vanban.org

Bản án 30/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 23/04/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/04/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị D, giữ nguyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D 3 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. Nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giữ trước từ ngày 31/7/2020 đến ngày 06/8/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 06/2021/HS-ST Tuyên án 26/01/2021
Phúc thẩm — đang xem Bản án 30/2021/HS-PT Tuyên án 23/04/2021

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị D - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị D, giữ nguyên án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2021/HS-PT
Ngày: 23/4/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- T2 phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn T2 Đăng

Các Thẩm phán:

Ông Lê Nguyên Khoa

Ông Lâm Văn Năm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phước T2 – Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 53/2021/TLPT-HS, ngày 15 tháng 3 năm 2021, đối với các bị cáo Nguyễn Thị D, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2021/HS-ST ngày 26/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện MT, tỉnh Vĩnh Long.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị D, sinh năm 1964; tại: huyện TB, tỉnh Vĩnh Long; Nơi cư trú: Số B5, Khóm 4, Phường 5, TP.VL, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị T; có chồng là Văn Huế T và 01 con sinh năm 1993. Tiền sự: có 01 tiền sự, ngày 16/6/2020 bị Công an xã MA, huyện MT ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, bị cáo đã chấp hành xong; tiền án: không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 31/7/2020 đến ngày 06/08/2020.

Bị cáo hiện tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

NỘI D VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 31/7/2020 bị cáo Nguyễn Thị D điện thoại cho bị cáo Nguyễn Thị Thu T hỏi “có nhà không” mục đích là để xuống nhà đánh bài ăn thua bằng tiền, T trả lời: “đang đi Chợ TM, xã TĐ, huyện LH” và hỏi D “có xuống chơi không”, D trả lời “để trưa đi”. Sau đó T điện thoại cho bị cáo Nguyễn Thị Hồng TH rủ xuống nhà đánh bài ăn thua bằng tiền. TH đồng ý và kêu T mua bài về đánh, T ghé Chợ T M mua 03 (ba) bộ bài Tây đem về để trong phòng ngủ.

Đến khoảng 12 giờ ngày 31/7/2020 bị cáo Nguyễn Thị Đông P, bị cáo TH và D đến nhà T và vào phòng ngủ đánh bài, TH lấy 01 tấm vải màu vàng trải ra làm chiếu bạc, T lấy bộ bài Tây đưa cho TH. Hình thức đánh bạc là đánh bài binh Ấn độ 06 lá, gồm 03 người chơi trong đó 01 người làm nhà cái, số tiền tham gia trong từng ván từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Cả 03 tham gia đánh bạc được khoảng 15 phút thì lần lượt bị cáo Thạch Thị T2 và Nguyễn Thị Kiều D cũng đến và vào tham gia đánh bạc. Khi đánh được khoảng 09 ván bài, lúc này khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày thì Công an huyện MT tiến hành kiểm tra và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tang vật và đồ vật thu giữ bao gồm:

- Tiền trên chiếu bạc: 11.700.000 đồng (Mười một triệu bảy trăm ngàn đồng)

- 03 (ba) bộ bài Tây (chưa qua sử dụng) và 126 lá bài (đã qua sử dụng)

- 01 (một) tấm vải màu vàng dùng làm chiếu bạc.

- 01 (một) xe môtô biển số 64G1-342.77

- 01 (một) xe môtô biển số 86B6- 005.47

- 01 (một) điện thoại di động Nokia màu đen kèm theo sim số 0382179059 và tiền Việt Nam là 500.000 đồng của bị cáo Thạch Thị T2.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone kèm theo sim số 0907690559 và tiền Việt Nam là 7.000.000 đồng của bị cáoNguyễn Thị D.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung kèm theo sim số 0783835912 và tiền Việt Nam là 12.900.000 đồng của bị cáo Nguyễn Thị Đông P.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO kèm theo sim số 0939944222 và tiền Việt Nam là 500.000 đồng của bị cáo Nguyễn Thị Kiều D.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung kèm theo sim số 0774682928 của bị cáo Nguyễn Thị Thu T.

Qua quá trình làm việc Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Thạch Thị T2, Nguyễn Thị Hồng TH và Nguyễn Thị Thu T đã thừa nhận hành vi đánh bạc (đánh bài) ăn thua bằng tiền của mình.

Ngày 06 tháng 8 năm 2020 và ngày 31 tháng 8 năm 2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện MT ra quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Thạch Thị T2, Nguyễn Thị Hồng TH và Nguyễn Thị Thu T về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong quá trình điều tra các bị cáo Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Thạch Thị T2, Nguyễn Thị Hồng TH và Nguyễn Thị Thu T đã T2 khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

* Về tang vật và đồ vật thu giữ:

- Tiền trên chiếu bạc là: 11.700.000 đồng (Mười một triệu, bảy trăm ngàn đồng). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện MT đã chứng minh đây là tiền của Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Thạch Thị T2 và Nguyễn Thị Hồng TH dùng để đánh bạc nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.

- 03 (ba) bộ bài Tây (chưa qua sử dụng) và 126 lá bài (đã qua sử dụng) và 01 (một) tấm vải màu vàng dùng làm chiếu bạc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện MT đã chứng minh đây là tài sản của bị cáo Nguyễn Thị Thu T. Đây là các công cụ dùng để đánh bạc nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động Nokia màu đen kèm theo sim số 0382179059 và tiền Việt Nam là 500.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone kèm theo sim số 0907690559 và tiền Việt Nam là 7.000.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung kèm theo sim số 0783835912 và tiền Việt Nam là 12.900.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO kèm theo sim số 0939944222 và tiền Việt Nam là 500.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung kèm theo sim số 0774682928. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện MT đã chứng minh đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của các bị cáo Thạch Thị T2, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D và Nguyễn Thị Thu T. Trong đó 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung kèm theo sim số 0783835912 và 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO kèm theo sim số 0939944222 không liên quan đến vụ án nên đã trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Đông P và bị cáo Nguyễn Thị Kiều D xong. Đối với số tiền Việt Nam và các điện thoại di động kèm theo sim số còn lại liên quan đến vụ án nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.

- Đối với P tiện xe mô tô biển số 64G1- 324.77 và 86B6- 005.47 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện MT đã chứng minh đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Văn Khuyên và của anh Lê Tấn Tuấn mua lại của người khác nhưng chưa sang tên quyền sở hữu. Xét thấy P tiện trên không liên quan trực tiếp đến hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại P tiện xe mô tô biển số 64G1- 324.77 và 86B6-005.47 cho chủ sở hữu xong.

Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện MT đã chứng minh vào ngày 31/7/2020 bị cáo Nguyễn Thị D sẽ dùng số tiền 1.000.000 đồng, Nguyễn Thị Đông P dùng số tiền 3.900.000 đồng và Nguyễn Thị Kiều D dùng số tiền 500.000 đồng để tham gia đánh bạc cùng nhau.

Quá trình điều tra vụ án, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2021/HS-ST ngày 26/01/2021 của Tòa án nhân dân huyện MT, tỉnh Vĩnh Long, đã quyết định:

1. Về tội danh và hình phạt:

1.1 Căn cứ vào Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 17, Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

-Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Đông P 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giữ trước từ ngày 31/7/2020 đến ngày 06/8/2020 tương đương 18 ngày cải tạo không giam giữ.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kiều D 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giữ trước từ ngày 31/7/2020 đến ngày 06/8/2020 tương đương 18 ngày cải tạo không giam giữ.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T 01 (một) năm cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo của các bị cáo Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Nguyễn Thị Thu T được tính kể từ ngày ủy ban nhân dân xã Mỹ An nhận được bản án và quyết định thi hành án. Giao các bị cáo Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Nguyễn Thị Thu T cho ủy ban nhân dân xã Mỹ An giám sát, giáo dục các bị cáo.

- Phạt bổ sung các bị cáo Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Nguyễn Thị Thu T mỗi bị cáo phải nộp số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu) đồng nộp vào ngân sách nhà nước.

1.2 Căn cứ vào Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

-Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị D, Thạch Thị T2, Nguyễn Thị Hồng TH phạm tội “Đánh bạc”.

-Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D 03 (ba) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. Nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giữ trước từ ngày 31/7/2020 đến ngày 06/8/2020.

- Xử phạt bị cáo Thạch Thị T2 03 (ba) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. Nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giữ trước từ ngày 31/7/2020 đến ngày 06/8/2020.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng TH 03 (ba) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. Nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giữ trước từ ngày 31/7/2020 đến ngày 06/8/2020.

- Phạt bổ sung các bị cáo Nguyễn Thị D, Thạch Thị T2, Nguyễn Thị Hồng TH mỗi bị cáo phải nộp số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng nộp vào ngân sách nhà nước.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 46, 47 Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

-Tịch thu tiêu hủy 03 (ba) bộ bài Tây (chưa qua sử dụng) và 126 lá bài (đã qua sử dụng) và 01 (một) tấm vải màu vàng dùng làm chiếu bạc, số sim: 0382179059, số sim: 0907690559, số sim: 0774682928.

-Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia cũ của Thạch Thị T2 và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone của Nguyễn Thị D, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung của bị cáo Nguyễn Thị Thu T dùng vào việc đánh bạc. Tịch thu sung công quỹ số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc ngày 31/07/2020 là: 17.100.000 đồng. (Trong đó: Tiền thu được trên chiếu bạc là: 11.700.000 đồng, tiền của bị cáo D tham gia đánh bạc là 500.000 đồng, tiền của bị cáo D tham gia đánh bạc là: 1.000.000 đồng, tiền của bị cáo P tham gia đánh bạc là 3.900.000 đồng.) Tiếp tục quản lý số tiền 15.500.000 đồng để đảm bảo cho việc thi hành án. (Trong đó: Số tiền của Thạch Thị T2 là: 500.000 đồng, của Nguyễn Thị Đông P là: 9.000.000 đồng, của Nguyễn Thị D là: 6.000.000 đồng). (Số tiền này hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện MT đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/10/2020 và biên lai thu tiền số 0003588 ngày 26 tháng 10 năm 2020).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 05/02/2021, bị cáo Nguyễn Thị D có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm với nội D xin được hưởng án treo và xin nhận lại điện thoại của bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin hưởng án treo.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận án sơ thẩm đã xét xử đúng hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo đã không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đồng thời bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin được hưởng án treo và xin nhận lại điện thoại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội D bản án sơ thẩm đã xử, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó xác định vào ngày 31/7/2020 bị cáo cùng các bị cáo Nguyễn Thị P Đông, Nguyễn Thị D Kiều, Nguyễn Thị Thu T, Thạch Thị T2 và Nguyễn Thị Hồng TH tham gia đánh bài ăn thua bằng tiền thì bị bắt quả tang, bản thân bị cáo vào ngày 20/6/2020 bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc nhưng bị cáo không từ bỏ mà tiếp tục đánh bài ăn thua bằng tiền và trong thời gian chờ xét xử phúc thẩm bị cáo tiếp tục đánh bạc.

Xét tính chấp và hành vi phạm tội của bị cáo án sơ thẩm xử 3 tháng tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới và việc bị cáo xin hưởng án treo là không phù hợp điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP nên không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo chấp nhận đề nghị của kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị D, giữ nguyên án sơ thẩm.

Căn cứ vào Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D 3 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. Nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giữ trước từ ngày 31/7/2020 đến ngày 06/8/2020.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 46, 47 Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

-Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone của Nguyễn Thị D.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ