vanban.org

Bản án 294/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016. Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Phúc Q. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Phúc Q - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – BẮC NINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 294/2026/HS-ST
Ngày 17 tháng 8 năm 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Linh Chi.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Đô.

Bà Trần Thị Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triệu – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 2 – Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Đức Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh, Tòa án nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 261/2026/HSST ngày 20 tháng 07 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 295/2026/QĐXXST-HS ngày 07/08/2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Phúc Q, sinh ngày 20/4/1980 tại tỉnh Lạng Sơn; tên gọi khác: không; căn cước công dân số 0200 8000 5157; nơi cư trú: Thôn Bi, xã T, tỉnh L; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: 05/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Trần L (đã chết) và bà Triệu Thị S (đã chết); có vợ là Lý Thị M, sinh năm 1979; có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 22/9/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lạng Sơn) đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 20 tháng. Ngày 14/8/2023, bị UBND xã Đề Thám, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn (nay là UBND xã Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn) ra Quyết định quản lý sau cai nghiện ma túy với thời hạn 02 năm, chấp hành xong ngày 14/8/2025. Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/4/2026 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 02 – Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Triệu Văn C, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn K, xã T, tỉnh L.

2. Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1971 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Đội 10, tổ dân phố T, phường N, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Phúc Q, sinh năm 1980, trú tại Thôn Bi, xã T, tỉnh L, là người nghiện ma túy từ năm 2019 đến nay. Khoảng tháng 3/2026, Q cùng với Triệu Văn C, sinh năm 1989, trú tại Thôn K, xã T, tỉnh L (là cháu họ của Q) thuê trọ của ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1971, ở Tổ dân phố T, phường N, tỉnh B, để làm công việc tự do.

Do có nhu cầu mua ma túy để sử dụng, khoảng 06 giờ 30 phút ngày 01/4/2026, Q đi bộ từ phòng trọ đến khu vực cánh đồng Trung Đồng, thuộc Tổ dân phố T, phường N, tỉnh B để tìm mua ma túy Heroine. Tại đây, Q gặp một nam thanh niên không quen biết hỏi mua được của người này 200.000 đồng ma túy Heroine, người này đồng ý nhận tiền và đưa cho Q 01 gói giấy trắng bên trong chứa ma túy Heroine; Q xin thêm người này 01 xi lanh và 01 lọ nước cất mục đích để cho C sử dụng. Q đi về phòng trọ, trên đường đi về Q nhặt được 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long loại mềm, Q bóc lấy giấy bạc để mình sử dụng. Khi về đến phòng trọ thấy C chưa đi làm về, Q ngồi xuống ghế cạnh bàn uống nước lấy trong gói giấy ra một nửa số ma túy Heroine vừa mua được đổ ra giấy bạc rồi dùng bật lửa gas màu vàng châm lửa hơ nóng giấy bạc để tự sử dụng bằng hình thức hít. Sử dụng hết ma túy trên giấy bạc, số ma túy Heroine còn lại Q đổ vào ống xi lanh rồi đóng pít tông lại. Tiếp đó Q bẻ gãy một đầu ống nước cất, cầm xi lanh chọc mũi tiêm vào ống nước cất để hút nước hòa tan ma túy. Sau đó, Q để ống xilanh vào vị trí cuối giường ngủ mục đích để cho C đi làm về thì sử dụng. Khoảng 20 giờ cùng ngày, khi C đi làm về, Q có nói “Còn một ít, tao pha nước vào cho sẵn rồi đấy”, đồng thời chỉ vị trí xi lanh chứa ma túy ở trên giường ngủ. C lấy xi lanh, ngồi xuống ghế rồi tự tiêm ma túy vào mạch máu tại khuỷu tay trái. Sau đó, Q và C sinh hoạt bình thường và dọn dẹp dụng cụ sử dụng ma túy vứt đi.

Đến tối ngày 02/4/2026, Q điều khiển xe mô tô chở C đi đổ xăng, khi đi đến khu vực trước cổng Công ty Lux Share thuộc tổ dân phố Núi Hiểu, phường Nếnh, tỉnh Bắc Ninh tổ công tác Đội CSGT đường bộ số 4, Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bắc Ninh kiểm tra do có dấu hiệu nghi vấn sử dụng ma túy, tiến hành test ma túy Q và C đều dương tính với ma túy Heroine (Bút lục 108 – 109). Ngày 03/4/2026, tổ công tác đã bàn giao Q và C đến Đồn Công an Quang Châu để xác minh làm rõ (Bút lục 112). Cùng ngày, Đồn công an Quang Châu đã bàn giao vụ việc đến Công an phường Nếnh để điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 04/4/2026 tại Công an phường Nếnh, Hoàng Phúc Q có đơn đầu thú khai nhận hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bản thân như trên (Bút lục 42 – 43). Công an phường Nếnh đã tiến hành thu giữ niêm phong mẫu nước tiểu của Q và C để tiến hành giám định.

Kết luận giám định số 1526/KL-KTHS ngày 06/4/2026 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: Mẫu nước tiểu của Hoàng Phúc Q và Triệu Văn C đều tìm thấy 6-MAM, Morphine là chất chuyển hóa của Heroine.

Cơ quan điều tra đã tiến hành xác định hiện trường nơi xảy ra vụ việc tại lán trọ gia đình ông Nguyễn Văn Đ, ở Tổ dân phố T, phường N, tỉnh B, Q và C xác định vị trí sử dụng trái phép chất ma túy tại ghế uống nước trong phòng trọ và vị trí Q để ống xilanh chứa ma túy tại giường ngủ, kết quả phù hợp với lời khai nhận tội. Tiến hành lập biên bản làm việc cho Q tự thực hiện lại hành vi sử dụng ma túy bằng hình thức hít và hành vi pha ma túy vào trong ống xi lanh cho C sử dụng; Triệu Văn C thực hiện hành vi sử dụng ma túy bằng hình thức sử dụng xi lanh chích vào cơ thể - kết quả C và Q đều thực hiện thành thục.

Đối với những dụng cụ dùng sử dụng trái phép chất ma túy, Q và C khai nhận đã vứt đi không nhớ vị trí vứt, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Q và C nhưng không thu giữ được.

Tại cơ quan điều tra, Hoàng Phúc Q đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số 137/CT-VKS-KV2 ngày 17/07/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh, truy tố bị cáo Hoàng Phúc Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố.

Qua tranh tụng tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát phát biểu lời luận tội vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo Hoàng Phúc Q và đề nghị:

- Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025, xử phạt bị cáo Hoàng Phúc Q từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 04/04/2026.

- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016, miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo không có tranh luận gì.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Trong thời gian tạm giữ, tạm giam bị cáo biết hành vi của mình là sai, bản thân bị có có bệnh tim phải thường xuyên dùng thuốc điều trị nên bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản của Tòa án về thời gian mở phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra, họ đã có lời khai đầy đủ và được lưu trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt họ không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố xét xử: Kể từ khi khởi tố vụ án hình sự, trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án, Hội đồng xét xử thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, không có vi phạm gì. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy đã có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 20 giờ ngày 01/4/2026, tại nhà trọ gia đình ông Nguyễn Văn Đ, ở Tổ dân phố T, phường N, tỉnh B, Hoàng Phúc Q đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Triệu Văn C. Cụ thể: Hoàng Phúc Q đi mua ma túy heroine tự sử dụng một mình bằng hình thức hít, phần ma túy còn lại Q cung cấp cho Triệu Văn C. Q chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy gồm xilanh, nước cất rồi pha loãng ma túy Heroine vào trong ống xi lanh. Khi C về đến nhà, Q chỉ vị trí để xilanh chứa ma túy để C sử dụng bằng hình thức chích vào cơ thể.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ ma túy là chất cấm nhưng vẫn thực hiện hành vi đưa ma túy vào cơ thể người khác trái phép với lỗi cố ý. Do vậy hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Cáo trạng số 137/CT-VKS-KV2 ngày 17/07/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Bắc Ninh truy tố bị cáo Hoàng Phúc Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét về nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu, năm 2021 bị Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lạng Sơn) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và mới chấp hành xong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú vào ngày 14/08/2025 theo Quyết định số 465/QĐ-UBND ngày 14/08/2023 của Chủ tịch UBND xã Đề Thám, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn (nay là UBND xã Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn).

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra truy tố bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo ra đầu thú nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nghiêm trọng với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo là người nghiện ma túy và từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, mới chấp hành xong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú vào ngày 14/08/2025 nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn cố ý thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Điều này thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo, do vậy Hội đồng xét xử thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, cần chấp nhận.

Bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định và là người dân tộc thiểu số cư trú sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử thấy không áp dụng xử phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 255. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ cần chấp nhận.

Xét thấy cần phải tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án nên Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày xét xử sơ thẩm là phù hợp theo quy định tại Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các vấn đề khác:

Đối với người bán ma túy cho Q, quá trình điều tra Q khai nhận không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể của người này, Cơ quan điều tra đã tiến hành lập biên bản cho Q xác định vị trí mua ma túy tại khu vực cánh đồng Trung Đồng, thuộc Tổ dân phố T, phường N, tỉnh B, tiến hành rà soát nhưng không xác định được. Vì vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét xử lý.

Đối với ông Nguyễn Văn Đ, quá trình điều tra xác định ông cho Q và C thuê phòng trọ nhưng không biết việc Q có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại đây, nên không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn Đ.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Triệu Văn C, tiến hành xác minh tại địa phương C không thuộc một trong các diện quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, 2024, 2025. Công an phường Nếnh đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với C về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Do bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú sinh sống ở vùng kinh tế xã hội có điều kiện đặc biệt khó khăn nên cần miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025. Xử phạt bị cáo Hoàng Phúc Q 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 04/4/2026.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025. Tiếp tục tạm giam bị cáo Hoàng Phúc Q 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Phúc Q.

3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật

Cỡ chữ