- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Đức A phạm tội buôn bán hàng cấm - sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Đức Anh phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 291/2026/HS-PT Ngày 21-9-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Duy Khoa
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Lâm
Bà Đoàn Thị Hương Nhu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tươi - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 267/2026/TLPT-HS ngày 04 tháng 9 năm 2026 đối với bị cáo Bùi Đức A do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 177/2026/HS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng.
- Bị cáo có kháng cáo: Bùi Đức A, sinh ngày 16 tháng 3 năm 1998, tại Hải Phòng; số CCCD: 031098008012; nơi ĐKTT: Số C N, phường H, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: Số B TDP C, phường H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Phi H và bà Trần Thị H1; có vợ là Đỗ Thị V và có 01 con; tiền án: Không, tiền sự: 01, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 969/QĐ-CT ngày 05/9/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường H xử phạt về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý; bị tạm giữ ngày 17/12/2025, tạm giam ngày 25/12/2025; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 17/12/2025, tại trước cửa nhà số A T, phường H, thành phố Hải Phòng, tổ công tác Đội 2 thuộc Phòng Cảnh sát kinh tế - Công an thành phố H kiểm tra, phát hiện Bùi Đức A chở 01 bao dứa màu trắng, chứa 08 hộp nghi pháo hoa nổ, kích thước 15x15x15cm, vỏ in chữ nước ngoài, đặt trên võng xe mô tô Airblade biển kiểm soát 15C1-465.26. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ vật chứng, đưa Đức A về trụ sở Công an phường H lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tại Cơ quan điều tra, Bùi Đức A khai nhận: Do không có công việc ổn định nên Đức A nảy sinh ý định mua pháo hoa nổ, đề bán kiểm lời. Từ đầu tháng 11/2025, Đức A sử dụng điện thoại IPhone 13 Pro Max, gắn sim “rác” (không xác định được số thuê bao) và đăng ký tài khoản T để tham gia hội nhóm kín buôn bán pháo. Thông qua nhóm này, Đức A liên hệ với một tài khoản đề hỏi mua pháo hoa nổ. Sau khi thòa thuận giá, Đức A đã 03 lần mua pháo của người này, cụ thể: Cuối tháng 11/2025 mua 12 hộp và đầu tháng 12/2025 mua 36 hộp, đều là loại giàn 36 quả, giá 250.000 đồng/hộp; khoảng ngày 09-10/12/2025 mua 50 hộp loại giàn 36 quả, giá 250.000 đồng/hộp và 01 hộp loại giàn 100 quả giá 1.000.000 đồng/hộp. Các lần này, pháo đều được vận chuyển thông qua xe khách chạy tuyến Lạng Sơn - Hải Phòng, địa điểm nhận hàng tai khu vực đường E cũ, Hồ N, Hải Phòng. Đức A không nhớ nhà xe nào do người bán đã thanh toán cước vận chuyển. Sau khi kiểm tra hàng, Đức A thanh toán qua dịch vụ chuyển tiền nhanh 24/7 của các cửa hàng nhận thực hiện dịch vụ này, gần nơi nhận pháo. Mua được pháo, Đức Anh cất giấu trong nhà mình tại địa chỉ số 3/35C Nguyễn Trung Thành, Hồng Bàng, Hải Phòng. Đến giữa tháng 02/2023, khi ngôi nhà trên bị giải tỏa, gia đình chuyển về ở nhà mẹ vợ tại địa chỉ số 21B/129, tổ dân phố Cam Lộ 6, Hồng Bàng, Hải Phòng nên Đức Anh cất giấu số pháo này ở bãi đất trống ngay sau nhà (khu vực vườn của ông bà ngoại của vợ Đức Anh). Ngoài Đức Anh, không ai khác biết về số pháo hoa nổ này. Sáng 17/12/2025, Đức Anh nhận được điện thoại của một người đàn ông qua ứng dụng Telegram (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) hỏi mua 08 hộp pháo hoa nổ, loại giàn 36 quả, yêu cầu nhận hàng ở khu vực Quán Toan. Sau khi thoa thuận, Đức Anh đồng ý bán với giá 450.000 đồng/hộp. Đức Anh mượn xe mô tô Airblade biển kiểm soát 15C1-465.26 của chị Vũ Thị Thu Quỳnh (sinh năm 1998, trú tại: tổ 9, đường 5/2, Hồng Bàng, Hải Phòng), lấy 08 hộp pháo hoa nổ, loại giàn 36 quả, cho vào bao dứa trắng và mang đi thuê dịch vụ Grab giao hàng như đã hẹn. Đi đến nút giao đường Trương Văn Lực và Cam Lộ, Đức Anh thấy có 01 nam thanh niên mặc áo Grab đỗ bên đường nên dừng lại hỏi đề gửi pháo thì bị lực lượng Công an kiểm tra và bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên. Chiếc điện thoại dùng để liên lạc, Đức Anh dắt vào cạp quần đùi chun, bị rơi trên đường đi lúc nào không biết. Trong tổng số pháo đã mua, Đức Anh đã đốt 08 hộp loại giàn 36 quả và cho bạn là Trần Hùng Mạnh (sinh năm 1988; trú tại: 2D/69, Nguyễn Trung Thành, Hồng Bàng, Hải Phòng) 01 hộp loại giàn 36 quả để đốt, còn lại vẫn cất giấu tại nơi ở, đợi có gặp khách sẽ bán kiếm lời. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Đức Anh tại số 21B/129 TDP Cam Lộ 6, phường Hồng Bàng, Hải Phòng, thu giữ: 01 túi nilon màu đen bên trong đựng 01 hộp nghi pháo hoa nổ kích kích thước khoảng 25x25x25cm; 13 thùng bọc giấy nilon màu đen kích thước 45x30x15cm bên trong dựng các hộp nghi pháo hoa nổ; 04 hộp nghi pháo hoa nổ kích thước 15x15x15cm, tất cả vỏ đều in chữ nước ngoài; 27 cây hình trụ đường kính 2cm, chiều cao 15cm.
Kết luận giám định số 3977/KL-KTHS ngày 19/12/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng đối với vật chứng thu được khi bắt quả tang, xác định: “08 (tám) khối hình hộp, vỏ bọc giấy nhiều màu sắc in chữ nước ngoài và gắn 01 sợi dây dẫn cháy gửi giám định là Pháo hoa nổ; Khi đốt hoặc kích thích pháo trong khối bay lên cao liên tiếp, gây ra tiếng rút, tiếng nổ và hiệu ứng sắc màu trong không gian. Tổng khối lượng: 12,095 kg”.
Tại Kết luận giám định số 4002/KL-KTHS ngày 21/12/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng đối với vật chứng thu được khi khám xét khẩn cấp, xác định:
“- 80 (tám mươi) khối hình hộp kích thước 15x15x15cm, vỏ bằng giấy nhiều màu sắc in chữ nước ngoài và có gắn một sợi dây dẫn cháy của mẫu số 1 gửi giám định là Pháo hoa nổ; Khi đốt hoặc kích thích pháo trong khối bay lên cao liên tiếp, gây ra tiếng rít, tiếng nổ và hiệu ứng sắc màu trong không gian. Tổng khối lượng: 119,355 kg;
- Khối hình hộp kích thước 25x25x15cm, vỏ bằng giấy nhiều màu sắc in chữ nước ngoài và có gắn một sợi dây dẫn cháy của mẫu số 2 gửi giám định là Pháo hoa nổ; Khi đốt hoặc kích thích pháo trong khối bay lên cao liên tiếp, gây ra tiếng rít, tiếng nổ và hiệu ứng sắc màu trong không gian. Tổng khối lượng: 3,930kg;
- 27 (hai mươi bảy) vật hình trụ tròn vỏ bằng giấy bìa, hai đầu bịt kín, được liên kết lại với nhau và gắn một đoạn dây dẫn cháy của mẫu số 3 gửi giám định là Pháo hoa nổ; Khi đốt hoặc kích thích pháo trong các vật hình trụ tròn bay lên cao liên tiếp, gây ra tiếng rít, tiếng nổ và hiệu ứng sắc màu trong không gian. Tổng khối lượng: 1,070kg”.
Vật chứng vụ án: Chuyển đến Bộ Chỉ huy quân sự thành phố Hải Phòng: 01 hộp giấy, dấu niêm phong số 3977/PC09 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng và 05 hộp giấy, dấu niêm phong từ số 4002T1/PC09 đến số 4002T5/PC09 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng bên trong chứa số pháo còn lại sau giám định. Đối với 01 xe mô tô Airblade biển kiểm soát 15C1-465.26, thuộc sở hữu hợp pháp của chị Vũ Thị Thu Quỳnh, quá trình điều tra xác định chị Quỳnh không biết Bùi Đức Anh mượn để thực hiện hành vi phạm tội, do đó, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị. Đối với 01 điện thoại di động của Bùi Đức Anh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng đã tiến hành rà soát camera và các biện pháp khác để truy tìm nhưng không có kết quả.
Bản án hình sự sơ thẩm số 177/2026/HS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng đã căn cứ điểm c khoản 3 Điều 190; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Bùi Đức Anh phạm tội “Buôn bán hàng cấm”, xử phạt bị cáo Bùi Đức Anh 09 (Chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/12/2025.
Ngoài ra Bản án còn tuyên về hình phạt bổ sung, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo Bản án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Bùi Đức Anh kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Bản án sơ thẩm. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Bùi Đức Anh phạm tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xử phạt bị cáo Bùi Đức Anh 09 năm tù là có căn cứ. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo đã nộp đủ án phí hình sự sơ thẩm, đồng thời cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới thể hiện bị cáo đã nộp đủ 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng tiền phạt bổ sung theo quyết định của Bản án sơ thẩm, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm giảm hình phạt cho bị cáo từ 06 tháng đến 12 tháng.
Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Ngày 23/7/2026, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án, tại phiên tòa bị cáo Bùi Đức Anh có mặt. Ngày 28/7/2026, bị cáo nộp đơn kháng cáo là vẫn trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về tội danh và khung hình phạt: Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Bùi Đức Anh về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Đức Anh mức hình phạt 09 năm tù là có căn cứ. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo đã nộp đủ án phí hình sự sơ thẩm, đồng thời cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới thể hiện bị cáo đã nộp đủ 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng tiền phạt bổ sung theo quyết định của Bản án sơ thẩm, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên có thể xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm giảm hình phạt cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Đức Anh; sửa Bản án sơ thẩm.
- Căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 190; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Bùi Đức Anh phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Bùi Đức Anh 08 (Tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 17/12/2025.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Bùi Đức Anh không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 177/2026/HS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 6 và 7 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố Hải Phòng; - VKSND KV3 - Hải Phòng; - TAND KV3 - Hải Phòng; - Cơ quan CSĐT Công an TP Hải Phòng; - Cơ quan THAHS Công an TP Hải Phòng; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an TP Hải Phòng; - Phòng THADS KV3 - Hải Phòng; - Trại tạm giam số 01 - Công an TP Hải Phòng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Duy Khoa |