vanban.org

Bản án 29/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 07/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo T.Q.H phạm tội Làm nhục người khác;

Xử phạt bị cáo T.Q.H 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 01 năm 02 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/4/2023). * Giao bị cáo T.Q.H cho Uỷ ban nhân dân thị trấn TY, huyện YH, tỉnh Q giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TQH phạm tội làm nhục người khác - phạm tội làm nhục người khác (điều 155 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo T.Q.H phạm tội Làm nhục người khác;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN SƠN
TỈNH TUYÊN QUANG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2023/HS-ST
Ngày 18- 4 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Tiến Hào;

2. Bà Hà Thị Vinh.

Thư ký phiên tòa: Bà Quan Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện SY, tỉnh Q.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện SY, tỉnh Q tham gia phiên tòa:

Ông Hứa Văn Trọng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện SY, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2023/TLST-HS, ngày 24/3/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2023/QĐXXST-HS, ngày 05/4/2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: T.Q.H - Sinh ngày 08/02/1988

Nơi ĐKHKTT: Tổ DP BM, thị trấn TY, huyện YH, tỉnh Q; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn 12/12; con ông: L, sinh năm 1962 và bà T, sinh năm 1962; vợ: H, sinh năm 1987, con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2022.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.

* Bị hại:

Chị CPC, sinh năm 1991

Địa chỉ: Thôn A, xã TNM, huyện SY, tỉnh Q. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người làm chứng:

- Chị VK, sinh năm 1995. Địa chỉ: Tổ X, phường PT, thành phố Q, tỉnh Q.

- Chị NMT, sinh năm 1990. Địa chỉ: Tổ B, phường PT, thành phố Q, tỉnh Q.

- Chị NHT, sinh năm 1991. Địa chỉ: Tổ N, phường TH, thành phố Q, tỉnh Q.

- Chị HTH, sinh năm 1992. Địa chỉ: Tổ M, phường AT, thành phố Q, tỉnh Q.

- Chị CTH, sinh năm 1992. Địa chỉ: Tổ P, phường TQ, thành phố Q, tỉnh Q.

- Chị ĐHB, sinh năm 1992. Địa chỉ: Tổ K, phường TQ, thành phố Q, tỉnh Q.

- Chị BTNQ, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn L, xã TNM, huyện SY, tỉnh Q.

Những người làm chứng vắng mặt tại phiên toà

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 3/2022, CPC, sinh năm 1991 trú tại thôn 17, xã TNM, huyện SY (mở quán Spa chăm sóc sắc đẹp) và thuê C, sinh năm 1988 trú tại tổ dân phố BM, thị trấn TY, huyện YH làm biển quảng cáo cho quán, sau đó Tr và H nảy sinh tình cảm yêu đương và nhiều lần quan hệ tình dục với nhau. Khoảng cuối tháng 10/2022, trong một lần quan hệ tình dục H đã dùng điện thoại quay lại việc H và Tr đang quan hệ tình dục để làm kỷ niệm.

Đến ngày 10/11/2022, chị H, trú tại tổ X, phường TH, thành phố Q (vợ H) biết việc H và Tr có tình cảm yêu đương với nhau nên đã yêu cầu H và Tr chấm dứt.

Sáng ngày 27/11/2022, H đến shop bán quần áo của VK trú tại tổ K, phường PT, thành phố Q (bạn H) nói với Ki là bản thân có tình cảm yêu đương với Tr và vợ chồng H hẹn gặp Tr để nói chuyện, nhờ Ki cùng một số bạn tư vấn giải quyết giúp, Ki đồng ý và tạo một nhóm chát kín trên ứng dụng tin nhắn Messenger, rồi thêm các thành viên vào nhóm gồm: (1) NHT, trú tại tổ 2, phường TH (nick facebook NHT), (2) NTMT trú tại tổ U, phường PT (nick facebook MTN), (3) HTH trú tại tổ TY, phường AT (nick facebook HTH), (4) CTH (nick facebook Th Th), (5) ĐHB cùng trú tại tổ U8, phường TQ, thành phố Q (nick facebook ĐHB), (6) BTNQ trú tại thôn By, xã TNM, huyện SY (nick facebook QL) và (7) TTH trú tại thôn I8, xã KP, thành phố Q (nick facebook HM), sau khi tạo nhóm xong, H nhắn tin trên nhóm nhờ mọi người đi cùng mình và vợ đến quán cafe M ở phố LL8, thành phố Q để gặp Tr nói chuyện.

Khoảng 10 giờ cùng ngày, H và vợ đến quán cafe M thì thấy Tr và NDH trú tại tổ 9E, phường TH, thành phố Q (bạn Tr) đã đến quán, sau đó cho Ki, Th, B, Th2, Q đến, quá trình nói chuyện H và Tr hứa chấm dứt chuyện tình cảm và không làm ảnh hưởng đến cuộc sống của nhau nữa, xong mọi người đi về. Đến tối cùng ngày vợ chồng H có mời mọi người trong nhóm đi ăn cơm để cảm ơn, sau khi ăn uống xong (khoảng 22 giờ) do H có uống rượu nên đã đăng tải một đoạn video clip quay cảnh H và Tr quan hệ tình dục với nhau (thời lương 31 giây) lên nhóm, mục đích khoe với nhóm là mình có tình cảm với Tr, sau khi đăng tải đoạn video clip lên nhóm một số thành viên nhóm có bình luận và đổi lại tên thành “Anh H nhiều điện nước”, sau đó H nghĩ làm thế thì ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của Tr nên đã thu hồi video clip trên. Ngày 28/11/2022, Ki thấy việc của H đã giải quyết xong nên giải tán nhóm.

Ngày 01/12/2022, Tr nhận được điện thoại từ NDH và rất nhiều điện thoại gọi đến hỏi về việc đoạn video clip quay cảnh quan hệ tình dục giữa H và Tr phát tán trên mạng xã hội, thấy sự việc nghiêm trọng ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của mình, cùng ngày Tr đã làm đơn trình báo sự việc với Công an huyện SY (kèm theo USB nhãn hiệu Kingston, loại 16gb, có chứa một đoạn video clip, thời lượng 31 giây).

Tại Kết luận giám định số 1545/KL-KTHS ngày 09/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q, kết luận: File video gửi giám định không bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung. Đặc điểm về người, đồ vật, diễn biến sự việc được mô tả chi tiết trong bản ảnh giám định kèm theo.

Tại các Kết luận giám định số 49, 65 ngày 19/01/2023; số 66 ngày 27/01/2023 và số 147, 204 ngày 30/01/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q, kết luận:

- Không tìm thấy dữ liệu tin nhắn trong các ứng dụng Zalo, Messenger có nội dung các video quay cảnh quan hệ tình dục của đôi nam nữ trong hai mẫu cần giám định (từ ngày 27/11/2022 đến ngày 02/12/2022).

- Do không ịnh tìm thấy dữ liệu video quay cảnh quan hệ tình dục của đôi nam nữ nên không có cơ sở xác đđược hai mẫu cần giám định có tải, nhận và gửi các video có nội dung quay cảnh quan hệ tình dục của đôi nam nữ trong hai mẫu cần giám định (từ ngày 27/11/2022 đến ngày 02/12/2022).

- Do không tìm thấy dữ liệu video quay cảnh quan hệ tình dục của đôi nam nữ nên không có cơ sở xác định được thời gian, địa chỉ (tên tài khoản) nhận, địa chỉ (tên tài khoản) gửi các video quay cảnh quan hệ tình dục của đôi nam nữ trong hai mẫu cần giám định (từ ngày 27/11/2022 đến ngày 02/12/2022).

Vật chứng tạm giữ, giao nộp gồm:

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu trắng đã qua sử dụng của TQH;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng đã qua sử dụng của VK;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs, màu vàng đã qua sử dụng của BTNQ;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen đã qua sử dụng của ĐHB;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng đã qua sử dụng của HTH;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu ghi đã qua sử dụng của CTH;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu ghi đã qua sử dụng của NHT;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu ghi đã qua sử dụng của NTMT.

Trong các ngày 20/01/2023 và ngày 01/02/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện SY đã trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng cho VK; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs, màu vàng cho BTNQ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen cho ĐHB; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu vàng cho HTH; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus, màu ghi cho CTH; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu ghi cho NHT và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu ghi cho NTMT là chủ sở hữu (tại các Quyết định số 02,03,04).

Quá trình điều tra, T.Q.H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Trên cơ sở hành vi của bị cáo, ngày 22/3/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện SY ban hành Cáo trạng số 23/CT-VKSYS truy tố đối bị cáo T.Q.H về tội Làm nhục người khác, theo quy định tại điểm e, khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

- Tuyên bố: Bị cáo T.Q.H phạm tội Làm nhục người khác.

- Áp dụng điểm e, khoản 2 Điều 155; điểm i, s, khoản 1, Điều 51; Điều 65 BLHS: Xử phạt T.Q.H từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thử thách từ 12 đến 18 tháng hạn thử thách tính từ ngày tuyên án.

- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu bồi thường gì nên không đề nghị xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) USB màu đen, nhãn hiệu Kingston, loại 16GB, chứa 01 đoạn video thời lượng 31 giây.

- Tịch thu bán sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, vỏ màu trắng số IMEL: 352896111532128; số IMEL 2: 352896111613449, máy cũ đã qua sử dụng.

- Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136; Điều 331; Điều 333 BLTTHS, Nghị Quyết 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016. Bị cáo T.Q.H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể tư ngày tuyên án sơ thẩm, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bị cáo không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng bị cáo có ý kiến do nhận thức pháp luật còn hạn chế nên bị cáo đã phạm tội, sau khi phạm tội bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi của mình và nhận thức được hành vi của bị cáo là sai và vi phạm pháp luật, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn hiện có ba con còn nhỏ trong đó 02 cháu sinh năm 2019, 01 cháu sinh năm 2022 bị cáo từ trước đến nay chưa vi phạm pháp luật bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo địa phương để có cơ hội sửa chữa và chăm sóc các con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi của bị cáo:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận giám định vật chứng thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để kết luận:

Ngày 27/11/2022, T.Q.H trú tại tổ dân phố BM, thị trấn TY, huyện YH đã có hành vi đăng tải đoạn video quay cảnh quan hệ tình dục giữa H và CPC (trú tại thôn 17, xã TNM, huyện SY) lên nhóm chát Messenger (08 người, do VK lập nhóm) mục đích để khoe với nhóm là mình có tình cảm với Tr, sau đó H đã thu hồi đoạn video. Ngày 28/11/2022, VK đã giải tán nhóm.

Ngày 01/12/2022, tại xã TNM, huyện SY, CPC đã làm đơn tố cáo T.Q.H có hành vi làm nhục người khác trên không gian mạng.

Hành vi của bị cáo T.Q.H đã phạm tội làm nhục người khác, theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 155 Bộ luật Hình sự

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến thuần phong, mỹ tục của dân tộc. Bị cáo nhận thức rõ việc đăng đoạn video quay cảnh quan hệ tình dục giữa bị cáo và bị hại lên nhóm chát Messenger là hành vi xâm phạm về danh dự, nhân phẩm của bị hại làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín của bị hại nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Làm nhục người khác được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự, Viện kiểm sát nhân dân huyện SY truy tố bị cáo bị cáo về tội danh, điều luật là đúng người đúng tội. Do vậy, cần xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự và có mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo để dăn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo HĐXX xét thấy:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; được quy định tại điểm i, điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt chính đối với bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần này là lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng điều 65 BLHS về án treo thì bị cáo đủ điều kiện để HĐXX cho hưởng án treo là phù hợp.

. Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 (một) USB màu đen, nhãn hiệu Kingston, loại 16GB, chứa 01 đoạn video thời lượng 31 giây vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ là phù hợp; đối với vật chứng là 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, vỏ màu trắng số IMEL: 352896111532128; số IMEL 2: 352896111613449, máy cũ đã qua sử dụng, là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, hiện vẫn còn giá trị sử dụng nên tịch thu bán sung quỹ nhà nước là phù hợp.

. Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[7]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện SY, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện SY, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[8]. Về nội dung khác:

- Đối với NHT, NTMT, BTNQ, CTH, HTH, ĐHB và VK, quá trình điều tra những người này khẳng định chỉ có H gửi đoạn video quay cảnh quan hệ tình dục lên nhóm vào đêm ngày 27/11/2022, tuy nhiên những người này chỉ xem và bình luận trên nhóm, không phát tán, gửi và chia sẻ video...nên không đề cập xử lý.

- Đối với TTH, hiện nay không có mặt tại địa phương (đi xuất khẩu lao động), khi nào H về cơ quan điều tra sẽ xác minh làm rõ sau.

- Đối với tài khoản facebook và zalo có nick “Ph Ph” là tài khoản đăng tải đoạn video quay cảnh quan hệ tình dục giữa H và Tr lên mạng xã hội, Cơ quan điều tra Công an huyện SY đã tiến hành làm việc với STP, sinh năm 1996 trú tại thôn TH, xã CS, huyện SY, quá trình làm việc Ph trình bày tài khoản facebook và zalo có nick “Ph Ph” là của Ph sử dụng, tuy nhiên đến đầu tháng 11/2022 thì tài khoản bị lấy trộm (hach), nên Ph không sử dụng nữa, không biết ai sử dụng để đăng tải video nêu trên lên mạng xã hội. Nên Cơ quan điều tra Công an huyện SY tách ra tiếp tục xác minh làm rõ sau.

Do vậy Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm e, khoản 2 Điều 155, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

- Tuyên bố: Bị cáo T.Q.H phạm tội Làm nhục người khác;

- Xử phạt bị cáo T.Q.H 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 01 năm 02 tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/4/2023).

* Giao bị cáo T.Q.H cho Uỷ ban nhân dân thị trấn TY, huyện YH, tỉnh Q giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

* Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

* Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Căn cứ các Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí, lệ phí của Toà án:

- Bị cáo T.Q.H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Q;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh Q;

- VKSND huyện SY;

- Bị cáo; bị hại.

- CQCSĐT Công an huyện SY;

- Chi cục THADS huyện SY;

- Sở Tư pháp Q;

- UBND TT TY, huyện YH;

- Hồ sơ vụ án hình sự;

- Thi hành án hình sự;

Nguyễn Xuân Thuỷ

- Lưu.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Vinh - Phạm Tiến Hào

Nguyễn Xuân Thủy Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Q;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh Q;

- VKSND huyện SY;

- Bị cáo; bị hại.

- CQCSĐT Công an huyện SY;

- Chi cục THADS huyện SY;

- Sở Tư pháp Q;

- UBND phường TH, TP. Q

- Hồ sơ vụ án hình sự;

- Thi hành án hình sự;

Nguyễn Xuân Thuỷ

- Lưu.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Vinh - Phạm Tiến Hào

Nguyễn Xuân Thủy Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Q;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh Q;

- VKSND huyện SY;

- Bị cáo; bị hại.

- CQCSĐT Công an huyện SY;

- Chi cục THADS huyện SY;

- Sở Tư pháp Q;

- UBND phường TH, TP. Q

- Hồ sơ vụ án hình sự;

- Thi hành án hình sự;

Nguyễn Xuân Thuỷ

- Lưu.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Vinh - Lộc Thị Ki Thơm

Nguyễn Xuân Thủy

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Vinh – Hoàng Trung Hiếu

Nguyễn Xuân Thủy Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Q;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh Q;

- VKSND huyện SY;

- Bị cáo; Người tham gia TT;

- CQCSĐT Công an huyện SY;

- Chi cục THADS huyện SY;

- Sở Tư pháp Q;

- UBND xã Tiến Bộ, huyện SY;

Nguyễn Xuân Thủy

- Hồ sơ vụ án hình sự;

- Thi hành án hình sự;

- Lưu.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Vinh – Nguyễn Thu Hà

Nguyễn Xuân Thủy Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Q;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh Q;

- VKSND huyện SY;

- Bị cáo; Người tham gia TT;

- CQCSĐT Công an huyện SY;

- Chi cục THADS huyện SY;

- Sở Tư pháp Q;

- UBND xã Tiến Bộ, huyện SY;

Nguyễn Xuân Thủy

- Hồ sơ vụ án hình sự;

- Thi hành án hình sự;

- Lưu.

Cỡ chữ