vanban.org

Bản án 30/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 10/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Buôn bán hàng cấm.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 5 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Q giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Tý phạm tội Buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Buôn bán hàng cấm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯƠNG KHÊ
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 30/2018/HS-ST
Ngày 10/8/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thiện

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quang Quý và ông Trần Xuân Trà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hà, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hương Khê.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 09 và 10 tháng 8 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2018/TLST-HS ngày 09/7/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2018/QĐXXST-QĐ ngày 27/7/2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T; sinh ngày 10/5/1969; sinh quán: thị trấn P, huyện H, tỉnh T; trú quán: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Q; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Trần Thị H; có vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1978 và 03 con, lớn 18 tuổi, nhỏ 10 tuổi; tiền án, tiền sự: không;

Bị khởi tố bị can ngày 09/5/2018, hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Q. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Trần Đình Q, sinh năm 1996; Nơi công tác: Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1978. Địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Q. Có mặt.

+. Chị Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 2000. Địa chỉ:thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Q. Có mặt.

+. Ông Phan Văn T, sinh ngày 1956. Địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Q. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tin báo của quần chúng nhân dân nên vào lúc 22 giờ 40 phút ngày 06/5/2018 tại khu vực cầu L thuộc xóm L, xã T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, lực lượng trinh sát Bộ đội Biên phòng Hà Tĩnh phối hợp với Đồn Biên phòng Bản G, xã H bắt quả tang Nguyễn Văn T, sinh năm 1969, trú tại thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Q đang có hành vi vận chuyển hàng cấm với mục đích bán lại cho người khác lấy lời. Thu giữ 02 thùng bìa cát tông và 01 bì xác rắn bên trong đựng 69 khối hộp được dán giấy có hoa văn và có các dòng chữ nước ngoài, kích thước mỗi hộp (14,5 x 14,5 x 12,3) cm với tổng trọng lượng 94,2 kg; 01 xe ô tô 9 chỗ nhãn hiệu HUYNDAI màu trắng, biển kiểm soát Lào: nn - 9942 kèm theo giấy thông hành xe và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu vàng. Sau đó đã lập biên bản niêm phong và đưa tang vật về Đồn biên phòng Bản G để làm các thủ tục theo quy định. Khi anh Trần Đình Q là lái xe của Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh Hà Tĩnh điều khiển xe ô tô biển kiểm soát nn - 9942 đến đoạn đường tỉnh lộ 12B thuộc xóm 8, xã L, huyện H thì xe bị chập điện bốc cháy còn lại khung xe, chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Masstel và giấy thông hành để trên xe cũng bị cháy.

Do vụ án thuộc thẩm quyền của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, nên lực lượng Bộ đội Biên phòng đã bàn giao đối tượng và các vật chứng trên cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H giải quyết theo thẩm quyền.

Theo kết quả giám định tại thông báo số 97/GĐP – PC54 ngày 08/5/2018 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: 69 khối hộp được dán giấy có hoa văn nhiều màu sắc, có các dòng chữ nước ngoài, kích thước mỗi hộp (14,5x14,5x12,3)cm, bên trong mỗi khối hộp có 36 vật hình trụ được liên kết với nhau gửi giám định có khối lượng là 94,2kg (chín mươi bốn phẩy hai kilôgam) là pháo hoa, có chứa thuốc pháo nổ và có đặc tính của pháo nổ.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn T khai nhận: Vào chiều ngày 06/5/2018 khi T đang ở nhà thì nhận được điện thoại của một người đàn ông tên thường gọi là Cu T hỏi “Chú có pháo bán không, có hai người bạn của cháu cần mua pháo, nhờ chú tìm giúp cháu”, T đồng ý rồi nói có gì gọi lại sau. Khoảng 20 giờ cùng ngày T điều khiển xe ô tô 9 chỗ nhãn hiệu HUYNDAI màu trắng biển kiểm soát Lào: nn - 9942 của mình đến khu vực dốc 48 thuộc xã H, huyện T, tỉnh Q gặp một người đàn ông không quen biết mua 69 hộp pháo hoa nổ loại 36 quả với giá 22.080.000đ tiền Việt Nam. T bốc toàn bộ số pháo lên xe ô tô rồi điện thoại cho Cu T, hai người thỏa thuận giá mỗi hộp pháo hoa nổ là 350.000 đồng và thống nhất địa điểm giao hàng tại khu vực cầu L thuộc xóm L, xã T, huyện H. Đến lúc 22 giờ 40 phút cùng ngày khi T điều khiển xe chở pháo đến điểm hẹn dừng xe lại rồi bốc pháo xuống để giao cho người đã liên hệ mua pháo từ trước thì bị lực lượng trinh sát Bộ đội Biên phòng tỉnh Hà Tĩnh cùng Đồn Biên phòng Bản G, xã H phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

Đối với chiếc xe ô tô 9 chỗ nhãn hiệu HUYNDAI màu trắng biển kiểm soát Lào: nn - 9942 là tang vật của vụ án đã bị cháy. Theo Kết luận giám định số 2085/C54-P2 ngày 20/6/2018 cña Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận:

- Điểm xuất phát cháy nằm ở khu vực giữa của khoang động cơ xe ô tô mang biển kiểm soát: nn - 9942.

- Nguyên nhân cháy: Do chập mạch điện trên đường dây dẫn điện bên trong khoang động cơ làm cháy lớp vỏ cách điện, sau đó cháy lan ra xung quanh dẫn đến vụ cháy nói trên.

Ngày 19/6/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H có công văn số 66/CSĐT đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H định giá 01 chiếc xe ô tô biển kiểm soát: nn-9942, nhãn hiệu HUYN DAI và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel.

Tại Công văn trả lời số 07/HĐĐGTS ngày 20/6/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H nêu: 02 loại tài sản trên đã bị cháy, không còn nguyên hiện trạng ban đầu, nên Hội đồng không có đủ cơ sở để định giá tài sản trên.

Vật chứng thu giữ:

69 hộp pháo nổ loại 36 quả, mỗi hộp có kích thước (14,5x14,5x12,3) cm, bên ngoài bọc giấy, có hoa văn và chữ nước ngoài, có khối lượng là 94,2kg, đã lấy 05 vật hình trụ ngẫu nhiên trong 05 hộp ngẫu nhiên, khối lượng mẫu vật lấy để giám định là 0,2kg, còn lại 94kg; 01 xe tô tô 9 chỗ nhãn hiệu Huyndai màu trắng, biển kiểm soát lào: nn - 9942 (đã bị cháy hiện còn lại khung xe). Hiện cơ quan điều tra đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện H bảo quản và chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel và 01 giấy thông hành xe (đã bị cháy hoàn toàn)

Tại Bản Cáo trạng số 23/CT-VKS-KSHS ngày 05/7/2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận về hành vi phạm tội của mình như nội dung trên. Bị cáo không kêu oan, bị cáo thể hiện sự ăn năn, hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Buôn bán hàng cấm” và đề nghị Hội đồng xét xử áp điểm g khoản 2 Điều 190; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ Luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Tịch thu, tiêu hủy 69 khối hộp pháo hoa và tịch thu, bán sung công quỹ chiếc xe ô tô đã bị cháy còn lại khung; buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã tóm tắt trên. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa là phù hợp. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào chiều ngày 06/5/2018 khi nhận được điện thoại của một người tên là Cu T với nội dung là cần mua pháo thì T đã đồng ý. Sau đó khoảng 20 giờ cùng ngày T điều khiển xe ô tô 9 chỗ nhãn hiệu Huyndai màu trắng biển kiểm soát Lào: nn - 9942 của mình đến khu vực dốc 48 thuộc xã H, huyện T, tỉnh Q để gặp một người đàn ông không quen biết mua 69 hộp pháo hoa nổ loại 36 quả với giá 22.080.000đ tiền Việt Nam. T bốc toàn bộ số pháo lên xe ô tô rồi điện thoại cho Cu T, hai người thỏa thuận giá mỗi hộp pháo hoa nổ là 350.000 đồng và thống nhất địa điểm giao hàng tại khu vực cầu L thuộc xóm L, xã T, huyện H. Đến lúc 22 giờ 40 phút cùng ngày khi T điều khiển xe chở pháo đến điểm hẹn dừng xe lại rồi bốc pháo xuống để giao cho người đã liên hệ mua pháo từ trước thì bị lực lượng trinh sát Bộ đội Biên phòng tỉnh Hà Tĩnh cùng Đồn Biên phòng Bản G, xã H phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

Tổng trọng lượng pháo bị thu giữ là 94,2kg và quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận múc đích mua pháo là để bán lại cho người khác để kiếm lời. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Buôn bán hàng cấm quy định tại điểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện trưởng VKSND huyện H truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Sau khi phạm tội bị cáo đã khai báo thành khẩn, thể hiện rõ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo được Đồn công an T, thuộc Công an huyện T, tỉnh Q xác nhận là đã có một số lần kịp thời cung cấp cho Công an một số thông tin để Công an ngăn chặn, bắt giữ, xử lý đối tượng vi phạm pháp luật. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong trong quá trình giải quyết vụ án” quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Chính quyền địa phương có xác nhận về thái độ chấp hành pháp luật tốt sau kể từ sau khi phạm tội, hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn, vợ bị bệnh, bị cáo là lao động chính trong gia đình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên đề nghị áp dụng Điều 54 BLHS để áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng như đề nghị của vị đại diện VKS tại phiên tòa là có căn cứ và được chấp nhận.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế về các hàng hóa Nhà nước cấm kinh doanh. Nên cần phải xử lý nghiêm để đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội chỉ vì hám lợi và bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn; nhân thân bị cáo tốt, có nơi cư trú rõ ràng… Hội đồng xét xử xét thấy, cần chấp nhận lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đó là áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có điều kiện cải tạo, giáo dục tại địa phương, thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật đối với bị cáo.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh truy tố, đề nghị mức hình phạt, xử lý vật chứng, án phí….. là có căn cứ và phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Đối với 69 khối hộp pháp hoa, là đối tượng nhà nước cấm kinh doanh, do đó cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại tại khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với chiếc xe ô tô do bị cáo làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai xe này thuộc quyền sở hữu của bị cáo. Do đó, nếu chiếc xe này còn nguyên vẹn thì cũng sẽ tịch thu và bán sung công quỹ nhà nước theo quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS, chứ không trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, quá trình anh Trần Đình Q, lái xe của Bộ chỉ huy Biên phòng Hà Tĩnh, điều khiển chiếc xe về Đồn biên phòng Bản G để làm các thủ tục theo quy định, xe đã bị cháy do yếu tố khách quan, chứ không phải do lỗi của anh Q. Nay chiếc xe chỉ còn lại bộ khung xe, không còn giá trị sử dụng, nhưng vẫn còn giá trị về kinh tế. Do đó, cần tịch thu, bán sung công quỹ Nhà nước chiếc khung xe đã bị cháy này theo quy định tại khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Trong qu¸ tr×nh ®iÒu tra NguyÔn Văn T khai mua 69 hép ph¸o hoa næ cña mét ng êi ®µn «ng kh«ng quen biÕt ë huyÖn T, tỉnh Q để bán lại cho Cu T là người T gặp tại quán nước ở xã H, huyện T vào năm 2017. Nhưng T không biết rõ về nhân thân và địa chỉ cụ thể của Cu T cũng như của người mà đàn ông T đã mua pháo ở huyện T, tỉnh Q. C¬ quan ®iÒu tra ®· tiÕn hµnh ®iÒu tra x¸c minh nh ng ch a x¸c ®Þnh ® îc, khi nµo ®iÒu tra ® îc sÏ xem xÐt xö lý sau.

Việc chiếc xe ô tô là tang vật của vụ án bị cháy theo như kết luận giám định là do yếu tố khách quan, hoàn toàn không có lỗi của Trần Đình Q. Do đó, không xem xét xử lý trách nhiệm đối với anh Q.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 1, 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Buôn bán hàng cấm.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 5 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Q giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu, bán sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc xe ô tô đã bị cháy rụi còn lại khung, xe không hoạt động được; Tịch thu, tiêu hủy: 02 Thùng bìa cactong và 01 bao xác rắn đựng bên trong tổng số 69 khối hộp pháo hoa bên ngoài có nhiều hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài, kích thước mỗi hộp là 14,5cm x 14,5cm x 12,3cm, trong mỗi hộp có 36 vật hình trụ bọc giấy liên kết với nhau, khối lượng 94kg. (Tình trạng, đặc điểm theo Biên bản giao nhân vật chứng ngày 02/7/2018 giữa Cơ quan CSĐT và Chi cục THADS huyện H).

4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ