- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quách Văn H - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? TuY bố: Bị cáo Quách Văn H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30 /2022/HS-ST Ngày 26 - 4 - 2021 |
NHÂN D
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH T
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lưu Đình Tâm;
2. Trần Thị Dần.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thắm - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh T tham gia phiên toà:Bà Lê Thị Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 24/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2022/QĐXXST- HS ngày 29 tháng 3 năm 2022 và theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 06/2022/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 4 năm 2022 đối với các bị cáo:
Họ và tên: Quách Văn H ; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam.
Sinh ngày: 23/9/1999, tại xã TM, huyện T, tỉnh T; Nơi cư trú: Thôn N, xã TM, huyện T, tỉnh T; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường ; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Con ông: Quách Công V – Sinh năm 1969 và bà: Bùi Thị V1 - Sinh năm 1970;
Tiền sự : Không.
Tiền án: ngày 28/11/2019, bị Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo bản án số 66/2019/HSST ngày 28/11/2019. bị cáo đã chấp hành ngày 29/7/2020.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/12/2021 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Quách Văn H: Ông Phạm Thanh T – Trợ giúp viên pháp lý - Chi nhánh số 5 thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
1. Anh Bùi Văn G - Sinh năm: 1994;
Địa chỉ: Thôn TC, xã C, huyện T, tỉnh T.
2. Anh Quách Văn D - Sinh năm 2000;
Địa chỉ:Thôn B, xã C, huyện T, tỉnh T.
3. Anh Đặng Ngọc Y - Sinh năm 1993
Địa chỉ: Thôn L, xã TM, huyện T, tỉnh T.
(Đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 04/12/2021, tổ công tác Công an huyện T thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát đảm bảo an ninh trật tự dọc tuyến đường quốc lộ 217B đoạn đi qua địa phận xã TT, huyện T, tỉnh T. Khi đến khu vực gần cầu Sậy thuộc thôn H, xã TT, huyện T, tỉnh T thì phát hiện và bắt quả tang tại ngôi nhà ven đường quốc lộ 217B có 03 (ba) nam thanh niên đang tụ tập và có nhiều biểu hiện nghi vấn về việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Tại chỗ ba nam thanh niên khai nhận là Quách Văn H - sinh năm 1999, trú tại thôn N, xã TM, huyện T; Bùi Văn G - sinh năm 1994, trú tại thôn TC, xã C, huyện T và Quách Văn D - sinh năm 2000, trú tại thôn B, xã C, huyện T. Cả ba đối tượng đều khai nhận là đang cùng nhau sử dụng ma túy thì bị phát hiện. Tại vị trí cạnh chỗ ngồi của các đối tượng, tổ công tác thu giữ 01 (một) bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy gồm : 01 (một) chai nhựa màu trắng, có nắp màu đỏ, có chiều cao khoảng 21cm, đường kính đáy khoảng 05cm, đường kính nắp chai khoảng 03cm. Phần nắp chai gắn một ống thủy tinh dạng cóng dài khoảng 14cm, đầu cóng hình cầu tròn bên trong có bám dính các hạt tinh thể màu trắng (nghi là chất ma túy) và 01 (một) ống nhựa dài khoảng 70cm được ghép từ ba ống nhựa dạng ống hút nước; 01 (một) túi nilon màu trắng có kích thước khoảng 01x1,5cm, bên trong có bám dính các hạt tinh thể màu trắng (nghi là chất ma túy); 01 (một) bật lửa ga bằng nhựa có màu vàng và màu đỏ; 01 (một) ống kim loại màu vàng và màu nâu chiều dài khoảng 10cm (tất cả đều đã qua sử dụng). Tổ công tác đã niêm phong toàn bộ số tang vật nói trên và đưa các đối tượng về trụ sở UBND xã TT để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng hơn 20 giờ ngày 04/12/2021 Quách Văn H đi đến khu vực thị trấn V, huyện T mua được của một người đàn ông lạ mặt (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) một gói ma túy với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). H cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải và đi đến ngôi nhà của anh Lê Văn T - sinh năm 1992 gần cầu Sậy thuộc thôn H, xã TT, huyện T, tỉnh T. Vào đến trong nhà Tài, H thấy Bùi Văn G; Quách Văn D và Đặng Ngọc Y đang ngồi tại chiếu chãi ở giữa nhà. H ngồi xuống cùng mọi người, lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy (không biết ai đã chuẩn bị sẵn). H lấy gói ma túy vừa mua được bóc ra đổ vào cóng thủy tinh, dùng bật lửa đốt ma túy trở thành dạng khói rồi mời Bùi Văn G sử dụng đầu tiên, sau đó đến Quách Văn D, tiếp theo đến lượt Đặng Ngọc Y, cuối cùng đến lượt H. Sử dụng được một lượt thì D và Y đi ra ngoài. G và H tiếp tục sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang. Qua kiểm tra bên ngoài trước cửa nhà tổ công tác còn phát hiện và bắt giữ D, còn Y đã bỏ đi đâu không rõ. Tổ công tác đã đưa các đối tượng về trụ sở Công an xã TT để tiếp tục điều tra làm rõ.
Tại bản Kết luận giám định số 3673/PC09 ngày 09/12/2021 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng bám dính trên đầu ống thủy tinh (dạng cóng) và chất bám dính bên trong 01 (một) túi nilon màu trắng thu giữ tại thời điểm bắt quả tang được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng.
Về nguồn gốc ma túy, Quách Văn H khai do bản thân là người nghiện ma túy nên trước đó vào khoảng 20 giờ ngày 04/12/2021, H được Bùi Văn L đưa cho 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) và xe máy bảo H đi “kiếm cho anh ít đồ”. Do H nghĩ là đi mua ma túy về sử dụng nên H đã đi đến khu vực thị trấn V, huyện T tìm mua ma túy của một người đàn ông lạ mặt (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) một gói ma túy với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) về để sử dụng.
Về người đàn ông bán ma túy cho Quách Văn H, H khai không biết D tính, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án.
Quá trình điều tra, Quách Văn H đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn, hối cải về hành vi tổ chức sử dụng trái phép ma túy của bản thân. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết quả giám định ma túy cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ xác định Quách Văn H đã tổ chức cho Bùi Văn G, Quách Văn D và Đặng Ngọc Y sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methaphetamine.
Kết quả xác minh về tài sản, thu nhập của bị cáo, xác định hiện tại bị cáo không có công ăn việc làm, không có thu nhập và tài sản.
Quá trình điều tra xác định Lê Văn T không có mặt tại nhà và không biết việc Quách Văn H tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà mình nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T không xử lý đối với Lê Văn T.
Đối với Bùi Văn L, quá trình điều tra H khai L là người đưa tiền và xe máy cho H để đi mua ma túy. Tuy nhiên Bùi Văn L không thừa nhận việc mình đưa tiền và xe máy cho H để đi mua ma túy. Ngày 16/12/2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành đối chất giữa Quách Văn H và Bùi Văn L nhưng Bùi Văn L vẫn một mực khẳng định mình không đưa tiền và xe máy cho H đi mua ma túy, ngoài lời khai của H thì không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc L đưa tiền và xe máy cho H nên không có cơ sở để xem xét trách nhiệm hình sự đối với L.
Đối với Quách Văn D; Bùi Văn G và Đặng Ngọc Y là những người được H tổ chức để sử dụng ma túy nên không cấu thành tội phạm, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với các đối tượng là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra thông qua bắt quả tang, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 (một) chai nhựa màu trắng, có nắp màu đỏ, có chiều cao khoảng 21cm, đường kính đáy khoảng 05cm, đường kính nắp chai khoảng 03cm. Phần nắp chai gắn một ống thủy tinh dạng cóng dài khoảng 14cm, đầu cóng hình cầu tròn bên trong có bám dính các hạt tinh thể màu trắng (nghi là chất ma túy) và 01 (một) ống nhựa dài khoảng 70cm được ghép từ ba ống nhựa dạng ống hút nước; 01 (một) túi nilon màu trắng có kích thước khoảng 01x1,5cm, bên trong có bám dính các hạt tinh thể màu trắng (nghi là chất ma túy); 01 (một) ống kim loại màu vàng và màu nâu chiều dài khoảng 10cm; 01(một) bật lửa ga bằng nhựa có màu vàng và màu đỏ (tất cả đều đã qua sử dụng). Sau giám định, cơ quan giám định đã hoàn lại mẫu vật giám định bao gồm 01 (một) phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong hoàn mẫu giám định có chữ ký của Nguyễn Trần Đăng, Phạm Thanh Hải và có đóng 07 (bảy) hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh T;
Số vật chứng trên hiện đang được bảo quản, chờ xử lý theo quy định tại chi cục thi hành án dân sự huyện T.
Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKSTT ngày 23/3/2022, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) huyện T, tỉnh T đã truy tố bị cáo Quách Văn H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2, Điều 255 Bộ luật Hình sự (sau đây viết tắt là BLHS). Tại phiên toà, đại diện VKSND giữ nguY quyết định truy tố về tội D và đề nghị:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Quách Văn H: từ 07(Bảy) năm 06 (Sáu) tháng đến 08 (Tám) năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với quách văn H .
Về vật chứng: Đại diện VKSND đề nghị tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên của Nguyễn Trần Đăng, Phạm Thanh Hải và 07 (bảy) hình dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T; 01 (một) ống kim loại màu vàng và màu nâu chiều dài khoảng 10cm; 01 (một) bật lửa ga bằng nhựa có màu vàng và màu đỏ. (tất cả đều đã qua sử dụng).
Về án phí: Do bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống trong vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, bị cáo đã có đơn xin miễn tiền án phí. Vì vậy miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Phần tranh tụng tại phiên toà:
Người bào chữa cho bị cáo Quách Văn H: Ông Phạm Thanh T thống nhất như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội D và điều luật án dụng; Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống trong vùng kinh tế đặc biệt khó khăn. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo mức án từ 07 năm đến 7 năm 06 tháng tù; về án phí chấp nhận cho bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Bị cáo Quách Văn H thành khẩn nhận tội, không có ý kiến tranh luận với kiểm sát viên; Trong lời nói sau cùng bị cáo xin. Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp để có điều kiện học tập, cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo H thừa nhận: Ngày 04/12/2022, Quách Văn H đã có hành vi tổ chức cho các đối tượng Bùi Văn G, Quách Văn D và Đặng Ngọc Y sử dụng ma túy loại Methamphetamine tại nhà của anh Lê Văn T. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Quách Văn H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội D và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của BLHS năm 2015.
Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, bởi lẽ: Ma túy là một trong những hiểm họa mà toàn nhân loại phải đối mặt và là vấn đề đang còn nhức nhối, ám ảnh của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Nhận thức sâu sắc về tác hại của ma túy nên Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống ma túy cũng như quyết tâm loại trừ các tệ nạn về ma túy ra khỏi đời sống xã hội. Trong vụ án này bị cáo Quách Văn H đã có hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và lan tràn tệ nạn nghiện hút.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, HĐXX thấy rằng:
-Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Quách Văn H có 01 tiền án, ngày 28/11/2019, bị Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày chưa được xóa án tích, 29/7/2020 bị cáo chấp hành xong hình phạt, thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
-Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải’ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Bị cáo Quách Văn H phạm tội có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm; phạm tội lần này có tính chất rất nghiêm trọng, do đó của cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Về xử lý vật chứng:
- 01(một) phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) - Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong hoàn mẫu giám định có chữ ký của Nguyễn Trần Đăng, Phạm Thanh Hải và 07 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T;
- 01 (một) ống kim loại màu vàng và màu nâu chiều dài khoảng 10cm;
- 01 (một) bật lửa ga bằng nhựa có màu vàng và màu đỏ là tang vật và mẫu vật sau giám định không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có tài sản gì, nghề nghiệp không ổn định. Do đó, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về người đàn ông đã bán ma túy cho Quách Văn H, H khai không biết D tính, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án là phù hợp.
Đối với Bùi Văn L, quá trình điều tra H khai L là người đưa tiền và xe máy cho H để đi mua ma túy. Tuy nhiên Bùi Văn L không thừa nhận việc mình đưa tiền và xe máy cho H để đi mua ma túy. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành đối chất giữa Quách Văn H và Bùi Văn L nhưng Bùi Văn L vẫn khẳng định mình không đưa tiền và xe máy cho H đi mua ma túy, ngoài lời khai của H thì không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc L đưa tiền và xe máy cho H nên không có cơ sở để xem xét trách nhiệm hình sự đối với L là đúng quy định.
Đối với Quách Văn D, Bùi Văn G và Đặng Ngọc Y là những người được H tổ chức cho sử dụng ma túy nên không cấu thành tội phạm, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Quách Văn D, Bùi Văn G và Đặng Ngọc Y là đúng quy định của pháp luật.
Án phí: Bị cáo Quách Văn H là người dân tộc thiểu số, sinh sống trong vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, bị cáo đã có đơn xin miễn tiền án phí. Vì vậy miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
TuY bố: Bị cáo Quách Văn H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điển h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của BLHS năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Quách Văn H 07 (bảy) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (04/12/2021).
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: - 01 (một) phong bì do Phòng kỹ thuật hình sự (PC09) - Công an tỉnh T phát hành, được dán kín, niêm phong hoàn mẫu giám định có chữ ký của Nguyễn Trần Đăng, Phạm Thanh Hải và 07 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T;
- 01 (một) ống kim loại màu vàng và màu nâu chiều dài khoảng 10cm;
- 01 (một) bật lửa ga bằng nhựa có màu vàng và màu đỏ. (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/3/2022 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện T.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quả lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Quách Văn H.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo Quách Văn H, Người bào chữa cho bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuY án.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
T.M
- Bị cáo;
Thẩm phán - Chủ Tọa phiên tòa
- Người bào chữa cho bị cáo;
- VKSND huyện T;
Bùi Văn Tuấn
- Công an huyện T;
- Chi cục THADS T;
- TAND tỉnh T;
- VKSND tỉnh T;
Bùi Văn Tuấn
- Lưu hồ sơ vụ án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Đình Tâm
Trần Thị Dần
Bùi Văn Tuấn Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
T.M
- Bị cáo;
Thẩm phán - Chủ Tọa phiên tòa
- Người bào chữa cho bị cáo;
- VKSND huyện T;
Bùi Văn Tuấn
- Công an huyện T;
- Chi cục THADS T;
- TAND tỉnh Thanh Hoá;
- VKSND tỉnh T;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Bùi Văn Tuấn
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Đình Tâm
Trần Thị Dần
Bùi Văn Tuấn
| Nơi nhận: - Các bị cáo; - VKSND huyện T; - Công an huyện T; - Chi cục THADS T; - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND tỉnh T; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ Tọa phiên tòa Bùi Văn Tuấn |