vanban.org

Bản án 30/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 13/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Đức T1 và Nguyễn Viết T2 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Giao bị cáo Nguyễn Đức T cho UBND xã ĐH, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong giám sát, giáo dục bị cáo. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Đức T 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức Tài cùng đồng phạm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Đức T1 và Nguyễn Viết T2 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 190 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DUY XUYÊN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2022/HSST
Ngày 13-7-2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUY XUYÊN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Tám.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Tình và bà Hứa Thị Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo, Thư ký Toà án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hà, Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2022, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Đức T, sinh ngày 21/7/2000, tại xã ĐH, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Trú tại: thôn B, xã ĐH, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: nhân viên bưu điện; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; tôn giáo: không; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam;

Tiền án, tiền sự: không.

Con ông Nguyễn Đức Thống, sinh năm 1964 và bà Ngô Thị Tính, sinh năm 1964; Cùng trú: thôn B, xã ĐH, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam;

Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ B, chưa có vợ, con;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Đức T1, sinh ngày 09/4/2001, tại xã ĐH, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Trú tại: thôn B, xã ĐH, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; tôn giáo: không; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam;

Tiền án, tiền sự: không.

Con ông Nguyễn Đức Anh, sinh năm 1973 và bà Lê Thị Liên, sinh năm 1974 (chết tháng 6/2022), trú: thôn B, xã ĐH, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam;

Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ B, chưa có vợ, con;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Viết T2 (Tên gọi khác: Út), sinh ngày 15/5/2003, tại thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố Đồng Tâm, thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng;

Nghề nghiệp: Không có; Trình độ học vấn: 10/12; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam;

Tiền án, tiền sự: không.

Con ông Nguyễn Viết Minh, sinh năm 1972 và bà Võ Thị Thanh Yên, sinh năm 1973, chết năm 2020; Trú: Khu phố Đồng Tâm, thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng; Gia đình bị cáo có 4 anh em, bị cáo là con thứ B, chưa có vợ, con;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1- Nguyễn Nho Vỹ, sinh ngày 04/9/2001; vắng mặt

Trú tại: thôn Giáo Ái, xã ĐH, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

2- Phan Hoài Thắng, sinh năm 2001; vắng mặt

Trú tại: thôn Giáo Ái, xã ĐH, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

3- Bà Ngô Thị Tính, sinh năm 1964; có mặt

Trú tại: thôn B, xã ĐH, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

4- Nguyễn Viết Tuấn, sinh năm 1993; có mặt

Trú tại: khối phố Đồng Tâm, thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sau khi tìm được người và thỏa thuận số lượng, giá cả về pháo hoa nổ để bán có tên T khoản Facebook là “Văn Minh’, Nguyễn Đức T thỏa thuận bán cho người này 10 hộp pháo hoa nổ, loại 36 viên/1 hộp, mỗi hộp có giá 1.750.000 đồng, tổng 10 hộp có giá 17.500.000 đồng và hẹn đến ngày 15/01/2022 gặp nhau tại bùng binh cầu Giao Thuỷ thuộc xã Duy Hoà, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam kiểm tra pháo và trả tiền. Sau khi thỏa thuận mua bán pháo, T đi đến nhà Nguyễn Nho Vỹ nhờ tìm nguồn cung cấp pháo, Vỹ đồng ý nên điện thoại cho Phan Hoài Thắng thỏa thuận mua 10 hộp pháo với giá 12.800.000 đồng. Thắng yêu cầu cọc trước số tiền 3.000.000 đồng nên T mang số tiền 3.000.000 đồng đến giao cho Thắng. Đến sáng ngày 15/01/2022, Thắng hẹn đến nhà Thắng lấy pháo nhưng vì T bận nên nhờ Vỹ đến nhận giúp. Một lúc sau, T đến nhà Vỹ lấy pháo và đưa Vỹ số tiền 9.800.000 đồng còn lại nhờ trả giúp cho Thắng rồi T chở số pháo trên về cất giấu tại nhà T. Đến trưa cùng ngày, T sử dụng T khoản Messenger Facebook “Nguyễn Đức T” nhắn tin đến T khoản Messenger Facebook “Nguyễn Đức T1” cho Nguyễn Đức T1 rủ T1 và nói T1 rủ thêm Nguyễn Viết T2 cùng tham gia đi bán pháo thì T cho T1 và T2 số tiền 500.000 đồng; T1 và T2 đều đồng ý. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, T lấy 10 hộp pháo bỏ vào Bo nhựa rồi để lên gác Bga xe môtô BKS 92D1-524.52 để đem đi bán. Khi T điều khiển xe môtô trên đi được một đoạn thì gặp T1 và T2 đang đi bộ trên đường nên T nói T1 và T2 về nhà lấy thêm xe để cùng đi. Lúc này, T1 và T2 đi về nhà nội của T2 ở thôn B, xã ĐH lấy xe môtô 49D1-556.54 rồi quay lại chỗ T đang đứng đợi. Tại đây, T điều khiển xe môtô BKS 92D1-524.52 chở Bo nhựa đựng pháo chạy phía trước còn T2 điều khiển xe môtô 49D1-556.54 chở T1 chạy phía sau T. Khi cả B đi đến đoạn cánh đồng trống thì T để Bo nhựa đựng pháo xuống đất, lấy ra 01 hộp pháo bỏ vào bên trong cốp xe môtô BKS 92D1-524.52 rồi nói T2 chở pháo nên T2 lấy Bo pháo để lên phía trước xe môtô 49D1-556.54 rồi điều khiển xe chở T1 và Bo pháo đi phía sau T. Khi đi đến đoạn cầu Giao Thủy thì T2 và T1 dừng xe lại và lấy ra 02 hộp pháo bỏ vào bên trong cốp xe môtô 49D1-556.54 rồi tiếp tục điều khiển xe đi tiếp về hướng xã Duy Thu, huyện Duy Xuyên. Khi đi qua khỏi bùng binh cầu Giao Thủy khoảng 02km thì gặp người mua pháo rồi người này dẫn đi về hướng xã Duy Thu. Đến 20 giờ 30 phút ngày 15/01/2022, khi đi đến đoạn đường bêtông thuộc thôn Thạnh Xuyên, xã Duy Thu, huyện Duy Xuyên thì T, T1 và T2 bị lực lượng Công an xã Duy Thu tuần tra phát hiện bắt quả tang thu giữ trong cốp xe môtô hiệu Wave BKS 92D1-524.52 do Nguyễn Đức T điều khiển 01 khối hộp có kích thướt (14x14x12,5)cm bên ngoài khối hộp được bọc giấy màu in hình hoa văn chữ nước ngoài bên trong khối hộp có 36 ống trụ tròn liên kết với nhau (nghi là pháo nổ); thu giữ tại vị trí gác Bga xe môtô hiệu Vission BKS 49D1-556.54 do Nguyễn Viết T2 điều khiển chở theo sau là Nguyễn Đức T1 01 Bo nhựa màu hồng bên ngoài có dòng chữ “Vietnam post” bên trong có chứa 07 khối hộp mỗi khối hộp có kích thướt (14x14x12,5)cm bên ngoài được bọc giấy màu in hình hoa văn chữ nước ngoài bên trong mỗi khối hộp có 36 ống trụ tròn liên kết với nhau (nghi là pháo nổ); thu giữ bên trong cốp xe môtô hiệu Vission BKS 49D1-556.54 02 khối hộp mỗi khối hộp có kích thướt (14x14x12,5)cm bên ngoài được bọc giấy màu in hình hoa văn chữ nước ngoài bên trong mỗi khối hộp có 36 ống trụ tròn liên kết với nhau (nghi là pháo nổ).

Tại kết luận giám định số 74/C09C-Đ2 ngày 24/01/2021 của Phân viên KHHS tại thành phố Đà Nẵng kết luận: 10 khối hộp (mỗi hộp có kích thước 14cmx14cmx12,5cm, bên ngoài bọc giấy màu có in hoa văn và chữ nước ngoài; bên trong mỗi khối hộp có 36 ống giấy hình trụ tròn được liên kết với nhau) gửi giám định đều là pháo hoa nổ, tổng khối lượng là 14kg.

Tại phiên tòa, các bị cáo không ai khiếu nại gì về kết luận giám định.

Các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Đức T1 và Nguyễn Viết T2 thừa nhận cáo trạng truy tố hành vi phạm tội của các bị cáo là đúng, thống nhất về tội danh, khung hình phạt và xin giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị Tính và ông Nguyễn Viết Tuấn thống nhất nội dung cáo trạng truy tố. Ông bà đã nhận lại chiếc xe của mình và không có yêu cầu gì.

Bản Cáo trạng số: 24/CT-VKSDX-HS ngày 18 tháng 5 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên truy tố các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Đức T1 và Nguyễn Viết T2 về tội “Buôn bán hàng cấm" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 18 đến 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 đến 48 tháng và Nguyễn Đức T1, Nguyễn Viết T2 từ 12 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 đến 36 tháng

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 7 plus màu vàng, 01 điện thoại di động hiệu Qmobile màu bạc của Nguyễn Đức T, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus màu đen của Nguyễn Đức T1, 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng của Nguyễn Viết T2.

Tịch thu tiêu hủy 10 khối hộp mỗi khối hộp có kích thướt (14x14x12,5)cm bên ngoài được bọc giấy màu in hình hoa văn chữ nước ngoài bên trong mỗi khối hộp có 34 ống trụ tròn liên kết với nhau (đều là pháo hoa nổ) và 01 Bo nhựa màu hồng có dòng chữ “Vietnam post”.

Các bị cáo nói lời sau cùng thể hiện sự ăn năn, hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội và các chứng cứ, T liệu có tại hồ sơ vụ án có cơ sở khẳng định:

Vào khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 15/01/2022, tại đoạn đường thuộc thôn Thạnh Xuyên, xã Duy Thu các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Đức T1 và Nguyễn Viết T2 đã có hành vi vận chuyển 10 hộp pháo hoa nổ với tổng khối lượng là 14 kg để bán cho một thanh niên không rõ lai lịch thì bị bắt quả tang. Như vậy, hành vi của các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Đức T1 và Nguyễn Viết T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy:

Hành vi của các bị cáo trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý một số loại hàng hóa có tính năng và tầm quan trọng đặc biệt đối với trật tự an toàn xã hội, vi phạm quy định tại điểm a khoản 1 Điều 3 Nghị định số 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ về quản lý, sử dụng pháo quy định: “Pháo nổ gây ra tiếng rít, tiếng nổ và hiệu ứng màu sắc trong không gian được gọi là pháo hoa nổ”.

Các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi buôn bán pháo hoa nổ là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Vì vậy cần xử lý nghiêm để giáo dục các bị cáo và góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm.

Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội đồng phạm giản đơn, giữa các bị cáo không có việc phân công nhiệm vụ, không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ nên không có tính tổ chức. Bị cáo T là người thực hành có vai trò chính trong vụ án. Bị cáo trực tiếp thỏa thuận với người mua về số lượng pháo, thời gian, địa điểm giao hàng và trực tiếp mua pháo để bán. Bị cáo T1 và T2 là người bị rủ rê cùng giúp sức với T trong việc vận chuyển hàng hóa để giao cho người mua. Nên bị cáo T1 và T2 phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức. Vì vậy xử bị cáo T mức án cao hơn bị cáo T1 và T2.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo bị cáo T có công cách mạng, các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Các bị cáo có có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và việc cho các bị cáo hưởng án treo không ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và trật tự tại địa phương. Vì vậy không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 xử phạt tù cho hưởng án treo đối với các bị cáo cũng đủ khả năng giáo dục cải tạo các bị cáo.

Và cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T mới đảm bảo tính nghiêm minh của hình phạt. Đối với bị cáo T2 và T1 có vai trò thứ yếu, hành vi giúp sức trong việc vận chuyển pháo, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, chưa có công việc ổn định, bị cáo T1 có mẹ mới chết nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với hai bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đối với số pháo hoa nổ thu giữ là hàng cấm lưu hành, sử dụng và 01 Bo nhựa màu hồng có dòng chữ “Vietnam post” đựng pháo thì tịch thu tiêu hủy.

Đối với 4 chiếc điện thoại thu giữ của các bị cáo là phương tiện liên lạc với nhau trong quá trình thực hiện tội phạm nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 92D1-524.52 của bà Ngô Thị Tính và xe môtô BKS 49D1-556.54 anh Nguyễn Viết Tuấn Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu trong giai đoạn điều tra, không ai khiếu nại gì nên không xem xét.

Vấn đề khác:

Đối với người thanh niên có T khoản Facebook “Văn Minh” không rõ lai lịch nên không có cơ sở xác minh đối tượng này.

Đối với xe môtô BKS 92D1-524.52 của bà Ngô Thị Tính và xe môtô BKS 49D1-556.54 anh Nguyễn Viết Tuấn mà Nguyễn Đức T và Nguyễn Viết T2 đã tự ý lấy sử dụng làm phương tiện đi thực hiên hành vi phạm tội. Bà Tính và anh Tuấn hoàn toàn không biết và không có lỗi nên cơ quan điều tra đã xử lý trả lại xe cho bà Tính và anh Tuấn đồng thời không xem xét trách nhiệm pháp lý là phù hợp.

Đối với Nguyễn Nho Vỹ và Phan Hoài Thắng là người đã có hành vi bán pháo hoa nổ cho Nguyễn Đức T theo khai nhận của T và Vỹ. Tuy nhiên quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã chuyển thông tin tội phạm cho CQCSĐT Công an thị xã Điện Bàn để điều tra xử lý, Vỹ và Thắng đã bị Công an thị xã Điện Bàn khởi tố bị can và đang điều tra theo thẩm quyền nên không xem xét trong vụ án này.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Duy Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Duy Xuyên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và truy tố, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Bn thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Đức T1 và Nguyễn Viết T2 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Đức T1 và Nguyễn Viết T2 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

- Căn cứ điểm c khoản 1 khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (B mươi sáu) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 13/7/2022).

Giao bị cáo Nguyễn Đức T cho UBND xã ĐH, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong giám sát, giáo dục bị cáo.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Đức T 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng)

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T1 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 13/7/2022).

Giao bị cáo Nguyễn Đức T1 cho UBND xã ĐH, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong giám sát, giáo dục bị cáo.

- Căn cứ điểm c khoản 1 khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Nguyễn Viết T2 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ( 13/7/2022).

Giao bị cáo Nguyễn Viết T2 cho UBND thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong giám sát, giáo dục bị cáo.

T2 hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;

- Tịch thu, tiêu hủy 10 khối hộp mỗi khối hộp có kích thướt (14x14x12,5)cm bên ngoài được bọc giấy màu in hình hoa văn chữ nước ngoài bên trong mỗi khối hộp có 34 ống trụ tròn liên kết với nhau (đều là pháo hoa nổ)

(theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng); 01 Bo nhựa màu hồng có dòng chữ “Vietnam post”; các thẻ sim điện thoại số 0707075904, 0796547182, 0777579156.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 7 plus màu vàng, 01 điện thoại di động hiệu Qmobile màu bạc của Nguyễn Đức T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 plus màu đen của Nguyễn Đức T1; 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng của Nguyễn Viết T2.

(Vật chứng hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Duy Xuyên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/6/2022).

Về Án phí: Các bị cáo Nguyễn Đức T, Nguyễn Đức T1 và Nguyễn Viết T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

T2 hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc biên bản niêm yết hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ