- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 06/2021/HS-ST |
Ngày: 26/01/2021
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Phẩm.
2. Ông Nguyễn Đinh Cường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Liên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Võ Nhựt Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 43/2020/TLST-HS, ngày 26 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2020/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2020 đối với các bị cáo :
1/ Nguyễn Thị D, sinh năm 1964; tại: huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long; Nơi cư trú: Số B5, Khóm 4, Phường 5, TP.Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Hội và bà Nguyễn Thị Tư; có chồng là Văn Huế Trương và 01 con sinh năm 1993. Tiền sự: có 01 tiền sự, ngày 16/6/2020 bị Công an xã Mỹ An, huyện Mang Thít ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, bị cáo đã chấp hành xong; tiền án: không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 31/7/2020 đến ngày 06/08/2020.
Bị cáo hiện tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
2/ Nguyễn Thị Đông P, sinh năm 1976; tại: xã Mỹ An, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long; Nơi cư trú: ấp An Hương 1, xã Mỹ An, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đảnh và bà Bùi Thị Út; có chồng là Lý Văn Tâm và 02 con lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 2001. Tiền sự: không; tiền án: không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 31/7/2020 đến ngày 06/08/2020.
Bị cáo hiện tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
3/ Nguyễn Thị Kiều D (tên gọc khác: Kiều), sinh năm 1990; tại: xã Mỹ An, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long; Nơi cư trú: ấp An Hương 1, xã Mỹ An, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Khuyên và bà Võ Thị Mười Một; có chồng là Hà Văn Sang (đã ly hôn) và 02 con lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2013. Tiền sự: không; tiền án: không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 31/7/2020 đến ngày 06/08/2020.
Bị cáo hiện tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
4/ Thạch Thị T, sinh năm 1963; tại: huyện Châu T, tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú: ấp An Hương 1, xã Mỹ An, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: khơme; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch Tròn và bà Thạch Thị Duyên; có chồng là Lê Tấn Tuấn và 03 con lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 1992. Tiền sự: có 01 tiền sự, ngày 16/6/2020 bị Công an xã Mỹ An, huyện Mang Thít ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, bị cáo đã chấp hành xong; tiền án: không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 31/7/2020 đến ngày 06/08/2020.
Bị cáo hiện tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
5/ Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1979; tại: huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long; Hộ khẩu thường trú: ấp Phú An, xã Phú Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp An Hương 1, xã Mỹ An, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Sóc và bà Giản Huệ Anh; có chồng là Trần Thanh Hùng và 03 con lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2015. Tiền sự: có 01 tiền sự, ngày 16/6/2020 bị Công an xã Mỹ An, huyện Mang Thít ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, bị cáo đã chấp hành xong; tiền án: không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 31/7/2020 đến ngày 06/08/2020.
Bị cáo hiện tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
6/ Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1981; tại: huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long; Nơi cư trú: ấp An Hương 1, xã Mỹ An, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đảnh và bà Bùi Thị Út; có chồng là Nguyễn Văn Cần và 03 con lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2020. Tiền sự: không; tiền án: không.
Bị cáo hiện tại ngoại và vắng mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Nguyễn Văn Khuyên, sinh năm 1969 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp An Hương 1, xã Mỹ An, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long
2/ Lê Tấn Tuấn, sinh năm 1970 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp An Hương 1, xã Mỹ An, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long
NỘI D VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội D vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 31/7/2020 bị cáo Nguyễn Thị D điện thoại cho bị cáo Nguyễn Thị Thu T hỏi “có nhà không” mục đích là để xuống nhà đánh bài ăn thua bằng tiền, T trả lời: “đang đi Chợ Thanh Mỹ, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ” và hỏi D “có xuống chơi không”, D trả lời “để trưa đi”. Sau đó T điện thoại cho bị cáo Nguyễn Thị Hồng T rủ xuống nhà đánh bài ăn thua bằng tiền. T đồng ý và kêu T mua bài về đánh, T ghé Chợ Thanh Mỹ mua 03 (ba) bộ bài Tây đem về để trong phòng ngủ.
Đến khoảng 12 giờ ngày 31/7/2020 bị cáo Nguyễn Thị Đông P, bị cáo T và D đến nhà T và vào phòng ngủ đánh bài, T lấy 01 tấm vải màu vàng trải ra làm chiếu bạc, T lấy bộ bài Tây đưa cho T. Hình thức đánh bạc là đánh bài binh Ấn độ 06 lá, gồm 03 người chơi trong đó 01 người làm nhà cái, số tiền tham gia trong từng ván từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Cả 03 tham gia đánh bạc được khoảng 15 phút thì lần lượt bị cáo Thạch Thị T và Nguyễn Thị Kiều D cũng đến và vào tham gia đánh bạc. Khi đánh được khoảng 09 ván bài, lúc này khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày thì Công an huyện Mang Thít tiến hành kiểm tra và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tang vật và đồ vật thu giữ bao gồm:
- Tiền trên chiếu bạc: 11.700.000 đồng (Mười một triệu bảy trăm ngàn đồng)
- 03 (ba) bộ bài Tây (chưa qua sử dụng) và 126 lá bài (đã qua sử dụng)
- 01 (một) tấm vải màu vàng dùng làm chiếu bạc.
- 01 (một) xe môtô biển số 64G1-342.77
- 01 (một) xe môtô biển số 86B6- 005.47
- 01 (một) điện thoại di động Nokia màu đen kèm theo sim số 0382179059 và tiền Việt Nam là 500.000 đồng của bị cáo Thạch Thị T.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone kèm theo sim số 0907690559 và tiền Việt Nam là 7.000.000 đồng của bị cáoNguyễn Thị D.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung kèm theo sim số 0783835912 và tiền Việt Nam là 12.900.000 đồng của bị cáo Nguyễn Thị Đông P.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO kèm theo sim số 0939944222 và tiền Việt Nam là 500.000 đồng của bị cáo Nguyễn Thị Kiều D.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung kèm theo sim số 0774682928 của bị cáo Nguyễn Thị Thu T.
Qua quá trình làm việc Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Thạch Thị T, Nguyễn Thị Hồng T và Nguyễn Thị Thu T đã thừa nhận hành vi đánh bạc (đánh bài) ăn thua bằng tiền của mình.
Ngày 06 tháng 8 năm 2020 và ngày 31 tháng 8 năm 2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít ra quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Thạch Thị T, Nguyễn Thị Hồng T và Nguyễn Thị Thu T về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Trong quá trình điều tra các bị cáo Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Thạch Thị T, Nguyễn Thị Hồng T và Nguyễn Thị Thu T đã T khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
* Về tang vật và đồ vật thu giữ:
- Tiền trên chiếu bạc là: 11.700.000 đồng (Mười một triệu, bảy trăm ngàn đồng). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã chứng minh đây là tiền của Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Thạch Thị T và Nguyễn Thị Hồng T dùng để đánh bạc nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.
- 03 (ba) bộ bài Tây (chưa qua sử dụng) và 126 lá bài (đã qua sử dụng) và 01 (một) tấm vải màu vàng dùng làm chiếu bạc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã chứng minh đây là tài sản của bị cáo Nguyễn Thị Thu T. Đây là các công cụ dùng để đánh bạc nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động Nokia màu đen kèm theo sim số 0382179059 và tiền Việt Nam là 500.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone kèm theo sim số 0907690559 và tiền Việt Nam là 7.000.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung kèm theo sim số 0783835912 và tiền Việt Nam là 12.900.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO kèm theo sim số 0939944222 và tiền Việt Nam là 500.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung kèm theo sim số 0774682928. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã chứng minh đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của các bị cáo Thạch Thị T, Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D và Nguyễn Thị Thu T. Trong đó 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung kèm theo sim số 0783835912 và 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO kèm theo sim số 0939944222 không liên quan đến vụ án nên đã trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Đông P và bị cáo Nguyễn Thị Kiều D xong. Đối với số tiền Việt Nam và các điện thoại di động kèm theo sim số còn lại liên quan đến vụ án nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.
- Đối với P tiện xe mô tô biển số 64G1- 324.77 và 86B6- 005.47 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã chứng minh đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Văn Khuyên và của anh Lê Tấn Tuấn mua lại của người khác nhưng chưa sang tên quyền sở hữu. Xét thấy P tiện trên không liên quan trực tiếp đến hành vi đánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại P tiện xe mô tô biển số 64G1- 324.77 và 86B6- 005.47 cho chủ sở hữu xong.
Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã chứng minh vào ngày 31/7/2020 bị cáo Nguyễn Thị D sẽ dùng số tiền 1.000.000 đồng, Nguyễn Thị Đông P dùng số tiền 3.900.000 đồng và Nguyễn Thị Kiều D dùng số tiền 500.000 đồng để tham gia đánh bạc cùng nhau.
Quá trình điều tra vụ án, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKS.MT, ngày 21 tháng 10 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố các bị cáo Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Thạch Thị T và Nguyễn Thị Hồng T, Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia xét xử phân tích hành vi phạm tội của các bị cáo và phát biểu nội D luận tội, khẳng định cáo trạng truy tố là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật và đề nghị áp dụng Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị D, Thạch Thị T, Nguyễn Thị Hồng T phạm tội “Đánh bạc” và đề nghị xử phạt các bị cáo Nguyễn Thị D, Thạch Thị T, Nguyễn Thị Hồng T từ 03 tháng đến 06 tháng tù. Phạt bổ sung các bị cáo Nguyễn Thị D, Thạch Thị T, Nguyễn Thị Hồng T từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Đề nghị áp dụng Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 36, Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Đánh bạc” và đề nghị xử phạt các bị cáo Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Nguyễn Thị Thu T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ. Phạt bổ sung các bị cáo Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Nguyễn Thị Thu T từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
Về vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 47 Luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
-Tịch thu tiêu hủy 03 (ba) bộ bài Tây (chưa qua sử dụng) và 126 lá bài (đã qua sử dụng) và 01 (một) tấm vải màu vàng dùng làm chiếu bạc, số sim: 0382179059, số sim: 0907690559, số sim: 0774682928.
-Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia cũ của Thạch Thị T và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone của Nguyễn Thị D, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung của bị cáo Nguyễn Thị Thu T dùng vào việc đánh bạc. Tịch thu sung công quỹ số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc ngày 31/07/2020 là: 17.100.000 đồng. (Trong đó: Tiền thu được trên chiếu bạc là: 11.700.000 đồng, tiền của bị cáo D tham gia đánh bạc là 500.000 đồng, tiền của bị cáo D tham gia đánh bạc là: 1.000.000 đồng, tiền của bị cáo P tham gia đánh bạc là 3.900.000 đồng.) Tiếp tục quản lý số tiền 15.500.000 đồng (Mười lăm triệu, năm trăm nghìn đồng) để đảm bảo cho việc thi hành án. (Trong đó: Số tiền của Thạch Thị T là: 500.000 đồng, của Nguyễn Thị Đông P là: 9.000.000 đồng, của Nguyễn Thị D là: 6.000.000 đồng).
Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a điểm c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc các bị cáo Nguyễn Thị D, Thạch Thị T, Nguyễn Thị Hồng T, Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Nguyễn Thị Thu T mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo thừa nhận mình có tội và không có ý kiến tranh luận với lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng các bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội D vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, chứng minh được các hành vi, quyết định tố tụng đã được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị D, Thạch Thị T, Nguyễn Thị Hồng T, Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D đã khai nhận: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 31/7/2020 tại nhà của bị cáo Nguyễn Thị Thu T, thuộc ấp An Hương 1, xã Mỹ An, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Riêng bị cáo Nguyễn Thị Thu T vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình điều tra đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Thạch Thị T, Nguyễn Thị Hồng T và Nguyễn Thị Thu T đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền bị bắt quả tang. Số tiền dùng đánh bạc là 17.100.000 đồng.
Trong vụ án này, giữa các bị cáo không có sự cấu kết chặc chẽ để thực hiện tội phạm nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Bị cáo Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Thạch Thị T, Nguyễn Thị Hồng T là người giữ vai trò chính với vai trò là người thực hành còn bị cáo Nguyễn Thị Thu T là đồng phạm với vai trò là người giúp sức.
Xét, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với nội D bản cáo trạng và lời buộc tội của vị đại diện Viện kiểm sát tại toà, phù hợp với bản kết luận điều tra và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Thạch Thị T, Nguyễn Thị Hồng T, Nguyễn Thị Thu T đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo đã cấu T nên tội “ Đánh bạc”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố các bị cáo Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Thạch Thị T, Nguyễn Thị Hồng T, Nguyễn Thị Thu T phạm tội “ Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có cơ sở đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ: Hành vi do các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, cố ý đánh bạc trái phép được ăn thua bằng tiền mà nhà nước quy định cấm dưới mọi hình thức các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng ở địa P. Các bị cáo không tích cực lao động để có thu nhập hợp pháp mà dùng hình thức “Đánh bạc” để tước đoạt tiền của người khác một cách trái pháp luật. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội vì thế, để đấu tranh ngăn chặn tệ nạn này không để tái diễn trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng..
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Thị D, Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Thạch Thị T, Nguyễn Thị Hồng T, Nguyễn Thị Thu T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo T khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn, hối cải. Do đó xem đây là các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo khi quyết định hình phạt được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đối với các bị cáo Nguyễn Thị D, bị cáo Thạch Thị T, bị cáo Nguyễn Thị Hồng T vào ngày 16/6/2020 đã có hành vi “Đánh bạc” bị Công an xã Mỹ An, huyện Mang Thít xử phạt vi phạm hành chính đáng lẽ các bị cáo Nguyễn Thị D, Thạch Thị T, Nguyễn Thị Hồng T phải biết ăn năn hối cải, mà ngược lại bị cáo lại tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức xem thường pháp luật của các bị cáo. Do đó, cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mới đủ răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Không xét.
[6] Về vật chứng : Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 47 Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
-Tịch thu tiêu hủy 03 (ba) bộ bài Tây (chưa qua sử dụng) và 126 lá bài (đã qua sử dụng) và 01 (một) tấm vải màu vàng dùng làm chiếu bạc, số sim: 0382179059, số sim: 0907690559, số sim: 0774682928.
-Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia cũ của Thạch Thị T và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone của Nguyễn Thị D, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung của bị cáo Nguyễn Thị Thu T dùng vào việc đánh bạc. Tịch thu sung công quỹ số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc ngày 31/07/2020 là: 17.100.000 đồng. (Trong đó: Tiền thu được trên chiếu bạc là: 11.700.000 đồng, tiền của bị cáo D tham gia đánh bạc là 500.000 đồng, tiền của bị cáo D tham gia đánh bạc là: 1.000.000 đồng, tiền của bị cáo P tham gia đánh bạc là 3.900.000 đồng.) Tiếp tục quản lý số tiền 15.500.000 đồng (Mười lăm triệu, năm trăm nghìn đồng) để đảm bảo cho việc thi hành án. (Trong đó: Số tiền của Thạch Thị T là: 500.000 đồng, của Nguyễn Thị Đông P là: 9.000.000 đồng, của Nguyễn Thị D là: 6.000.000 đồng).
[7] Xét, đề nghị của kiểm sát viên là có căn cứ nên chấp nhận.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a điểm c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc các bị cáo Nguyễn Thị D, Thạch Thị T, Nguyễn Thị Hồng T, Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Nguyễn Thị Thu T mỗi bị cáo phải nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
1.1 Căn cứ vào Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 17, Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
-Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Đông P 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giữ trước từ ngày 31/7/2020 đến ngày 06/8/2020 tương đương 18 ngày cải tạo không giam giữ.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kiều D 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giữ trước từ ngày 31/7/2020 đến ngày 06/8/2020 tương đương 18 ngày cải tạo không giam giữ.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T 01 (một) năm cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo của các bị cáo Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Nguyễn Thị Thu T được tính kể từ ngày ủy ban nhân dân xã Mỹ An nhận được bản án và quyết định thi hành án. Giao các bị cáo Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Nguyễn Thị Thu T cho ủy ban nhân dân xã Mỹ An giám sát, giáo dục các bị cáo.
- Phạt bổ sung các bị cáo Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Nguyễn Thị Thu T mỗi bị cáo phải nộp số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu) đồng nộp vào ngân sách nhà nước.
1.2 Căn cứ vào Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; Điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
-Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị D, Thạch Thị T, Nguyễn Thị Hồng T phạm tội “Đánh bạc”.
-Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D 03 (ba) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. Nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giữ trước từ ngày 31/7/2020 đến ngày 06/8/2020.
- Xử phạt bị cáo Thạch Thị T 03 (ba) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. Nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giữ trước từ ngày 31/7/2020 đến ngày 06/8/2020.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng T 03 (ba) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. Nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giữ trước từ ngày 31/7/2020 đến ngày 06/8/2020.
- Phạt bổ sung các bị cáo Nguyễn Thị D, Thạch Thị T, Nguyễn Thị Hồng T mỗi bị cáo phải nộp số tiền 10.000.000 (Mười triệu) đồng nộp vào ngân sách nhà nước.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 46, 47 Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
-Tịch thu tiêu hủy 03 (ba) bộ bài Tây (chưa qua sử dụng) và 126 lá bài (đã qua sử dụng) và 01 (một) tấm vải màu vàng dùng làm chiếu bạc, số sim: 0382179059, số sim: 0907690559, số sim: 0774682928.
-Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia cũ của Thạch Thị T và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone của Nguyễn Thị D, 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung của bị cáo Nguyễn Thị Thu T dùng vào việc đánh bạc. Tịch thu sung công quỹ số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc ngày 31/07/2020 là: 17.100.000 đồng. (Trong đó: Tiền thu được trên chiếu bạc là: 11.700.000 đồng, tiền của bị cáo D tham gia đánh bạc là 500.000 đồng, tiền của bị cáo D tham gia đánh bạc là: 1.000.000 đồng, tiền của bị cáo P tham gia đánh bạc là 3.900.000 đồng.) Tiếp tục quản lý số tiền 15.500.000 đồng để đảm bảo cho việc thi hành án. (Trong đó: Số tiền của Thạch Thị T là: 500.000 đồng, của Nguyễn Thị Đông P là: 9.000.000 đồng, của Nguyễn Thị D là: 6.000.000 đồng). (Số tiền này hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Mang Thít đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/10/2020 và biên lai thu tiền số 0003588 ngày 26 tháng 10 năm 2020).
3. Án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a điểm c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc các bị cáo Nguyễn Thị D, Thạch Thị T, Nguyễn Thị Hồng T, Nguyễn Thị Đông P, Nguyễn Thị Kiều D, Nguyễn Thị Thu T mỗi bị cáo nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với những người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày được tính kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - Sở tư pháp tỉnh; - VKSND huyện; - Công an huyện; - Chị cục THADS huyện ; - Những người tham gia tố tụng; -VKSND Tỉnh; -Công an Tỉnh-Phòng hồ sơ ; - Lưu Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |