- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Công P1, Nguyễn Hoàng P, về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. - phạm t…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Công P1, Nguyễn Hoàng P, phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH QUANG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2025/HS-ST Ngày 16/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Phùng Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đăng Thám.
2. Ông Tô Đình Trị.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Đỗ Thị Ngọc Lan – Thư ký TAND huyện T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Ông Trương Công Trình – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Nam, Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 26/2025/TLST-HS ngày 17/3/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 27/3/2025 đối với các bị cáo sau đây:
1. Nguyễn Công P, sinh năm: 1993, tại: Thăng Bình Quảng Nam.
Nơi cư trú: Khu phố 4, thị trấn H, huyện T, tỉnh Quảng Nam.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam.
Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lái xe.
Con ông: Nguyễn Công T, sinh năm: 1963; Con bà: Võ Thị N, sinh năm: 1961; Vợ: Huỳnh Thị Ánh V, sinh năm: 1994, bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2017.
Tiền án: Không; Tiền sự: Vào ngày 12/12/2024, bị Công an thị trấn H, huyện T xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chưa nộp phạt.
Bị bắt tạm giam từ ngày 19/12/2024, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Hoàng P, sinh năm: 1999, tại: Thăng Bình Quảng Nam.
Nơi cư trú: Tổ 2, thôn Liễu Trì, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam.
Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông: Nguyễn Công S, sinh năm: 1975; Con bà: Nguyễn Thị N1, sinh năm: 1976.
Tiền án: ngày 14/11/2024, bị TAND quận C, thành phố Đà Nẵng tuyên phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa chấp hành án.
Tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giam từ ngày 19/12/2024, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1985.
Nơi cư trú: Tổ 2, thôn Liễu Trì, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 21 giờ 40 phút ngày 18/12/2024, Công an huyện T kiểm tra quán cà phê Công Chứng, thuộc: Tổ 02, thôn Liễu Trì, xã B, huyện T (do bà Nguyễn Thị N - sinh năm 1985 quản lý) phát hiện Nguyễn Hoàng P và Nguyễn Công P có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Tại vị trí hộc bàn của P, P1 đang ngồi có 01 nắp nhựa được đục 02 lỗ tròn gắn 01 ống hút nhựa và 01 ống thủy tinh (nỏ thuỷ tinh) bên trong có bám dính chất màu nâu nghi là ma túy, trên mặt bàn có 01 nắp chai nhựa màu xanh đục 02 lỗ tròn. Công an huyện T đã lập biên bản vụ việc về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” của Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Công P và thu giữ các đồ vật có liên quan.
Qua làm việc Nguyễn Hoàng P và Nguyễn Công P1 khai nhận: khoảng 19 giờ 30 phút ngày 18/12/2024, Phi đang ở nhà thì Nguyễn Công P1 nhắn tin cho P qua ứng dụng Messeger rủ sử dụng trái phép chất ma túy thì P đồng ý. Phước chuyển số tiền 150.000 đồng vào tài khoản ngân hàng Vietcombank số 1019882574 của Nguyễn Hoàng P để góp tiền mua ma túy. Sau đó, Phi đi từ ngã 4 Hà Lam theo đường 14E xuống hướng Bình Triều khoảng 01km (đoạn vừa qua cánh đồng) mua 200.000đ ma túy đá của 01 người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) rồi về lại nhà. P đem gói ma túy đổ vào nỏ thủy tinh rồi dùng bật lửa gas và đèn tự chế nấu ma túy; tiếp đó, P cắm nỏ thủy tinh và 01 ống hút nhựa vào 01 nắp nhựa màu xanh có đục 02 lỗ tròn. Một lúc sau, P1 đến trước nhà nhắn tin cho P thì P đem bộ dụng cụ có ma túy ra phía trước rồi cùng P1c đi bộ qua quán cà phê Công Chứng. P1 và P ngồi vào bàn rồi gọi 01 lon Pepsi và 01 chai nước suối. Tại đây, P lấy bộ dụng cụ đã có ma túy rồi mở nắp chai nước suối Aquafina gắn nắp màu xanh P đã chuẩn bị sẵn vào chai nước suối nhưng không được. P tháo rời nỏ thủy tinh và ống hút nhựa ra khỏi nắp màu xanh rồi dùng bật lửa gas và ống thủy tinh để đục lỗ trên nắp chai nước suối Aquafina để gắn nỏ thủy tinh có ma túy và ống hút vào nắp nhựa của chai nước suối. Sau khi chuẩn bị xong bộ dụng cụ, P đem ra nhà vệ sinh phía sau quán. Tại nhà vệ sinh, P dùng bật lửa gas và đèn tự chế đốt ma túy và hút 02 hơi rồi Phi vào lại bàn. P1 hỏi i ma túy ở đâu thì P chỉ P1 ra phòng vệ sinh. P1 ra phòng vệ sinh hút 02 hơi ma túy rồi quay lại bàn và nói với P là “Anh không chơi nữa”. Một lúc sau, P đi ra nhà vệ sinh tháo nắp chai có gắn nỏ thủy tinh và ống hút nhựa ra khỏi chai nước Aquafina rồi đem bộ dụng cụ vào để ở hộc bàn (riêng vỏ chai nước Aquafina Phi để lại phòng vệ sinh). Đến khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày, Công an huyện T kiểm tra, phát hiện Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Công P1 có dấu hiệu sử dụng trái phép chất ma túy nên đã tiến hành lập biên bản sự việc và thu giữ các đồ vật có liên quan.
Ngày 19/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Công P1 nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan.
Qua thử nhanh, xác định Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Công P1 dương tính với ma túy, loại Methamphetamine.
Tại Bản kết luận giám định số 36/KL-KTHS ngày 26/12/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Quảng Nam kết luận: 01 dụng cụ bằng thủy tinh dạng ống gấp tạo khủy, một đầu phình thành bầu (nỏ thủy tinh) (mẫu ký hiệu A1) và 01 đoạn ống nhựa màu tím – trắng (mẫu ký hiệu A2) gửi giám định tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine (dạng vết).
Tại bản cáo trạng số: 29/CT-VKSTB-HS ngày 27/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Nam đã truy tố các bị cáo Nguyễn Công P1, Nguyễn Hoàng P, về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên Tòa các bị cáo Nguyễn Công P1, Nguyễn Hoàng P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố. Các bị cáo cùng nhau góp tiền mua ma túy về cùng nhau sử dụng. Các bị cáo đã biết lỗi lầm của mình và trong thời gian bị tạm giam bị cáo rất hối hận. Các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Về tình tiết tăng nặng: Ngày 14/11/2024, TAND quận C, thành phố Đà Nẵng tuyên phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P 12 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Nên lần phạm tội này của bị cáo Nguyễn Hoàng P thuộc trường hợp tái phạm. Bị cáo Nguyễn Công P1 không có tình tiết tăng nặng. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Hoàng P, Nguyễn Công P1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Công P1 vào ngày 12/12/2024, bị Công an thị trấn H, huyện T xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo P có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự. Bị cáo P1 có hoàn cảnh gia đình các con còn nhỏ, vợ bị bệnh. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo Nguyễn Công P1, Nguyễn Hoàng P phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Áp dụng: Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo. Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng P áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Công P1 từ 30 đến 36 tháng tù.
Bị cáo Nguyễn Hoàng P từ 36 đến 42 tháng tù.
- Về vật chứng:
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên thu tiêu hủy: Bì niêm phong số: 36/PC09 chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam; 01 (một) nắp chai nhựa màu xanh đục 02 lỗ tròn; 01 (một) vỏ chai nhựa không có nắp (loại chai nước suối Aquafina); sim số 0932953898; 01 (một) bật lửa gas đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa gas trên đầu bật lửa đã tháo bánh xe và gắn trên đầu ống gas một ống nhựa có gắn lò xo (đèn tự chế); sim số 0934.650.013.
Tuyên thu sung công quỹ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme của Bị cáo P; 01 (một) điện thoại Samsung của Bị cáo P1 dùng làm phương tiện phạm tội.
Tiếp tục tạm giữ số tiền 90.000 đồng của Bị cáo P1 để đảm bảo thi hành án. Hiện đang nộp vào tài khoản tạm giữ số 3949.0. 9046394.00000 của Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Nam.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt với bản án số: 101/2024/ HS-ST ngày 14/11/2024, bị TAND quận C, thành phố Đà Nẵng tuyên phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P 12 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Các căn cứ xem xét, đánh giá về tội danh và khung hình phạt:
- Căn cứ vào lời khai nhận tội của các bị cáo có trong hồ sơ và tại phiên tòa; biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người liên quan và các chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án là phù hợp.
- Căn cứ vào bản kết luận giám định số 36/KL-KTHS ngày 26/12/2024 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Quảng Nam kết luận: 01 dụng cụ bằng thủy tinh dạng ống gấp tạo khủy, một đầu phình thành bầu (nỏ thủy tinh) (mẫu ký hiệu A1) và 01 đoạn ống nhựa màu tím – trắng (mẫu ký hiệu A2) gửi giám định tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine (dạng vết).
Hội đồng xét xử nhận định: Vào khoảng 21 giờ 40 phút ngày 18/12/2024, tại quán cà phê Công Chứng thuộc: Tổ 02, thôn Liễu Trì, xã B, huyện T; Công an huyện T kiểm tra, phát hiện Nguyễn Hoàng P và Nguyễn Công P1 có hành vi cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo Nguyễn Công P1 đã có hành vi rủ rê, cung cấp tiền cho bị cáo Nguyễn Hoàng P mua ma túy về để Phước, Phi cùng nhau sử dụng. Bị cáo Nguyễn Hoàng P có hành vi mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ, đốt ma túy để Phước, Phi cùng sử dụng.
Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Nguyễn Công P1, Nguyễn Hoàng P, phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Hành vi phạm tội của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ: Ma túy là một loại chất kích thích, gây ảo giác, gây nghiện khi người đã sử dụng thì khó mà dứt bỏ. Để thỏa mãn cơn nghiện, người nghiện ma túy có thể bất chấp tất cả thủ đoạn nhằm để có ma túy để sử dụng, từ đó gây nên những mối nguy hiểm khác cho xã hội. Ngoài ra, khi nghiện ma túy sẽ dẫn đến các căn bệnh rất nguy hiểm cho tính mạng của người sử dụng và người thân. Chính vì lẽ đó, Quốc Hội và Chính phủ chỉ đạo xử lý kiên quyết đối với hành vi mua bán, tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Bộ luật Hình sự cũng quy định mức hình phạt rất nặng đối với hành vi này. Các bị cáo là người đã trưởng thành, các bị cáo biết rõ hành vi sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật và sẽ bị nghiêm trị nhưng do coi thường pháp luật, các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải xử phạt thật nghiêm minh với mức hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra.
- Xét nhân thân của các bị cáo Nguyễn Công P1, Nguyễn Hoàng P đều xuất thân là nhân dân lao động, hoàn cảnh gia đình khó khăn nhất định. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo P1 có vợ bị bệnh và các con còn nhỏ. Bị cáo P đã có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự. Tuy nhiên, các bị cáo đều có nhân thân xấu. Bị cáo Nguyễn Công P1 vào ngày 12/12/2024, bị Công an thị trấn H, huyện T xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” chưa nộp phạt. Bị cáo Nguyễn Hoàng P vào ngày 14/11/2024, TAND quận C, thành phố Đà Nẵng tuyên phạt 12 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Nên lần phạm tội này của bị cáo Nguyễn Hoàng P thuộc trường hợp tái phạm. Do vậy, Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc mức hình phạt của các bị cáo tương đương nhau.
Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Bị cáo Nguyễn Hoàng P bị áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện T cần phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để các cơ quan chức năng cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội sau này.
Đối với bị cáo Nguyễn Hoàng P, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt với bản án số: 101/2024/ HS-ST ngày 14/11/2024, của TAND quận C, thành phố Đà Nẵng tuyên phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P 12 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức hình phạt của bản án ngày hôm nay. Buộc bị cáo phải chấp hành phạt chung cho cả 02 bản án.
Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện T.
* Tuyên tịch thu tiêu hủy: Bì niêm phong số: 36/PC09 chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam; 01 (một) nắp chai nhựa màu xanh đục 02 lỗ tròn; 01 (một) vỏ chai nhựa không có nắp (loại chai nước suối Aquafina); 01 (một) bật lửa gas đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa gas trên đầu bật lửa đã tháo bánh xe và gắn trên đầu ống gas một ống nhựa có gắn lò xo (đèn tự chế); 01 sim điện thoại số 0934.650.013; 01 sim điện số 0932953898.
* Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà Nước:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme; 01 (một) điện thoại Samsung các bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội.
Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.
* Tuyên tiếp tục tạm giữ số tiền 90.000 đồng của Bị cáo P1 để đảm bảo thi hành án. Hiện đang nộp vào tài khoản tạm giữ số 3949.0. 9046394.00000 của Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Nam.
Những vấn đề liên quan trong vụ án:
- Quá trình điều tra không xác định được lai lịch người bán ma túy cho Nguyễn Hoàng P nên không có căn cứ để xử lý.
- Đối với bà Nguyễn Thị N khi phát hiện Nguyễn Hoàng P và Nguyễn Công P có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy đã chủ động báo cáo sự việc cho trực ban Công an huyện T nên không xử lý đối với bà Nghĩa là có căn cứ.
Về án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo phải chịu theo quy định tại các Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án;
Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Công P1, Nguyễn Hoàng P, phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
1. Xử phạt bị cáo: Nguyễn Công P 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời gian thụ hình được tính từ ngày bị bắt ngày 19/12/2024.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
2. Xử phạt bị cáo: Nguyễn Hoàng P 36 (Ba mươi sáu) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt với bản án số: 101/2024/HS-ST ngày 14/11/2024, của TAND quận C, thành phố Đà Nẵng tuyên phạt bị cáo Nguyễn Hoàng P 12 (Mười hai) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng P phải chấp hành hình phạt tù chung cho cả 02 bản án là 48 (Bốn mươi tám) tháng tù. Thời gian thụ hình được tính từ ngày bị bắt ngày 19/12/2024. Được tính trừ thời gian tạm giữ trước cho bị cáo 02 ngày (Từ ngày 04/6/2024 đến ngày 05/6/2024).
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 46 ; Điều 47 Bộ luật Hình sự ; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự ;
Tuyên:
1.Tịch thu tiêu hủy: Bì niêm phong số: 36/PC09 chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam; 01 (một) nắp chai nhựa màu xanh đục 02 lỗ tròn; 01 (một) vỏ chai nhựa không có nắp (loại chai nước suối Aquafina); 01 (một) bật lửa gas đã qua sử dụng; 01 (một) bật lửa gas trên đầu bật lửa đã tháo bánh xe và gắn trên đầu ống gas một ống nhựa có gắn lò xo (đèn tự chế); 01 sim điện thoại số 0934.650.013; 01 sim điện số 0932953898.
2. Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme; 01 (một) điện thoại Samsung.
Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.
3. Tiếp tục tạm giữ số tiền 90.000 đồng của Bị cáo P1 để đảm bảo thi hành án. Hiện đang nộp vào tài khoản tạm giữ số 3949.0. 9046394.00000 của Phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh Quảng Nam.
Áp dụng các Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án;
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án. Người liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để xin Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các cơ quan tiến hành tố tụng; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, lưu bộ phận HS;. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký tên và đóng dấu) Đặng Phùng Thành |