000 đồng là tiền chênh lệch giữa số tiền bảng số lô, đề của T1 và tiền trả thưởng, T1 được hưởng lợi tiền phần trăm chênh lệch giữa khách chơi và T là 1.025.000 đồng.

Ngày 12/02/2025, T1 bán số lô, số đề cho khách qua đường đến ghi trực tiếp, sau đó tổng hợp các số lô, số đề rồi sử dụng tài khoản zalo “Nguyễn Văn T1” chuyển hình ảnh ghi bảng tổng hợp số lô, số đề đến tài khoản Zalo của T có tên “T” với 8.587.000 đồng tiền số đề, 488 điểm lô tương ứng với số tiền 10.736.000 đồng. Sau khi đối chiếu với kết quả mở thưởng Xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 12/02/2025, bảng số lô, số đề của T1 trúng thưởng 60.000 đồng tiền đề và 109 điểm lô, tổng trả thưởng cả đề và lô là 12.920.000 đồng. Tổng số tiền mua bán số lô, số đề và trả thưởng là 32.243.000 đồng. Trong đó T được hưởng lợi số tiền 6.403.000 đồng là tiền chênh lệch giữa số tiền bảng số lô, đề của T1 và tiền trả thưởng, T1 được hưởng lợi tiền phần trăm chênh lệch giữa khách chơi và T là 1.174.960 đồng.

Ngày 13/02/2025: T1 bán số lô, số đề cho khách qua đường đến ghi trực tiếp, sau đó tổng hợp các số lô, số đề rồi sử dụng tài khoản zalo “Nguyễn Văn T1” chuyển hình ảnh ghi bảng tổng hợp số lô, số đề đến tài khoản Zalo của T có tên “T” với 8.330.000 đồng tiền số đề, 352 điểm lô tương ứng với số tiền 7.744.000 đồng. Sau khi đối chiếu với kết quả mở thưởng Xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 13/02/2025, bảng số lô, số đề của T1 trúng thưởng 35.000 đồng tiền đề và 186 điểm lô, tổng trả thưởng cả đề và lô là 17.330.000 đồng. Tổng số tiền mua bán số lô, đề và trả thưởng là 33.404.000 đồng. T không được hưởng lợi vì bị âm 1.256.000 đồng, T1 được hưởng lợi tiền phần trăm chênh lệch giữa khách chơi và T là 1.018.400 đồng.

Cùng ngày 13/02/2025, H bán số lô, số đề cho khách qua đường đến ghi trực tiếp, sau đó tổng hợp các số lô, số đề rồi sử dụng tài khoản zalo “Cong Hien” chuyển hình ảnh ghi bảng tổng hợp số lô, số đề đến tài khoản Zalo của T có tên “T” với 4.035.000 đồng tiền số đề và 40 điểm lô tương ứng với số tiền 880.000 đồng. Sau khi đối chiếu với kết quả mở thưởng Xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 13/02/2025, bảng số lô, số đề của H trúng thưởng 75.000 đồng tiền đề tương ứng với số tiền 5.250.000 đồng. Tổng số tiền mua bán số lô, đề và trả thưởng là 10.165.000 đồng, T không được hưởng lợi vì bị âm 335.000 đồng, Hiên được hưởng lợi tiền phần trăm chênh lệch giữa khách chơi và Nguyễn Đức T là 362.800 đồng.

Ngày 14/02/2025: T1 bán số lô, số đề cho khách qua đường đến ghi trực tiếp, sau đó tổng hợp các số lô, số đề rồi sử dụng tài khoản zalo “Nguyễn Văn T1” chuyển hình ảnh ghi bảng tổng hợp số lô, số đề đến tài khoản Zalo của T có tên “T” với 9.582.000 đồng tiền số đề, 694 điểm lô tương ứng với số tiền 15.268.000 đồng, Tổng số tiền cả lô và đề là 24.850.000 đồng.

Cùng ngày 14/02/2025, H sử dụng tài khoản zalo “Cong Hien” nhắn tin đến đến tài khoản Zalo của T là “T” nội dung ghi số đề “đầu 9×40” tương ứng với 400.000 đồng tiền đề. Ngoài ra, H còn chụp gửi qua zalo cho T 01 bảng ghi tổng hợp các số lô, số đề, tuy nhiên do khi gần có kết quả H không thấy T trả lời, không liên lạc được với T nên H đã thu hồi tin nhắn hình ảnh chụp bảng số lô, số đề nên không có căn cứ để chứng minh làm rõ.

Cùng ngày 14/02/2025, Mai bán số lô, số đề cho khách qua đường đến ghi trực tiếp, sau đó sử dụng tài khoản zalo “Cao Mai” chuyển hình ảnh ghi 04 bảng số lô, số đề đến tài khoản Zalo của T có tên “T” với số tiền đề là 2.608.000 đồng, 608 điểm lô tương ứng với số tiền 13.376.000 đồng, 05 điểm lô xiên tương ứng với số tiền 50.000 đồng. Tổng số tiền cả lô và đề là 16.034.000 đồng.

Đến 18 giờ 25 phút ngày 14/02/2025, các bị cáo chưa kịp chốt thanh toán tiền với nhau thì bị Công an phát hiện, kiểm tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép số lô, số đề như đã nêu trên.

Tiến hành kiểm tra điện thoại thu giữ của T, H, M phát hiện nhiều nội dung tin nhắn liên quan đến hoạt động mua bán số lô, số đề trái phép, giữa các bị cáo, nội dung tin nhắn và dữ liệu trích xuất phù hợp với nội dung khai báo của các bị cáo và vật chứng thu giữ.

Kết luận giám định số số 107/KL-KTHS ngày 16/4/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai kết luận về đối tượng giám định là điện thoại di động tạm giữ của Nguyễn Văn T1, kết quả: Không trích xuất, khôi phục được dữ liệu lưu trữ trong điện thoại cần giám định (do điện thoại không hiển thị được màn hình).

Ngoài ra, T còn khai nhận trong các ngày 11/02/2025 và 12/02/2025 T còn nhận bảng số lô, số đề của Công Văn H, ngày 11/02/2025, 12/02/2025 và ngày 13/02/2025, nhận bảng số lô, số đề của M, tuy nhiên do đã chốt số liệu thắng - thua nên T đã xóa tin nhắn cũ không nhớ được nội dung cụ thể, do đó không có căn cứ làm rõ. Đối với những ngày trước đó, T, T1, H, M khai nhận có được hưởng lợi từ hành vi mua bán số lô, số đề nhưng không nhớ cụ thể, số tiền có được đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Do không còn dữ liệu nên không có căn cứ làm rõ.

Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2025/HS-ST ngày 20/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện VB, tỉnh Lào Cai (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 8 - Lào Cai) đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức T và Nguyễn Văn T1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

- Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 322; điểm v, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Khấu trừ cho bị cáo thời gian bị tạm giữ từ ngày 15/02/2025 đến ngày 24/02/2025.

- Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Khấu trừ cho bị cáo thời gian bị tạm giữ từ ngày 15/02/2025 đến ngày 24/02/2025.

Ngoài ra bản án còn xử lý vật chứng, truy thu số tiền thu lời bất chính, tuyên án phí, quyền kháng cáo cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 02/7/2025, bị cáo Nguyễn Văn T1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Ngày 03/7/2025, bị cáo Nguyễn Đức T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm.

Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như bản án sơ thẩm đã xác định và thay đổi nội dung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai trình bày quan điểm và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm đ khoản 1 Điều 357, Điều 342 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đức T và Nguyễn Văn T1. Sửa bản án Hình sự sơ thẩm số 17/2025/HS-ST ngày 20/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện VB, tỉnh Lào Cai (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 8, tỉnh Lào Cai) như sau:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T và bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm v, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự.

Phạt bị cáo Nguyễn Đức T 70.000.000 triệu đồng đến 80.000.000 triệu đồng nộp ngân sách nhà.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự.

Phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 60.000.000 triệu đồng đến 70.000.000 triệu đồng nộp ngân sách nhà nước.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm, không có kháng có, không bị kháng nghị đề nghị giữ nguyên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp

Về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo:

Lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Đức T và Nguyễn Văn T1 tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của các bị cáo khác và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ của vụ án như vậy có đủ cơ sở để khẳng định:

Đối với bị cáo Nguyễn Đức T.

Từ 11/02/2024 đến ngày 14/02/2024 đã trực tiếp nhận các bảng số lô, số đề từ các bị cáo khác với tổng số tiền mua, bán số lô, số đề trái phép và tiền trúng thưởng là 143.901.000 đồng. Trong đó 04 lần số tiền đều trên 20.000.000 đồng, bị cáo được hưởng lợi số tiền là 11.588.000 đồng.

Đối với bị cáo Nguyễn Văn T1.

Từ ngày 11/02/2024 đến ngày 14/02/2024 đã trực tiếp nhận số lô, số đề của người chơi rồi chuyển cho bị cáo T với tổng số tiền là 117.302.000 đồng, trong đó cả 04 lần số tiền đều trên 20.000.000 đồng, bị cáo được hưởng lợi 3.218.360 đồng.

Trong một thời gian ngắn các bị cáo đã nhiều lần tổ chức cho nhiều người khác tham gia đánh bạc, hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Đức T và Nguyễn Văn T1 là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm nghiêm trọng trật tự quản lý kinh tế, ảnh hưởng đến sự an toàn xã hội và trật tự pháp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của các bị cáo:

Đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn, trong đó bị cáo Nguyễn Đức T giữ vai trò chính, bị cáo đã ký hợp đồng làm đại lý bán xổ số và bán số lô, số đề trái phép. Bị cáo Nguyễn Văn T1 là một trong các “Thư ký đề”, giúp sức cho T bằng cách thu thập các số lô, số đề, số tiền từ khách chơi và gửi đến cho T để thống kê.

Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đều có nhân thân tốt, có nơi ở rõ ràng có nghề nghiệp ổn định, chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tham gia tích cực trong việc ủng hộ bão lũ và ủng hộ các gia đình có hoàn cảnh khó khăn các bị cáo đều là gia đình có công với cách mạng cụ thể:

Bị cáo T được Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai tặng Bằng khen là học sinh tiêu biểu, xuất sắc nhất xã LP, huyện VB, tỉnh Lào Cai giai đoạn 2002 đến năm 2005; Ông nội là ông Nguyễn Văn L được Chủ tịch nước cộng hòa XHCN Việt Nam tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất; Bố đẻ là ông Nguyễn Đình V được Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai tặng Bằng khen ngày 13/02/2006 và ngày 08/4/2011; Ngày 07/4/2016 được Bộ trưởng, chủ nhiệm ủy ban dân tộc tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp phát triển các dân tộc; Chủ tịch UBND tinh Lào Cai tặng huy hiệu “Vì sự nghiệp xây dựng và phát triển tỉnh Lào Cai”; Ban chấp hành Trung ương tặng huy hiệu 30 năm tuổi đảng; Mẹ đẻ là bà Nông Thị Ph được Bộ trưởng bộ y tế tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp sức khỏe nhân dân ngày 28/01/2008. Ngoài ra, bị cáo còn giao nộp Giấy xác nhận ngày 05/11/2019 bị cáo cứu giúp, chở ông Nguyễn Văn V1, trú tại thôn Ó, xã LP xuống Bệnh viện mắt Trung Ương để mổ cấp cứu trong quá trình dựng nhà bị thép ly chọc vào mắt; Ủng hộ trường Trung học cơ sở xã LP, huyện VB mùa thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2024 -2025 được nhà trường xác nhận, nhặt được ví của anh Hà Văn Chiến và đã trả lại cho người đánh mất được UBND xã KH, huyện VB, tỉnh Lào Cai xác nhận. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm v, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền truy thu 7.088.000 đồng (Bao gồm tiền truy thu và tiền án phí hình sự sơ thẩm) và có xác nhận thu nhập của chính quyền địa phương. Đây được coi là tình tiết mới thể hiện sự ăn năn hối cải của bị cáo và bị cáo thu nhập ổn định để là căn cứ xem xét chuyển sang phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Văn T1 có bố đẻ là ông Nguyễn Văn T3 được nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến; Hộ gia đình Nguyễn Văn T1 đã ủng hộ chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát xã NT năm 2025 số tiền 5.000.000 đồng có phiếu thu UBMTTQ xã NT, huyện VB, tỉnh Lào Cai; Bị cáo đã tham gia chương trình phát động ủng hộ cơn bão số 3 YAGI tại thôn NN và ủng hộ các các hộ dân bị thiệt hại trên địa bàn xã KH các nhu yếu phẩm trị giá 5.500.000 đồng được UBND xã KYH, huyện VB, tỉnh Lào Cai cấp Giấy xác nhận số 112/XN-UBND ngày 19/5/2025; Ngày 14/9/2024 hộ gia đình bị cáo đã ủng hộ các nhu yếu phẩm tại các thôn KT, thôn KP, thôn K tổng giá trị hỗ trợ là 6.500.000 đồng được UBND xã NT, huyện VB, tỉnh Lào Cai cấp Giấy xác nhận số 10/XN-UBND ngày 21/5/2025. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo cung cấp bổ sung Quyết định của Bộ tư lệnh quân khu I về trợ cấp 01 lần đối với công dân hỏa tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ đối với ông Tạ Văn D là ông ngoại của bị cáo; Quyết định của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Giang về điều chỉnh trợ cấp đối với ông Nguyễn Văn T3 là bố đẻ do bị nhiễm chất độc hóa học suy giảm khả năng lao động. Đã tự nguyện nộp số tiền truy thu và tiền án phí hình sự sơ thẩm là 3.418.360 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, đủ điều kiện để chuyển sang hình phạt khác là phạt tiền là có căn cứ đúng pháp luật, đảm bảo tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lào Cai là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm đ khoản 1 Điều 357; Điều 342 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Đức T và Nguyễn Văn T1. Sửa bản án Hình sự sơ thẩm số 17/2025/HS-ST ngày 20/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện VB, tỉnh Lào Cai (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 8, tỉnh Lào Cai) như sau:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T và bị cáo Nguyễn Văn T1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm v, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự.

Phạt bị cáo Nguyễn Đức T 70.000.000 (Bảy mươi triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự.

Phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 60.000.000 (Sáu mươi triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án, cho đến khi thi hành xong bên người phải Thi hành án còn phải chịukhoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Đức T và Nguyễn Văn T1 không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị.

Xác nhận bị cáo Nguyễn Đức T đã nộp số tiền truy thu và tiền án phí hình sự sơ thẩm là 7.088.000 (Bảy triệu không trăm tám mươi tám ngàn) đồng

Xác nhận bị cáo Nguyễn Văn T1 đã nộp số tiền truy thu và tiền án phí hình sự sơ thẩm là 3.418.360 (Ba triệu bốn trăm mười tám ngàn ba trăm sáu mươi) đồng.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa T thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6, điều 7, điều 7a, 7b, 7c và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Dũng Nguyễn Thị Vân

Phùng Chí Thiện

Cỡ chữ