vanban.org

Bản án 30/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương Tuyên án 17/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nhâm Văn D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nhâm Văn D 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 17/12/2022. 3/ Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nhâm Văn D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sun…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nhâm Văn D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIM THÀNH
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2023/HS-ST
Ngày: 17/5/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH - TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tích và ông Bùi Đức Hiệp.

- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương ghi biên bản phiên toà: Bà Đinh Thị Thu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu và ông Nguyễn Duy Đạt, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2023/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2023/QĐST-HS ngày 13/4/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2023/QĐHPT-HS ngày 26/4/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2023/QĐHPT-HS ngày 10/5/2023, đối với bị cáo Nhâm Văn D , sinh năm 1984. Nơi cư trú: Thôn L, xã L, huyện K tỉnh Hải Dương. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nhâm Văn H và bà Nguyễn Thị U. Có vợ là Nguyễn Thị Ng. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2010. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện Kim Thành từ ngày 17/12/2022 đến ngày 23/12/2022. Bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Kim Thành và Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương từ ngày 23/12/2022 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

1. Tạ Duy C; 2. Bùi Tri D1; 3. Nguyễn Tiến Th (Đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 17/12/2022, Nhâm Văn D đi nhờ xe máy của người đi đường ra Quốc lộ 17B, sau đó đi xe buýt đến khu vực cổng Bệnh viện H thuộc thành phố Hải Phòng, mua của một người đàn ông không rõ tên và địa chỉ 01 gói ma túy loại Heroin với giá 200.000 đồng. Sau đó, D cất gói ma túy vừa mua vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi xe buýt và đi nhờ xe máy của người đi đường về đến xã L thì D xuống xe đi bộ về nhà. Khoảng hơn 11 giờ cùng ngày, khi D đi bộ về gần đến UBND xã L thì gặp Tạ Duy C, sinh năm 1989, trú tại thôn C, xã L, huyện K (là cháu họ của D ), D rủ C đến nhà D sử dụng ma tuý, C đồng ý. Sau đó, D tiếp tục đi bộ về đến đầu làng thôn T, xã L thì gặp bạn là Bùi Tri D1, sinh năm 1985, trú tại thôn T, xã L, D rủ D1 về nhà D sử dụng ma tuý, D1 đồng ý. Khi D về nhà được khoảng 05 phút, đang ở trong phòng bếp thì C đến nhà D và đi xuống bếp. Lúc này, D lấy gói ma tuý mua được nêu trên ra và chia làm hai phần, một phần gói vào mảnh giấy màu vàng đưa cho C để C cất đi sử dụng sau. Phần còn lại D để trên mảnh giấy màu trắng và để ở nền nhà bếp. Sau đó, D lấy một ít Heroin cho vào mảnh giấy bạc, D và C dùng bật lửa ga có sẵn ở bếp đốt phía dưới và hít khói Heroin. Khi D và C đang sử dụng ma túy thì D1 đến và sử dụng ma túy cùng với D và C . Hồi 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi D , C và D1 đang sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng bếp nhà D thì bị Tổ công tác thuộc Công an huyện Kim Thành phối hợp với Công an xã L phát hiện bắt quả tang, thu giữ dưới nền nhà tại vị trí trước mặt D , C và D1 đang ngồi 01 chiếc bật lửa ga, 01 mảnh giấy bạc có bám dính chất màu đen (niêm phong ký hiệu M1), một mảnh giấy màu trắng bên trên có chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong ký hiệu M2), D , C và D1 đều khai nhận chất bột dạng cục màu trắng là Heroin, bật lửa và mảnh giấy bạc là dụng cụ D , C và D1 dùng để sử dụng Heroin. Ngoài ra, lực lượng công an thu giữ trong túi quần bên phải phía trước C đang mặc 01 gói giấy màu vàng chứa chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong mẫu vật ký hiệu M3), D và C khai nhận đó là Heroin D cho C để sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 20/KL-KTHS ngày 19/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất màu đen bám dính trên mảnh giấy bạc được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1, gửi đến giám định là ma tuý loại Heroin. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng; chất bột dạng cục màu trắng trong gói giấy màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2, gửi đến giám định có khối lượng 0,020 gam là ma tuý, loại Heroin. Chất bột dạng cục màu trắng trong gói giấy màu vàng được niêm phong trong phong bì ký hiệu M3, gửi đến giám định có khối lượng 0,037 gam là ma tuý, loại Heroin. Hoàn lại đối tượng giám định gồm: 01 mảnh giấy bạc và 01 phong bì niêm phong mẫu vật ký hiệu M1, được niêm phong trong phong bì ký hiệu T1; 01 mảnh giấy màu trắng và 01 phong bì niêm phong mẫu vật ký hiệu M2 được niêm phong trong phong bì ký hiệu T2; 01 mảnh giấy màu vàng và 01 phong bì niêm phong mẫu vật ký hiệu M3 được niêm phong trong phong bì ký hiệu T3.

Kết quả kiểm tra mẫu nước tiểu của Nhâm Văn D , Tạ Duy C và Bùi Tri D1 ngày 17/12/2022 đều dương tính với Heroin.

Cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 24 tháng 3 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nhâm Văn D về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo xác định có hành vi mua ma túy rồi rủ Tạ Duy C và Bùi Tri D1 về nhà bị cáo sử dụng ma túy, bị cáo chuẩn bị công cụ và dùng nhà ở của mình để tổ chức cho Tạ Duy C và Bùi Tri D1 cùng bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy loại Heroine; bị cáo xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là đúng và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên nội dung truy tố và đề nghị:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nhâm Văn D phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Về điều luật áp dụng: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Luật phí và lệ phí. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Về hình phạt:

Về hình phạt chính:

Xử phạt bị cáo Nhâm Văn D từ 07 năm 09 tháng đến 08 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 17/12/2022.

Về hình phạt bổ sung: Không phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy bạc, 01 mảnh giấy màu trắng, 01 mảnh giấy màu vàng, 03 phong bì niêm phong mẫu vật M1, M2, M3 và 01 chiếc bật lửa ga.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo, các chứng cứ xác định tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, kết quả kiểm tra mẫu nước tiểu của Nhâm Văn D , Bùi Tri D1 , Tạ Văn C và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng hơn 11 giờ ngày 17/12/2022, Nhâm Văn D đã cung cấp ma túy, dụng cụ sử dụng chất ma túy và dùng chỗ ở của mình tại thôn L, xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương để D , Tạ Duy C và Bùi Tri D1 sử dụng trái phép chất ma túy loại Heroin. Hồi 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi D , C , D1 đang sử dụng ma túy thì bị Tổ công tác thuộc Công an huyện Kim Thành phối hợp với công an xã L, huyện K, tỉnh Hải Dương phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, STT 9, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Kết quả kiểm tra mẫu nước tiểu của Nhâm Văn D , Tạ Duy C và Bùi Tri D1 ngày 17/12/2022 đều dương tính với Heroin.

Bị cáo Nhâm Văn D là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình.

Việc bị cáo Nhâm Văn D mua ma túy, dùng nơi ở của mình và chuẩn bị công cụ để bị cáo và các đối tượng Tạ Duy C và Bùi Tri D1 sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi tổ chức đối với 02 người trở lên sử dụng trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nhâm Văn D về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, điều kiện nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo một mình thực hiện hành vi phạm tội, tự mình mua ma túy, dùng nơi ở của mình và chuẩn bị công cụ để bị cáo và các đối tượng thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi phạm tội đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự“Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về quyết định hình phạt: Qua phân tích, đánh giá các chứng cứ, căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân, mục đích phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo lần đầu phạm tội, tổ chức cho hai người sử dụng trái phép chất ma túy, không nhằm mục đích thu lợi bất chính, nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên, hành vi phạm tội của bị cáo làm ảnh hưởng không tốt đến an ninh trật tự tại địa phương, là một trong những nguyên nhân phát sinh các tệ nạn và tội phạm khác, do vậy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không nhằm mục đích thu lợi bất chính; bản thân bị cáo đang bị giam giữ, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Căn cứ quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xác định 01 mảnh giấy bạc, 01 mảnh giấy màu trắng, 01 mảnh giấy màu vàng, 03 phong bì niêm phong mẫu vật M1, M2, M3 và 01 chiếc bật lửa ga, là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

* Trong vụ án này:

Đối với người bán chất ma tuý cho Nhâm Văn D , tài liệu điều tra không xác định được là ai, ở đâu, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Thành không đủ căn cứ để xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nhâm Văn D , Tạ Duy C và Bùi Tri D1 ; hành vi tàng trữ trái phép 0,020 gam Heroin của D và hành vi tàng trữ trái phép 0,037 gam Heroin của C chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, ngày 17/02/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Thành đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 12/QĐ-XPHC; 13/QĐ-XPHC; 14/QĐ-XPHC đối với D , C và D1 về các hành vi vi phạm nêu trên là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

1/ Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nhâm Văn D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

2/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nhâm Văn D 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 17/12/2022.

3/ Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy bạc, 01 mảnh giấy màu trắng, 01 mảnh giấy màu vàng, 03 phong bì niêm phong mẫu vật M1, M2, M3 và 01 chiếc bật lửa ga.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 08 giờ 15 phút, ngày 28/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương).

4/ Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nhâm Văn D phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5/ Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ