- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc S - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc S phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 248 Bộ luật Hình sự; Điều 30 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI ______________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 30/2018/HSST Ngày 04/5/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Liệu.
2/ Ông Phạm Văn Sơn.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Oai, Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện VKSND huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Trần Đình Phi Long - Kiểm sát viên.
Ngày 04/5/2018, tại Trụ sở TAND huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2018/HSST ngày 04/4/2018; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/HSST- QĐ ngày 20/4/2018 đối với bị cáo:
Trần Ngọc S, sinh năm 1980; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ 3, khu phố HN, thị trấn ĐQ, huyện Đ, tỉnh Đ; Chỗ ở: như trên; Nghề nghiệp: chăn nuôi; Trình độ văn hóa: không biết chữ; con ông Trần Ngọc T, sinh năm 1957 và con bà Bùi Kiều X sinh năm 1958; vợ Phan Thị T, sinh năm 1981, bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 05/10/1994 bị công an huyện Đ bắt và lập hồ sơ về hành vi “Trộm cắp tài sản”
- Ngày 26/5/1997 bị Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 18 tháng tù giam về tội
“Trộm cắp tài sản”.
- Ngày 15/6/1999 bị Tòa án huyện Đ xử phạt 02 năm tù giam về tội “Trộm cắp
tài sản”.
- Ngày 25/7/2001 bị bắt đưa cơ sở giáo dục theo quết định số: 2432/QĐUBND
ngày 24/7/2011 của UBND tỉnh Đ.
- Ngày 23/11/2005 bị Tòa án huyện Đ xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Chống
người thi hành công vụ”.
- Ngày 20/7/2015 bị Tòa án huyện Đ xử phạt 04 tháng tù giam về tội “Đánh
bạc”
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn ngày 31/01/2018 cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- 1 -
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ 20 phút ngày 08/10/2017, tại khu đồi Lăng si thuộc khu phố HN, thị trấn ĐQ, huyện Đ, tỉnh Đ, Công an huyện Đ kết hợp với Công an thị trấn ĐQ đã bắt quả tang các đối tượng: Trần Thị Mỹ Y và Phạm Văn H đang có hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức “Lắc tài xỉu” với các con bạc. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 5.250.000 đồng(trong đó 3.000.000đ của Phạm Văn H ném ra) và thu giữ trên người các đối tượng số tiền 3.780.000 đồng; 01 bộ lắc tài xỉu gồm 01 chén sành, 01 cái nắp bằng nhựa màu đen và 03 hột xí ngầu, 01 tấm bạt có ghi chữ tài xỉu; 03 điện thoại di đồng các loại.
Quá trình điều tra xác định như sau: Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 08/10/2017 các đối tượng gồm: Trần Thị B; Trần Thị Mỹ Y; Trần Ngọc S ngụ khu phố HN, thị trần ĐQ, huyện Đ, rủ nhau tham gia đánh bạc trái phép thắng thu bằng tiền dưới hình thức “lắc tài xỉu” B, Y, S bàn bạc làm cái chung với nhau đánh bạc với các con bạc khác. Khi bắt đầu đánh bạc B bỏ ra dụng cụ đánh bạc gồm 01 chén bằng sành, 01 cái nắp nhựa màu đen, 03 hột xí ngầu và 10.000.000đ để S trực tiếp làm cái chung tiền cho những người đánh bạc, Y bỏ ra 01 tấm bạt có ghi tài xỉu. Cách thức đánh bạc chơi “lắc tài xỉu” người làm cái cầm dụng cụ để lắc, sau đó những người đánh bạc đặt vào một trong hai cửa (tụ) của tài hoặc của xỉu đã ghi trên giấy bạt. quy định xỉu là từ 3 đến 10 điểm, tài từ 11 đến 18 điểm dựa vào tổng số nút mặt trên của hạt xí ngầu nếu ai đạt trúng sẽ thắng được toàn bộ số tiền đã đặt cược và ngược lại, còn nếu ván nào có 03 hột xí ngầu giống điểm nhau thì người nào đặt trúng cửa thì sẻ được lấy lại tiền, người đặt cửa không trúng sẽ thua hết tiền. Khi các đối tượng bắt đầu đánh bạc do có việc bận nên Y về trước, đến khoảng 15 giờ 30 phút Y quay ra ngồi đối diện với S và tiếp tục bỏ ra 10.000.000đ để chung tiền thắng thua với những người đánh bạc. Đến khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày thì bị lực lượng công an bắt quả tang. Riêng Trần Ngọc S và một số đối tượng khác chạy thoát. Đến ngày 30/01/2018, Trần Ngọc S đến công an huyện Đ đầu thú.
Các đối tượng khác đã bị xét xử tại bản án số: 17/2008/HSST ngày 12/02/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đ.
Tại bản cáo trạng số: 28/VKS-HS ngày 03/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Trần Ngọc S về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng đối với bị cáo đề nghị áp dụng:
Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm p khoản 1, 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo: Trần Ngọc S 01 năm cải tạo không giam giữ và phạt 10.000.000đồng.
Xử lý vật chứng: Đã xử lý trong bản án số 17/2018/HSST ngày 12/02/2018 của Tòa án huyện Đ.
- 2 -
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Viện kiểm sát huyện Đ truy tố về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự là đúng, không oan sai.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về phần thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Đ, Điều tra viện; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi cấu thành tội phạm:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội này phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc giờ 16 giờ 20 phút ngày 08/10/2017, tại khu đồi Lăng si thuộc khu phố HN, thị trấn ĐQ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Công an huyện Đ kết hợp với Công an thị trấn ĐQ đã bắt quả tang các đối tượng: Trần Thị Mỹ Y và Phạm Văn H, Trần Ngọc S đang có hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài “Lắc tài xỉu” với các con bạc. Tổng số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc là 8.330.000đ . Theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999 thì:
“Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm”.
Như vậy, hành vi đánh bạc trái phép của các bị cáo dưới hình thức đánh bài “Lắc tài xỉu” thắng thua bằng tiền có giá trị trên mức tối thiếu như phân tích ở trên đã đủ yếu tố cấu thành tội “đánh bạc”.
Cờ bạc là tệ nạn xã hội, Nhà nước cấm đánh bạc trái phép dưới mọi hình thức được thua bằng tiền hay hiện vật nhưng vì mục đích vụ lợi bị cáo Sinh bất chấp pháp luật cùng nhau thực hiện đánh bạc với hình thức đánh bạc “Lắc tài xỉu”. Tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự nên phải chịu trách nhiệm tương ứng về hành vi, vai trò thực hiện.
Hành vi của bị cáo xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hương xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương nên cần đưa ra xét xử bị cáo và có một mức án tương xứng với
- 3 -
tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhằm giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung là cấn thiết.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử đã xem xét bị cáo có nhân thân xấu; bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú; là lao động chính trong gia đình, kinh tế gia đình kho khăn; bị cáo không biết chữ nên hiểu biết pháp luật còn hạn chế là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1, 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 của Bộ luật hình sự. Từ nhận định trên, nhận thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng là không cần thiết mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và phạt tiền bổ sung đối với bị cáo là đủ nghiêm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Miễn khẩu trừ thu nhập cho bị cáo vì hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, công việc không ổn định, vợ chồng còn nuôi hai con nhỏ.
* Vật chứng vụ án: đã xử lý nên không xem xét.
* Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc S phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 248 của Bộ luật hình sự năm 1999; điểm p khoản 1, 2 Điều 46; khoản 2 Điều 30, Điều 31 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc S 01(một) năm cải tạo không giam giữ và phạt bổ sung số tiền 10.000.000đồng. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy nhân dân thị trấn ĐQ, huyện Đ nơi bị cáo cư trú nhận được quyết định thi hành án và bản án. Giao bị cáo S cho Ủy ban nhân dân thị trấn ĐQ giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo S có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
*Về án phí: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TA tỉnh; - Sở tư pháp tỉnh Đ.Nai; - VKSND- HĐQ; - CA huyện ĐQ; - THA huyện ĐQ; - Bị cáo; - Lưu HS. - 4 - - 5 - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hội thẩm nhân dân - 6 - TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Sẩm Dắt Phắn Căn cứ vào Điều 199 và Điều 222 của Bộ luật tố tụng hình sự; đồng phạm, bị truy tố và xét xử về tội: “đánh bạc”. đồng xét xử thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau: Thị Kim Xuân, Cao Thị Cưng, Trần Ngọc Luận, Trần Thành Được và Hồ Châu Tum phạm tội “Đánh bạc”. Kết quả biểu quyết: 3/3. 2. Về điều luật áp dụng: Điều 30, Điều 53 của Bộ luật hình sự. tụng hình sự. 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội. Kết quả biểu quyết: 3/3. 3. Về mức hình phạt: đồng). Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Két với số tiền 6.000.000đ (sáu triệu đồng). Xử phạt: Bị cáo Cao Thị Cưng với số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng). - 7 - Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc Luận với số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng). Xử phạt: Bị cáo Hồ Châu Tum với số tiền 5.000.000đ(năm triệu đồng). Kết quả biểu quyết: 3/3. 4. Về các vấn đề khác: 002981 ngày 27/6/2017 của Chi cụ Thi hành án dân sự huyện Định Quán). vật chứng vụ án hiện Chi cục thi hành án huyện Định Quán đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/6/2017). 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Kết quả biểu quyết: 3/3 HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hội thẩm nhân dân - 8 - - 9 - - 10 - - 11 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Hùng Chủ tọa phiên tòa CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Long Khánh, ngày 01 tháng 8 năm 2017 BIÊN BẢN NGHỊ ÁN TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: 2/ Bà Nguyễn Thị Thuần Vào hồi 10 giờ 30 ngày 01 tháng 8 năm 2017, tại phòng nghị án, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành nghị án đối với vụ án: Tô Kim Loan (tên gọi khác Dung) cùng Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo; Hội 1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Tô Kim Loan(Dung), Trần Thị Két, Đoàn - Áp dụng khoản 1, Điều 248 của Bộ luật hình sự; điểm p, h khoản 1 Điều 46; - Áp dụng khoản 1, Điều 41 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 76 của Bộ luật tố - Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày Xử phạt: Bị cáo Tô Kim Loan(Dung) với số tiền 12.000.000đ (mười hai triệu Xử phạt: Bị cáo Đoàn Thị Kim Xuân với số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng). Xử phạt: Bị cáo Trần Thành Được với số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng). Tich thu sung quỹ Nhà nước số tiền 17.210.000 đồng (Biên lai thu tiền số Tịch thu tiêu hủy 01 mền vải màu xanh, 06 bìa caton và 02 bộ bài tây. (Toàn bộ Buộc các bị cáo Loan, Két, Xuân, Cưng, Luận, Được, Tum mỗi bị cáo phải nộp Chủ tọa phiên tòa |