vanban.org

Bản án 30/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 11/04/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: căn cứ Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Trần Văn T, Huỳnh Ngọc T, Ngô Quốc C, Đỗ Quốc H và Lê Cao Minh Tr phạm tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Về hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Toàn và đồng phạm - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: căn cứ Điều 255 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN NAM
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HS-ST
Ngày: 11-4-2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN NAM, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Văn Tâm

Ông Thông Minh Tấn

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Phong là Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Mỹ Lộc - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 23/2024/QĐXXST-HS ngày 28/3/2024 đối với các bị cáo:

1. Trần Văn T, sinh ngày 07/6/2005, nơi sinh: Bình Thuận; nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; tiền án, tiền sự: Không; con ông Trần Văn P và Huỳnh Ngọc T (đã chết); vợ, con: không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hàm Thuận Nam từ ngày 20/12/2023 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Huỳnh Ngọc T, sinh năm 1980, nơi sinh: Bình Thuận; nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; tiền án, tiền sự: Không; con ông Huỳnh Ngọc S (đã chết) và bà Ngô Thị V (già yếu); vợ: Nguyễn Thị Bé N (đã ly hôn); con: 02 người con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2019.

Nhân thân: ngày 26/8/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận xử phạt 09 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự 1999 theo bản án số 88/2008/HSST. Ngày 22/01/2009 chấp hành xong hình phạt tù. Đến nay đã được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hàm Thuận Nam từ ngày 20/12/2023 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Đỗ Quốc H, sinh ngày 21/01/2005, nơi sinh: Bình Thuận; nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; tiền án, tiền sự: không; con ông Đỗ Văn H và bà Huỳnh Thị T; vợ, con: không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hàm Thuận Nam từ ngày 20/12/2023 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

4. Lê Cao Minh Tr, sinh năm 2002, nơi sinh: thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: thôn H, xã T, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; tiền án, tiền sự: không; con ông Lê Minh N và bà Cao Lê O; vợ: Lương Yến N, con: 01 người con sinh năm 2023.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hàm Thuận Nam từ ngày 20/12/2023 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

5. Ngô Quốc C, sinh ngày 23/8/2005, nơi sinh: Bình Thuận; nơi cư trú: thôn H, xã T, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; tiền án, tiền sự: không; con ông Ngô Văn X và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hàm Thuận Nam từ ngày 16/01/2024 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Huỳnh Ngọc C, sinh năm 1991. Nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. (vắng mặt)

2. Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1980. Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. (có mặt)

3. Ông Huỳnh Minh H, sinh năm 2005. Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 19/12/2023, Trần Văn T rủ Ngô Quốc C đi đến nhà Huỳnh Ngọc T ở thôn Hiệp Lễ, xã Tân Thuận, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận để sử dụng ma túy đá. Khi đi, T mang theo một số dụng cụ để sử dụng ma túy gồm 01 ống thủy tinh, 01 ống hút và 01 gói nylon chứa ma túy đá. Khi đến nhà Huỳnh Ngọc T, Toàn rủ T sử dụng ma túy thì T đồng ý, sau đó T lấy cho T một chai nhựa để T chế bộ dụng cụ sử dụng ma túy, còn T vào nhà chuẩn bị bàn, ghế nhựa mang ra bên hông phía sau nhà để cả nhóm ngồi sử dụng ma túy. Sau khi chế xong bộ dụng cụ, T đổ toàn bộ gói ma túy vào trong bộ dụng cụ rồi cùng với C và T sử dụng, mỗi người hút được hai đến ba hơi thì T đi ra phía sau nhà cách vị trí sử dụng ma túy khoảng 10m để sửa ống nước, còn T và C tiếp tục ngồi chơi. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, T gọi điện cho Đỗ Quốc H để nhờ Huy mang sạc điện thoại đến nhà Trí cho Toàn mượn thì Huy đồng ý. Một lúc sau, H và Lê Cao Minh Tr cùng đến nhà T. Lúc này, do số ma túy ban đầu mà T, C và T sử dụng đã hết nên T tiếp tục rủ Huy, Tr và C mua ma túy để sử dụng thì cả ba đồng ý. Lúc này, T đưa cho H 200.000 đồng để mua ma túy và 60.000 đồng mua nước, thuốc lá. Còn Ngô Quốc C đưa xe mô tô nhãn hiệu Sonic biển kiểm soát 86B4-628.92 của C cho H để đi mua ma túy. Sau đó, Tr điều khiển xe mô tô trên chở H xuống khu vực Dinh Thầy Thím ở thị xã La Gi và mua 200.000 đồng ma túy đá của một đối tượng không rõ lai lịch và mang về nhà Trí, tại đây Huy đổ toàn bộ gói ma túy mới mua vào bộ dụng cụ để cả nhóm gồm T, C, H và Tr sử dụng. Trong lúc cả nhóm đang sử dụng thì Huỳnh Ngọc C (sinh năm 1991, trú thôn Hiệp Lễ, xã Tân Thuận, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận) là em ruột của Huỳnh Ngọc T đến chơi và hút một hơi ma túy rồi rời đi. Một lúc sau, Trí từ ngoài vườn đi vào thấy Tr, Toàn, C, H đang sử dụng ma túy nên cũng tham gia hút một hơi rồi tiếp tục đi sửa ống nước. Đến khoảng 22 giờ 35 phút cùng ngày, C quay lại nhà T để sạc đèn pin thì cả nhóm bị Công an huyện Hàm Thuận Nam phối hợp với Công an xã Tân Thuận bắt quả tang.

Tang vật thu giữ bao gồm:

- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm một chai nhựa phần nắp chai gắn một ống hút nhựa và một nỏ thủy tinh bên trong có chứa chất rắn màu nâu;

- 01 (một) hột quẹt gas;

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Sonic biển kiểm soát 86B4-628.92.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác minh được xe mô tô biển kiểm soát 86B4-62892 hiệu Sonic là tài sản của ông Huỳnh Văn T - sinh năm 1980, trú thôn Thanh Phong, xã Tân Thuận, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận. Vào ngày 19/12/2023, con trai của ông Tám là Huỳnh Minh H - sinh năm 2005, trú thôn Thanh Phong, xã Tân Thuận, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận mượn xe mô tô trên đi chơi, sau đó H cho Ngô Quốc C mượn để Cường chở bạn về. Do đó, ông T và H đều không biết việc Cường sử dụng xe mô tô trên để đi mua ma túy. Nên Cơ quan điều tra trả lại xe mô tô trên cho ông T là có căn cứ.

Tại kết quả xét nghiệm chất ma túy của Trung tâm y tế huyện Hàm Thuận Nam ngày 20/12/2023 xác định: Ngô Quốc C, Huỳnh Ngọc T, Trần Văn T, Đỗ Quốc H, Huỳnh Ngọc C và Lê Cao Minh Tr đều dương tính với MET (Methamphetamine – Ma túy đá); riêng Ngô Quốc C, Trần Văn T, Đỗ Quốc H còn dương tính với MDMA (thuốc lắc), Huỳnh Ngọc C còn dương tính với THC (cần sa, bồ đà).

Tại bản kết luận giám định số 1473/KL-KTHS ngày 27/12/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận: 01 (một) đoạn ống thủy tinh được uốn cong, thổi phồng một đầu, bên trong có chứa chất rắn màu nâu (Ký hiệu M). Mẫu M có khối lượng 0,0056 gam, là Methamphetamine. (Mẫu M đã sử dụng hết trong công tác giám định).

Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 26/02/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận truy tố Trần Văn Toàn về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo Huỳnh Ngọc T, Ngô Quốc C, Đỗ Quốc H và Lê Cao Minh Tr về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa,

Kiểm sát viên giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa phát biểu ý kiến: giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trần Văn T, Huỳnh Ngọc T, Ngô Quốc C, Đỗ Quốc H và Lê Cao Minh Tr như Cáo Trạng số 26/CT-VKS ngày 26/02/2024. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a và điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo Trần Văn T mức án từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để tuyên bố các bị cáo Huỳnh Ngọc T, Ngô Quốc C, Đỗ Quốc H và Lê Cao Minh Tr phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và xử phạt các bị cáo Huỳnh Ngọc T, Ngô Quốc C, Đỗ Quốc H và Lê Cao Minh Tr mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Về xử lý vật chứng: căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa phần nắp trai gắn ống hút nhựa, 01 hộp quẹt gas, 01 đoạn ống thủy tinh được uốn cong thổi phồng một đầu.

Các bị cáo đều thừa nhận hành vi bản thân đã thực hiện như nội dung bản cáo trạng; trong phần trình bày lời nói sau cùng các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, rất hối hận và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa không có yêu cầu gì về dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Thuận Nam, Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, Kiểm sát viên đã thực hiện đều đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các chứng cứ, tài liệu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Ngọc C đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, xét thấy ông Huỳnh Ngọc Công đã có lời khai đầy đủ thể hiện tại hồ sơ vụ án và sự vắng mặt của ông Huỳnh Ngọc C không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt ông Huỳnh Ngọc C.

Về hành vi và tội danh: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do dó, đủ cơ sở để kết luận: Để thỏa mãn nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy của bản thân nên vào khoảng 17 giờ ngày 19/12/2023, Trần Văn T rủ Ngô Quốc C đi đến nhà Huỳnh Ngọc T ở thôn Hiệp Lễ, xã Tân Thuận, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận để sử dụng ma túy đá; T mang theo một số dụng cụ để sử dụng ma túy gồm 01 ống thủy tinh, 01 ống hút và 01 gói nylon chứa ma túy đá. Khi đến nhà Huỳnh Ngọc T, T rủ T sử dụng ma túy thì T đồng ý, sau đó T lấy cho T một chai nhựa để T chế bộ dụng cụ sử dụng ma túy, còn T vào nhà chuẩn bị bàn, ghế nhựa mang ra bên hông phía sau nhà để cả nhóm ngồi sử dụng ma túy; sau đó T, C, Trí cùng nhau sử dụng ma túy. Do số ma túy ban đầu mà T, C và Trí sử dụng đã hết nên T tiếp tục rủ H, Tr và C mua ma túy để sử dụng thì cả ba đồng ý. Lúc này T đưa cho H 200.000 đồng để mua ma túy, còn Ngô Quốc C đưa xe mô tô nhãn hiệu Sonic biển kiểm soát 86B4-628.92 do C đang quản lý cho H để đi mua ma túy. Sau đó, Tr điều khiển xe mô tô trên chở H xuống khu vực Dinh Thầy Thím ở thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận mua 200.000 đồng ma túy đá của một đối tượng không rõ lai lịch và mang về nhà T, tại đây H đổ toàn bộ gói ma túy mới mua vào bộ dụng cụ để cả nhóm gồm T, C, H và Tr sử dụng; khi cả nhóm đang sử dụng ma túy thì Huỳnh Ngọc C đến chơi và có hút một hơi. Cả nhóm sử dụng ma túy đến khoảng 22 giờ 35 phút cùng ngày thì bị Công an huyện Hàm Thuận Nam phối hợp với Công an xã Tân Thuận bắt quả tang.

Hành vi cung cấp trái phép chất ma túy, cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy, cung cấp địa điểm và các hành vi khác nhằm đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể của người khác và từ 02 người trở lên của các bị cáo đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng “Đối với 02 người trở lên” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015. Riêng đối với bị cáo Trần Văn T đã 02 lần cung cấp ma túy cho người khác sử dụng trái phép nên còn phạm vào tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Xét tính chất và mức độ phạm tội của các bị cáo: hành vi của các bị cáo đã xâm phạm quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma túy, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Đây là vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, bị cáo Trần Văn Toàn là người khởi xướng, cung cấp ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy cho cả nhóm sử dụng; Huỳnh Ngọc T, Đỗ Quốc H và Lê Cao Minh Tr có vai trò thực hành tích cực, trong đó Huỳnh Ngọc T là người cung cấp chai nhựa cho T để làm dụng cụ sử dụng ma túy, chuẩn bị bàn ghế và địa điểm để cả nhóm sử dụng ma túy, Lê Cao Minh Tr và Đỗ Quốc H là người đi mua ma túy về cho cả nhóm sử dụng; Ngô Quốc C có vai trò giúp sức do giao xe mô tô mình đang quản lý cho Triết và H đi mua ma túy.

Các bị cáo không có tiền án, tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo; riêng bị cáo Đỗ Quốc C, gia đình bị cáo cung cấp được giấy xác nhận của địa phương về hoàn cảnh khó khăn và ông ngoại là người có công với Nhà nước nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo Cường.

Về hình phạt: với hành vi và mức độ phạm tội của các bị cáo, sau khi xem xét nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự các bị cáo được áp dụng, Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc các bị cáo phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian bằng hình phạt tù có thời hạn để các bị cáo được giáo dục, cải tạo, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung tại địa phương.

Về xử lý vật chứng: vật chứng là 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa phần nắp trai gắn ống hút nhựa, 01 hộp quẹt gas, 01 đoạn ống thủy tinh được uốn cong thổi phồng một đầu. Đây là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Về án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Việc ông Huỳnh Ngọc C có đến chơi và hút một hơi ma túy tại nhà của bị cáo Huỳnh Ngọc Trí nhưng không tham gia cùng với các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là đúng pháp luật.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: căn cứ Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Trần Văn T, Huỳnh Ngọc T, Ngô Quốc C, Đỗ Quốc H và Lê Cao Minh Tr phạm tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt:

2.1. Căn cứ điểm a và điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Trần Văn T 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2023.

2.2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: các bị cáo Huỳnh Ngọc T, Đỗ Quốc H và Lê Cao Minh Tr mỗi bị cáo 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2023.

2.3. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: bị cáo Đỗ Quốc C 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2024.

3. Xử lý vật chứng: căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tịch thu, tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 chai nhựa phần nắp trai gắn ống hút nhựa, 01 hộp quẹt gas, 01 đoạn ống thủy tinh được uốn cong thổi phồng một đầu được niêm phong trong phong bì số 1473 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên có đóng dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận.

(Theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận).

4. Án phí: căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Trần Văn T, Huỳnh Ngọc T, Ngô Quốc C, Đỗ Quốc H và Lê Cao Minh Tr mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông Huỳnh Ngọc Công có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ