- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn H - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội “Sản xất, buôn bán hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 29/2023/HS-ST Ngày 26-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thế Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Oanh, ông Nguyễn Ngọc Hà.
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Mai Huế - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thanh Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2023/HS-ST ngày 29-3-2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2023/QĐXXST-HS ngày 12-4-2023, đối với:
Bị cáo: Hà Văn H - tên gọi khác: Không; sinh ngày 23-9-1999 tại tỉnh Yên Bái; nơi ĐKHKTT: Thôn K, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Mường; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Hà Văn T, sinh năm 1964 và bà Hoàng Thị N, sinh năm 1977; có vợ là Bùi Thị Thu H, sinh năm 2002 và 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại tại thôn K, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hoàng Thị N, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện Văn C, tỉnh Yên Bái, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu tự sản xuất pháo nổ để đốt trong dịp tết Nguyên đán và bán kiếm lời. Hà Văn H vào các trang mạng Internet xem các video hướng dẫn sản xuất pháo rồi học làm theo. Đầu tháng 12-2022, H đã tự mua các nguyên liệu là natri, Kcl03, lưu huỳnh hết số tiền 1.125.000 đồng và sử dụng các nguyên liệu, công cụ ở nhà gồm than củi, trấu, giấy khổ A4, vở học sinh cũ, giấy ăn, keo 502, băng dính đen, màng bọc thực phẩm, 01 thanh inox hình trụ tròn, 01 thìa inox, 01 chiếc đũa, 01 lõi nồi cơm điện, 01 chiếc kìm để sản xuất pháo nổ. Sáng ngày 22-12-2022, H mang pháo do mình sản xuất đi chào bán thì gặp một người không quen biết, người đó tự giới thiệu tên Đ. Sau khi nói chuyện người tên Đ xin số điện thoại của H và hẹn khi nào có nhu cầu mua pháo nổ sẽ liên lạc. Đến trưa cùng ngày Đ gọi điện thoại cho H đặt mua pháo nổ, H đồng ý và thỏa thuận bán cho Đ 50 quả pháo loại nhỏ với giá 50.000 đồng/một quả; 35 quả pháo loại to với giá 70.000 đồng/một quả và hẹn gặp nhau giao hàng tại thành phố Y vào 11 giờ ngày 24-12-2022. Sau đó, H dùng giấy cuộn chặt quanh thanh inox thành hình trụ, có chiều cao từ 10 đến 20cm rồi cuộn một vòng băng dính đen để cố định lớp giấy, rút thanh inox ra tạo thành vỏ pháo rỗng ruột. Một đầu vỏ pháo được nhét giấy ăn vào trước và nhỏ keo 502, khi keo khô thì cho một lớp trấu phủ lên phần giấy ăn và tiếp tục nhỏ keo 502 để khô. H dùng lõi nồi cơm điện trộn hỗn hợp các chất Natri, Kcl03, Lưu huỳnh, than củi (đã được nghiền nhỏ) theo tỷ lệ 1:3:2:4 để làm thuốc pháo. H dùng một lượng nhỏ thuốc pháo cuộn lại trong màng bọc thực phẩm, dùng kim kẹp lại, kéo dãn ra, dùng kìm bấm thành từng đoạn có chiều dài khoảng 10cm làm ngòi pháo. H dùng thìa inox đổ thuốc pháo vào vỏ pháo, lấy chiếc đũa chọc vào ruột pháo có chứa thuốc pháo tạo thành một lỗ để đặt ngòi pháo, sau đó lấy giấy ăn, trấu, keo 502 bịt đầu còn lại và dùng băng dính đen dán vào đầu ngòi pháo để chống ẩm. Sau khi sản xuất đủ lượng hàng mà Đ đặt, H cất các công cụ dùng để sản xuất pháo vào trong hòm gian của gia đình kê trong bếp và ngăn tủ quần áo của mình.
Sáng ngày 24-12-2022, H dùng xe mô tô mang biển kiểm soát 21B1 – 684 05 mang pháo đi bán cho Đ. Khi đi đến đoạn đường thuộc thôn P, xã G, thành phố Y, tỉnh Yên Bái thì bị tổ công tác của Công an thành phố Yên Bái kiểm tra, phát hiện lập biên bản.
Vật chứng thu giữ gồm: 85 khối hình trụ (nghi là pháo nổ); 01 vỏ bao tải màu trắng; 01 đoạn dây bằng kim loại; 01 đoạn dây cao su màu đen; 01 điện thoại di động và 01 xe mô tô mang biển kiểm soát 21B1.68405.
Tiến hành khám xét nơi ở của Hà Văn H thu giữ được: 13 cuộn giấy hình trụ, được cố định bằng băng dính đen; 01 đoạn ống kim loại; 03 cuộn băng dính màu đen; 01 tập giấy vở cũ; 01 cuộn nilon hình trụ (loại màng bọc thực phẩm); 01 đoạn gỗ (chiếc đũa); 01 thìa bằng kim loại; 01 lọ nhựa màu trắng có in dòng chữ 502; 01 cuộn giấy màu trắng (loại giấy vệ sinh); 01 lõi nồi cơm điện và 01 kìm kim loại.
Tại bản Kết luận Giám định số: 42/KLGĐ ngày 25-12-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: 85 vật hình trụ tròn gửi đến giám định là pháo nổ (có chứa thuốc pháo, khi đốt có gây tiếng nổ). Tổng khối lượng là 28kg.
Tại bản Cáo trạng số: 29/CT-VKSTP ngày 29-3-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố Hà Văn H về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 4, 5 Điều 66 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình và không có tranh luận gì. Bị cáo đề nghị xin được hưởng hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo phù hợp với vật chứng bị thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận: Vào các ngày 22 đến 24-12-2022, Hà Văn H đã có hành vi sản xuất 28 kg pháo nổ, mục đích để mang vào thành phố Y, tỉnh Yên Bái bán kiếm lời. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm sản xuất, lưu thông, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Do đó cần phải đưa bị cáo ra xử lý trước pháp luật.
Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo là người dân tộc thiểu số “dân tộc Mường” nhận thức về pháp luật còn nhiều hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân được chính quyền địa phương ghi nhận là gương người tốt việc tốt, Chi đoàn ghi nhận là Đoàn viên tiêu biểu, tích cực. Do đó, xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhất thời phạm tội do tuổi trẻ bồng bột, có nhân thân tốt, nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, không có tình tiết tăng nặng nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và giao cho chính quyền địa phương, gia đình phối hợp với nhà trường giám sát, giáo dục cũng đủ cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội.
Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng, sống phụ thuộc vào gia đình nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về những vấn đề khác:
Đối với người đàn ông tên Đ đã đặt mua pháo nổ của H nhưng H không biết đầy đủ tên, tuổi và địa chỉ cụ thể nên không có đủ cơ sở để điều tra, xử lý.
Về vật chứng và số tài sản, đồ vật tạm giữ:
- Đối với 28 kg pháo nổ thu giữ của Hà Văn H, cơ quan điều tra đã sử dụng 02 kg vào việc giám định, còn lại 26 kg pháo nổ được niêm phong dán kín trong một hộp bìa cát tông đựng mẫu vật gửi giám định. Bên ngoài xung quanh hộp cát tông có dán 05 giấy niêm phong, trên mỗi giấy niêm phong đều có 02 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần có liên quan hiện được bảo quản tại kho vũ khí đạn của Ban chỉ huy quân sự thành phố Yên Bái. Xét thấy đây là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 bao tải màu trắng, kiểu bao tải đựng thức ăn chăn nuôi, trên bao tải có in dòng chữ khối lượng tịnh 40kg; 01 dây bằng kim loại có chiều dài 21cm; 01 dây cao su mầu đen có kích thước 2,92m x 1,5cm được niêm phong dán kín trong túi niêm phong mã số PS11905441. Bên ngoài túi niêm phong có 06 hình dấu tròn mầu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán. Cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 thùng bìa cát tông dùng để niêm phong đã được bóc mở và 01 thùng bìa cát tông dùng để niêm phong có kích thước khoảng (40,5 x 24 x 30)cm, các mép thùng bìa được dán kín, tại phần mép dán có dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có ghi “Vật chứng tạm giữ khi khám xét Hà Văn H ngày 24-12-2022, sau khi kiểm tra và niêm phong lại ngày 05-01-2023” và có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và 03 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố Yên Bái (theo biên bản niêm phong đồ vất, tài liệu bị tạm giữ, lập hồi 11 giờ 30 phút ngày 05-01-2023). Cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, vỏ máy mầu trắng, máy lắp sim số thuê bao 0375 206 442, số IMEI 0359215070504783 máy đã qua sử dụng. Xét thấy bị cáo đã sử dụng vào việc trao đổi mua bán pháo nổ nên tịch thu nộp vào ngân sách.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter, màu đen gắn biển kiểm soát 21B1- 684 05, số khung 06HY483457, số máy G3D4E505370 xe đã qua sử dụng tạm giữ của Hà Văn H. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp thuộc quyền sở hữu của bà Hoàng Thị N nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Yên Bái đã trao trả cho bà N là phù hợp.
[8 Về án phí: Bị cáo Hà Văn H phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hà Văn H phạm tội “Sản xất, buôn bán hàng cấm”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hà Văn H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (26-4-2023).
Giao bị cáo Hà Văn H cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Hà Văn H cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 4, 5 Điều 66 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 14/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội:
Tịch thu tiêu hủy 26 kg pháo nổ còn lại sau giám định được niêm phong dán kín trong một hộp bìa cát tông đựng mẫu vật gửi giám định. Bên ngoài xung quanh hộp cát tông có dán 05 giấy niêm phong, trên mỗi giấy niêm phong đều có 02 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần có liên quan, hiện được bảo quản tại kho vũ khí đạn của Ban chỉ huy quân sự thành phố Yên Bái; 01 bao tải màu trắng, kiểu bao tải đựng thức ăn chăn nuôi, trên bao tải có in dòng chữ khối lượng tịnh 40kg; 01 dây bằng kim loại có chiều dài 21cm; 01 dây cao su mầu đen có kích thước 2,92m x 1,5cm được niêm phong dán kín trong túi niêm phong mã số PS11905441. Bên ngoài túi niêm phong có 06 hình dấu tròn mầu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ và chữ ký của các thành phần liên quan tại các mép dán; 01 thùng bìa cát tông dùng để niêm phong đã được bóc mở và 01 thùng bìa cát tông dùng để niêm phong có kích thước khoảng (40,5 x 24 x 30)cm, các mép thùng bìa được dán kín, tại phần mép dán có dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có ghi “Vật chứng tạm giữ khi khám xét Hà Văn H ngày 24-12-2022, sau khi kiểm tra và niêm phong lại ngày 05-01-2023” và có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và 03 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an thành phố Yên Bái (theo biên bản niêm phong đồ vất, tài liệu bị tạm giữ, lập hồi 11 giờ 30 phút ngày 05-01-2023).
Tịch thu nộp vào ngân sách chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Iphone, vỏ máy mầu trắng, máy lắp sim số thuê bao 0375 206 442, số IMEI: 0359215070504783, máy đã qua sử dụng.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Hà Văn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND tỉnh Yên Bái; - Sở Tư pháp; - VKSND tp. Yên Bái; - CCTHADS tp. Yên Bái; - HSNV CATP Yên Bái; - Bị cáo (1) ; - Người có QLNVLQ (1) - UBND xã Cát Thịnh, Văn Chấn. - Lưu HS, TA. | THẨM PHÁN – CHỦ TÒA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thế Hòa |