vanban.org

Bản án 29

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đinh Hoàng Trúc N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”

1/- Áp dụng vào Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi. bổ sung năm 2017. Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đinh Hoàng Trúc N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ MỸ THO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 29/2018/HS-ST
Ngày: 18/4/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO,TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân::

+ Bà Nguyễn Thị Ba

+ Bà Lê Thị Minh Thắm.

– Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Ni -Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Hoàng – kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 4 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2018/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:30/2018/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:

1/Bị cáo:

Đinh Hoàng Trúc N; sinh ngày 09/9/1997, tại thành phố Hồ Chí Minh.

- HKTT: Số 01/79, Ấp H, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

- Chỗ ở hiện nay: Số 56, đường L, Phường S, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (Nhà tập thể Trường Trung cấp Văn hóa nghệ thuật tỉnh Tiền Giang).

- Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

- Trình độ học vấn: 12/12.

- Nghề nghiệp: Sinh viên.

- Cha: Đinh Văn L, sinh năm 1971, nghề nghiệp: Giáo viên.

- Mẹ: Nguyễn Thị Ngọc G, sinh năm: 1976, nghề nghiệp: Nhân viên.

- Địa chỉ: Số 01/79, Ấp H, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

- Chỗ ở hiện nay: Số 56, đường L, Phường S, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (Nhà tập thể Trường Trung cấp Văn hóa nghệ thuật tỉnh Tiền Giang). .

- Em ruột có 02 người, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 03 ngày 26/12/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Mỹ Tho.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2/ Bị hại:

Phạm Thị Mỹ H, sinh năm 1998 (có đơn xin vắng mặt).

HKTT: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Tạm trú: Ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

3/ Người làm chứng:

Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1991 (có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp H, xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đinh Hoàng Trúc N và chị Phạm Thị Mỹ H, sinh năm 1998, ngụ Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang cùng phụ bán quần áo tại Shop Lovely, Lô 97-98, đường P, Phường S, thành phố M, tỉnh Tiền Giang do chị Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1991, ngụ Ấp H, xã T, thành phố M làm chủ. Khoảng 20 giờ ngày 17/10/2017, N nhìn thấy điện thoại di động hiệu Iphone 6Plus 16GB, màu xám của chị H sạc pin để trên gốc cây trong Shop Lovely N lén lút đến lấy trộm bằng cách rút điện thoại ra khỏi chui sạc, tắt nguồn, giấu vào trong giỏ xách của N. Sau đó, N đem về nhà tháo bỏ thẻ sim, xóa hết dữ liệu trong máy để sử dụng. Ngày 18/10/2017, chị H đến Công an Phường S, thành phố M trình báo. Đến khoảng 18 giờ 45 phút ngày 19/11/2017, N đến shop Lovely và đi vào phòng vệ sinh lấy điện thoại trên ra sử dụng thì bị chị P và H phát hiện, trình báo Công an Phường S, thành phố M đến giải quyết.

Trong quá trình điều tra, Đinh Hoàng Trúc N thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với vật chứng thu giữ, lời khai người bị hại và các chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được xem là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Vật chứng thu giữ:

- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6Plus 16GB màu xám, số IMEL: 354441066112549 (Cơ quan điều tra đã trả cho bi hại Phạm Thị Mỹ H).

- Đối với 01 thẻ sim trong điện thoại của chị Huê; do N không nhớ đã ném bỏ ở đâu nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 302 ngày 05/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản thành phố M kết luận: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6Plus16GB màu xám, số IMEL: 354441066112549 trị giá 7.800.000 đồng. Chị H đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không có yêu cầu gì khác.

Tại bản cáo trạng số 31/QĐ-VKS ngày 21/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố M đã truy tố Đinh Hoàng Trúc N về tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ Luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 và điểm i,s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Đinh Hoàng Trúc N 09-12 tháng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng.

Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận chị Phạm Thị Mỹ H đã nhận lại tài sản bị mất 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6Plus 16GB màu xám, số IMEL: 354441066112549.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 thẻ sim trong điện thoại của chị H; do N không nhớ đã ném bỏ ở đâu nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa bị cáo N khai nhận hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố M truy tố đối với bị cáo. Bị cáo lợi dụng sự sơ hở của chị Phạm Thị Mỹ H, bị cáo lén lút trộm 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6Plus 16GB số IMEL: 354441066112549 của chị Huê.

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra hồ sơ vụ án.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 302 ngày 05/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản thành phố M kết luận 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6Plus 16GB số IMEL: 354441066112549 trị giá 7.800.000 đồng nên có đủ cơ sở xác định bị cáo N đã phạm tội “ Trộm cắp tài sản” quy định theo Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Xét về ý thức, bị cáo nhận thức được rằng tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của công dân luôn được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Thế nhưng chỉ vì muốn có tiền tiều xài cá nhân bị cáo lợi dụng sự sơ hở của bị hại để thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật của bị cáo, cần xử bị cáo mức án nghiêm khắc mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, khi lượng hình phạt đối với bị cáo, Tòa có xem xét đến việc bị cáo có nhân thân tốt, thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đang là sinh viên học tại Trường Cao đẳng y tế Tiền Giang, có nơi cư trú ổn định chưa có tiền án, tiền sự, đã thu hồi tài sản trao trả cho bị hại xong, bị hại không yêu cầu gì thêm và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên xét không cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo là đủ.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 thẻ sim trong điện thoại của chị H do bị cáo N không nhớ đã ném bỏ ở đâu nên Cơ quan điều tra không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về trách nhiệm dân sự:

Chị Phạm Thị Mỹ H đã nhận lại tài sản bị mất 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6Plus 16GB màu xám, số IMEL: 354441066112549 (Theo biên bản trao trả tài sản ngày 06/12/2017 của Cơ quan điều Công an thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Chị H có đơn xin bãi nại giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không có yêu cầu bồi thường gì và không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự vàø điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTV QH khóa 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đinh Hoàng Trúc N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đinh Hoàng Trúc N phạm tội: “Trộm cắp tài sản”

1/- Áp dụng vào Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi. bổ sung năm 2017.

- Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Xử: Phạt bị cáo Đinh Hoàng Trúc N 09 (chín) tháng cho hưởng án treo.Thời gian thử thách 18 tháng về tội “ Trộm cắp tài sản”

Thời hạn được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đinh Hoàng TrúcN cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố M, tỉnh Tiền Giang để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

2/Về trách nhiệm dân sự:

- Ghi nhận chị Phạm Thị Mỹ H đã nhận lại tài sản 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus 16GB màu xám, số IMEL: 354441066112549 ( theo biên bản trao trả tài sản ngày 06/12/2017 của Cơ quan Công an thành phố M).

3/ Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH khóa 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Bị cáo Đinh Hoàng Trúc N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4/ Bị cáo Đinh Hoàng Trúc N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Chị Phạm Thị Mỹ H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ