vanban.org

Bản án 29/2023/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Long An Tuyên án 20/06/2023 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/06/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.

Sửa một phần Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 39/2023/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An về cách tuyên án về phần tài sản chung và nợ chung. Không giải quyết phần tài sản chung và nợ chung của bà Nguyễn Huỳnh Anh T và ông Phạm Thành L do các đương sự… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 39/2023/HNGĐ-ST Tuyên án 22/02/2023
Phúc thẩm — đang xem Bản án 29/2023/HNGĐ-PT Tuyên án 20/06/2023

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Huỳnh Anh T "Ly hôn" Phạm Thành L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.
  • Căn cứ chính? Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 29/2023/HNGĐ-PT
Ngày: 20-6-2023
Về việc ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Ngọc Hoàng Đình Thục

Các Thẩm phán:

bà Trịnh Thị Phúc

bà Lê Thị Bích Tuyền

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mỹ Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Cẩm Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2023/TLPT-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2023 về việc “Ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 39/2023/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An bị kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2023/QĐ-PT ngày 17 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Nguyễn Huỳnh Anh T, sinh năm 1999; địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: ông Phạm Thành L, sinh năm 1999; địa chỉ: ấp H, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.

- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 21/12/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, nguyên đơn, bà Nguyễn Huỳnh Anh T trình bày:

Bà và ông Phạm Thành L chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang vào ngày 28/8/2019. Sau khi kết hôn, thời gian đầu bà và ông L sống hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân không hợp nhau. Từ tháng 04/2022 cho đến nay, bà và ông L không còn sống chung, do cả hai không có thiện chí hàn gắn nên bà kiên quyết ly hôn với ông L.

Bà và ông L có hai con chung tên Phạm Quốc B, sinh ngày 21/8/2017 và Phạm Ngọc Y sinh ngày 06/8/2021, hai con đang sống chung với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi hai con, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn, ông Phạm Thành L đã được Tòa án cấp sơ thẩm triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến gì về việc giải quyết vụ án gửi cho Tòa án.

Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 39/2023/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đã xử:

1. Về hôn nhân: bà Nguyễn Huỳnh Anh T được ly hôn với ông Phạm Thành L

2. Về con chung: bà Nguyễn Huỳnh Anh T được tiếp tục nuôi con chung tên Phạm Quốc B, sinh ngày 21/8/2017 và Phạm Ngọc Y, sinh ngày 06/8/2021. Ông L không phải cấp dưỡng nuôi con vì bà T không yêu cầu. Vì quyền lợi của trẻ, ông L được quyền đến thăm nom chăm sóc giáo dục con chung không ai có quyền ngăn cản. Khi cần thiết các đương sự có quyền xin thay đổi tình trạng nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản: không có

4. Về nợ chung: không có

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền và thời hạn kháng cáo của các đương sự, việc thi hành án theo quy định của pháp luật.

Tại Quyết định kháng nghị số 44/QĐ-VKS-DS ngày 29/3/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An đề nghị sửa một phần bản án sơ thẩm về tài sản chung và nợ chung.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn, bà Nguyễn Huỳnh Anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do; bị đơn, ông Phạm Thành L có đơn xin xét xử vắng mặt.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An đủ điều kiện để xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung kháng nghị: Kiểm sát viên giữ nguyên kháng nghị, đề nghị Hội đồng xét xử sửa một phần của bản án sơ thẩm về cách tuyên án về phần tài sản chung và nợ chung vì vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện của đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An thực hiện đúng theo quy định tại Điều 278, Điều 279 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc vắng mặt của nguyên đơn, bà Nguyễn Huỳnh Anh T và bị đơn, ông Phạm Thành L thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Tòa án vẫn xét xử phúc thẩm vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Kiểm sát viên giữ nguyên kháng nghị về phần tài sản chung và nợ chung của bản án sơ thẩm. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét lại hai phần nội dung này của bản án sơ thẩm.

Hồ sơ vụ án thể hiện, theo đơn khởi kiện ghi ngày 21/12/2022, bà Nguyễn Huỳnh Anh T xác định về tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết (bút lục số 17). Tại phần quyết định của bản án sơ thẩm đã tuyên xử về tài sản chung và nợ chung của bà T và ông L không có, là vượt quá phạm vi đơn khởi kiện của bà T theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự; đồng thời sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thực hiện quyền tố tụng của đương sự khác trong trường hợp phát sinh tranh chấp về nợ (nếu có), theo điểm c khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An là có căn cứ. Lẽ ra, trong trường hợp này, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ cần nhận định về việc các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ, không ghi trong phần quyết định của bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, do Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử, nên cần sửa cách tuyên án phần này của bản án sơ thẩm, không giải quyết phần tài sản chung và nợ chung.

Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An.

3. Sửa một phần Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 39/2023/HNGĐ-ST ngày 22 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An về cách tuyên án về phần tài sản chung và nợ chung.

4. Không giải quyết phần tài sản chung và nợ chung của bà Nguyễn Huỳnh Anh T và ông Phạm Thành L do các đương sự không có yêu cầu khởi kiện.

5. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ